Tóm tắt
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần hình thành các công cụ quản lý như điều tra cơ bản, quản lý vùng bờ, hành lang bảo vệ bờ biển, kiểm soát ô nhiễm, nhận chìm ở biển, quan trắc, giám sát tổng hợp, cơ sở dữ liệu và hợp tác quốc tế về biển. Tuy nhiên, sau gần một thập niên thi hành, bối cảnh phát triển kinh tế biển, yêu cầu quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, chuyển đổi số và nội luật hóa các cam kết quốc tế đã đặt ra nhiều yêu cầu mới. Một số quy định của Luật năm 2015 chưa theo kịp sự phát triển của các ngành kinh tế biển mới, chưa tạo đầy đủ cơ sở pháp lý cho quản lý, sử dụng không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, kiểm soát ô nhiễm biển đặc thù, dữ liệu biển và điều phối liên ngành, liên vùng. Bài viết phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung Luật; từ đó khẳng định đây là yêu cầu khách quan, cấp bách nhằm hoàn thiện thể chế quản trị biển hiện đại, khai thác hiệu quả không gian và tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển bền vững.
Từ khóa: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quản lý tổng hợp biển; không gian biển; tài nguyên biển; môi trường biển; kinh tế biển bền vững; quản trị biển.
Theoretical and Practical Foundations for the Necessity of Amending and Supplementing the Law on Marine and Island Resources and Environment
Abstract
The 2015 Law on Marine and Island Resources and Environment established an important legal framework for integrated marine resource management and marine environmental protection in Viet Nam. After nearly a decade of implementation, rapid marine economic development, marine spatial governance, environmental protection, ecosystem conservation, digital transformation and international commitments have generated new legal and policy requirements. Several provisions of the 2015 Law have not provided a sufficient basis for marine spatial management, rights to use sea areas, specific marine pollution control, marine data governance and inter-sectoral coordination. This article analyzes the political, legal, theoretical and practical foundations for amending the Law, affirming that such amendment is an urgent requirement for modern ocean governance and sustainable marine economic development.
Keywords: Law on Marine and Island Resources and Environment; integrated marine management; marine space; marine resources; marine environment; sustainable marine economy; ocean governance.
JEL Classifications: O13, P18, P48, Q53.
1. Đặt vấn đề
Thế kỷ XXI được nhìn nhận là thế kỷ của đại dương. Đối với các quốc gia ven biển, biển là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao thương, địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh và không gian phát triển để tạo lập động lực tăng trưởng mới. Đối với Việt Nam, biển và hải đảo có vị trí đặc biệt trong lịch sử dựng nước, giữ nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Việt Nam có vùng biển rộng khoảng 1 triệu km², đường bờ biển dài trên 3.260 km, hệ thống đảo, quần đảo, cửa sông và vùng bờ đa dạng, tạo nên không gian phát triển có giá trị đặc biệt về sinh thái, kinh tế, hàng hải, văn hóa và quốc phòng, an ninh.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Luật tạo nền tảng cho điều tra cơ bản; chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên; quản lý vùng bờ; hành lang bảo vệ bờ biển; kiểm soát ô nhiễm; nhận chìm ở biển; quan trắc, giám sát tổng hợp; cơ sở dữ liệu và hợp tác quốc tế. Sau khi Luật được ban hành, hệ thống nghị định, quyết định, thông tư và văn bản triển khai tại địa phương từng bước được hình thành, hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đã vượt ra ngoài nhiều giả định ban đầu của Luật năm 2015. Kinh tế biển chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên truyền thống sang phát triển không gian biển đa mục tiêu, đa ngành, đa chủ thể. Các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, logistics biển, hạ tầng biển, công trình ngoài khơi và dịch vụ hệ sinh thái biển đặt ra yêu cầu mới về phân bổ, điều phối và kiểm soát không gian biển. Đồng thời, ô nhiễm môi trường biển, rác thải nhựa đại dương, suy thoái đa dạng sinh học, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, nước biển dâng và xung đột sử dụng biển ngày càng gia tăng.
Vì vậy, sửa đổi, bổ sung Luật không chỉ là yêu cầu kỹ thuật để khắc phục bất cập, mà là yêu cầu hoàn thiện thể chế nền tảng cho quản trị biển hiện đại. Đó là chuyển từ quản lý theo nội dung riêng lẻ sang quản trị không gian biển tổng hợp; từ quản lý hành chính sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu, tiêu chuẩn, công cụ kinh tế và phối hợp liên ngành; từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ nguồn; từ khai thác tài nguyên sang sử dụng tổng hợp, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững không gian, tài nguyên biển.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc sửa đổi, bổ sung Luật
Việc sửa đổi, bổ sung Luật có cơ sở chính trị rõ ràng từ các chủ trương lớn của Đảng về hoàn thiện thể chế, phát triển bền vững kinh tế biển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên biển, đảo. Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với chuẩn mực luật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết số 66-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, hoàn thiện thể chế và coi xây dựng pháp luật là động lực phát triển. Đây là cơ sở để nhìn nhận Luật sửa đổi không chỉ là đạo luật quản lý chuyên ngành, mà còn là công cụ pháp lý mở đường cho các ngành kinh tế biển mới, kiểm soát rủi ro môi trường và bảo đảm lợi ích quốc gia.
Nghị quyết số 79-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Kết luận số 18-KL/TW cũng đặt ra yêu cầu quản lý tập trung, liên ngành đối với tài nguyên biển, phát triển năng lượng sạch từ biển, xây dựng dữ liệu biển, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn thể chế để phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Về cơ sở pháp lý, nhiều đạo luật liên quan đến biển, đảo, tài nguyên, môi trường, đầu tư, quy hoạch, dầu khí, điện lực, phòng thủ dân sự, đất đai, khoáng sản và tổ chức chính quyền địa phương đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Trong khi đó, Luật năm 2015 chưa được sửa đổi toàn diện để bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật mới. Đồng thời, yêu cầu nội luật hóa các điều ước quốc tế liên quan đến biển ngày càng lớn. Ngoài UNCLOS, các cam kết như Hiệp định BBNJ, Công ước BWM, SDG 14, giảm phát thải, kiểm soát rác thải nhựa và bảo tồn đa dạng sinh học biển đều đặt ra yêu cầu cập nhật pháp luật quốc gia.
3. Cơ sở lý luận của việc sửa đổi, bổ sung Luật
Về lý luận, quản lý biển hiện đại phải dựa trên quản lý tổng hợp, tiếp cận hệ sinh thái và quản trị không gian. Biển là một chỉnh thể thống nhất, trong đó tài nguyên, môi trường, sinh thái, kinh tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, năng lượng, thủy sản, du lịch và văn hóa biển có quan hệ mật thiết. Một hoạt động trên biển có thể đồng thời tạo lợi ích kinh tế, tác động đến môi trường, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, sinh kế cộng đồng và phát sinh xung đột với hoạt động khác. Do đó, pháp luật về biển không thể chỉ tiếp cận theo từng ngành đơn lẻ, mà phải thiết kế công cụ điều phối tổng hợp, liên ngành, liên vùng và liên cấp.
Quản lý tổng hợp tài nguyên biển nhằm điều hòa các lợi ích khác nhau trong khai thác, sử dụng biển, bảo đảm phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương và duy trì chức năng sinh thái của biển. Nếu thiếu công cụ quản lý tổng hợp, biển dễ bị chia cắt theo ngành, địa giới hành chính, dự án và mục tiêu ngắn hạn, dẫn đến chồng lấn không gian, cạnh tranh sử dụng biển, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, gia tăng chi phí xã hội và giảm hiệu quả khai thác tổng thể.
Quản trị biển hiện đại cũng phải dựa trên quy hoạch không gian biển và phân vùng sử dụng không gian biển. Khi biển trở thành không gian phát triển của hàng hải, thủy sản, dầu khí, du lịch, năng lượng tái tạo, bảo tồn, quốc phòng, an ninh và nghiên cứu khoa học, phân bổ không gian biển hợp lý, minh bạch, ổn định là yêu cầu cốt lõi. Quy hoạch không gian biển không chỉ định hướng phát triển, mà còn là căn cứ giao, cho thuê, cho phép sử dụng khu vực biển; xử lý chồng lấn; bảo vệ khu vực nhạy cảm sinh thái; bảo đảm an toàn hàng hải, quốc phòng, an ninh và tạo niềm tin pháp lý cho nhà đầu tư.
Quyền sử dụng khu vực biển cần được nhận diện như một chế định pháp lý độc lập, có giá trị kinh tế, nhưng phải được kiểm soát bởi lợi ích công, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Các dự án điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, hạ tầng cảng biển, công trình ngoài khơi, tuyến ống, cáp ngầm và mô hình sử dụng không gian biển đa mục tiêu đều đòi hỏi sự ổn định pháp lý dài hạn. Nhà đầu tư cần biết rõ quyền, nghĩa vụ, điều kiện chuyển mục đích, chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại quyền sử dụng khu vực biển; còn Nhà nước cần cơ chế kiểm soát để không ảnh hưởng đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh, môi trường và lợi ích công cộng.
Bảo vệ môi trường biển trong giai đoạn mới phải chuyển từ tư duy xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa, kiểm soát rủi ro và phục hồi hệ sinh thái. Biển là môi trường mở, chịu tác động đồng thời từ đất liền, tàu thuyền, nhận chìm, khai thác tài nguyên, công trình ngoài khơi và các hoạt động xuyên biên giới. Vì vậy, kiểm soát ô nhiễm không thể chỉ dựa vào xử phạt sau vi phạm, mà phải dựa trên đánh giá rủi ro, quan trắc, cảnh báo sớm, kiểm soát nguồn thải từ đất liền ra biển, kiểm soát rác thải nhựa biển, kiểm soát hoạt động trên biển và cơ chế trách nhiệm bồi thường, phục hồi môi trường.
Cuối cùng, quản trị biển trong kỷ nguyên mới phải dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Dữ liệu biển là nền tảng để lập quy hoạch, cấp phép, giám sát, kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, xử lý xung đột không gian biển và bảo vệ chủ quyền. Luật sửa đổi cần tạo cơ sở pháp lý cho cơ sở dữ liệu biển, nền tảng số, chia sẻ dữ liệu, quan trắc thông minh, giấy phép điện tử, hồ sơ hải chính và các công cụ quản trị hiện đại.
4. Cơ sở thực tiễn từ kết quả thi hành Luật năm 2015
Sau gần 10 năm thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Luật xác lập khuôn khổ pháp lý chuyên ngành về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần nâng cao nhận thức và từng bước hình thành công cụ điều phối liên ngành, liên vùng. Một số công cụ quản lý đã phát huy tác dụng như hành lang bảo vệ bờ biển, chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, điều tra cơ bản, quan trắc, cơ sở dữ liệu, nhận chìm ở biển, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.
Đối với hành lang bảo vệ bờ biển, hầu hết địa phương ven biển đã phê duyệt danh mục khu vực phải thiết lập hành lang; nhiều địa phương đã phê duyệt chiều rộng, ranh giới và cắm mốc giới. Khoảng hơn 560 khu vực ven biển, hải đảo được thiết lập hành lang với tổng số gần 1.700 km, tương đương khoảng 50% chiều dài bờ biển, góp phần bảo vệ vùng bờ, bảo đảm quyền tiếp cận biển và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Trước hết, khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa đủ mạnh, đủ mở và đủ linh hoạt để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển mới, các dự án quy mô lớn, mô hình đầu tư đa mục tiêu, hạ tầng dùng chung, hạ tầng lưỡng dụng và các hoạt động khai thác, sử dụng không gian biển có giá trị gia tăng cao. Pháp luật về quản lý, sử dụng không gian biển còn chưa đầy đủ. Dù Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được phê duyệt, Luật hiện hành chưa tạo đủ cơ sở pháp lý để phân bổ, điều phối, kiểm soát không gian biển giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương; chưa có cơ chế rõ ràng để xử lý xung đột, chồng lấn; chưa bảo đảm đầy đủ sự ổn định, minh bạch và an toàn pháp lý cho đầu tư trên biển.
Chế độ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển chưa hoàn thiện. Luật hiện hành mới tập trung vào giao khu vực biển, trong khi các quyền tài sản như chuyển mục đích, chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển chưa được thiết kế thành chế định đầy đủ. Điều này hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội, làm giảm tính hấp dẫn của đầu tư dài hạn trên biển, nhất là đối với dự án quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài và yêu cầu công nghệ cao.
Quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển chưa bao quát đầy đủ các vấn đề mới như rác thải biển, rác thải nhựa biển, ô nhiễm từ hoạt động trên biển, nhận chìm, công trình ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới. Quy định về quan trắc, giám sát tổng hợp, hành lang bảo vệ bờ biển và cấp phép nghiên cứu khoa học cho tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng cần được rà soát, hoàn thiện để phù hợp thực tiễn và hệ thống pháp luật mới.
5. Yêu cầu đặt ra đối với Luật sửa đổi
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, Luật sửa đổi cần được thiết kế theo hướng hiện đại, tích hợp, mở, linh hoạt nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ lợi ích công, quốc phòng, an ninh, môi trường và chủ quyền quốc gia. Trọng tâm của Luật sửa đổi không chỉ là khắc phục bất cập của Luật năm 2015, mà còn tạo lập khung pháp lý đủ năng lực dẫn dắt phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.

Trước hết, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển. Luật cần quy định rõ nguyên tắc sử dụng không gian biển đa mục tiêu, tiết kiệm, hiệu quả; cơ chế phân bổ, điều phối, kiểm soát không gian biển theo Quy hoạch không gian biển quốc gia; tiêu chí xử lý xung đột, chồng lấn; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; trách nhiệm giữa trung ương và địa phương; yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển.
Hai là, cần hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển. Luật cần xác lập rõ quyền sử dụng khu vực biển như một quyền pháp lý được Nhà nước công nhận trong phạm vi, thời hạn, mục đích và điều kiện nhất định; đồng thời quy định về giao, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng, chuyển nhượng, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển trong điều kiện chặt chẽ, minh bạch, phòng ngừa đầu cơ, sử dụng sai mục đích, xâm hại môi trường, quốc phòng, an ninh và lợi ích công cộng.
Ba là, cần hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo theo hướng phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ nguồn. Luật cần làm rõ cơ chế kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển, từ sông ra biển, từ hoạt động trên biển, nhận chìm, tàu thuyền, công trình ngoài khơi, khai thác tài nguyên biển và hoạt động kinh tế biển mới; đồng thời quy định đặc thù về rác thải biển, rác thải nhựa biển, quan trắc, cảnh báo, chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cơ chế phối hợp với Luật Bảo vệ môi trường.
Bốn là, cần tăng cường cơ sở pháp lý cho điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản trị biển. Dữ liệu tài nguyên, môi trường biển cần được coi là hạ tầng thiết yếu phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường, bảo tồn sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền. Luật cần thúc đẩy cơ sở dữ liệu biển thống nhất, kết nối, chia sẻ; ứng dụng công nghệ số, viễn thám, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mô hình hóa; tạo điều kiện cho hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển.
Năm là, cần bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Luật không nên lặp lại các quy định chung đã được điều chỉnh bởi Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Địa chất và Khoáng sản, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Phòng thủ dân sự và các luật chuyên ngành khác; mà tập trung vào những vấn đề đặc thù của biển như quản lý tổng hợp, điều phối không gian, quyền sử dụng khu vực biển, kiểm soát ô nhiễm biển đặc thù, dữ liệu biển, hợp tác quốc tế và cơ chế bảo đảm thực thi.
Sáu là, cần gắn sửa đổi Luật với phân cấp, phân quyền và nâng cao năng lực thực thi ở địa phương ven biển. Luật sửa đổi không nhất thiết làm phát sinh tổ chức bộ máy mới, nhưng sẽ làm tăng yêu cầu về năng lực chuyên môn, công nghệ, dữ liệu và phối hợp liên ngành. Do đó, cần tăng cường nguồn lực, đào tạo, ứng dụng công nghệ số và đầu tư trang thiết bị cho thực thi chính sách.
6. Kết luận
Sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược. Về lý luận, yêu cầu này xuất phát từ chuyển đổi mô hình quản trị biển hiện đại: từ quản lý tài nguyên đơn ngành sang quản lý tổng hợp; từ quản lý vùng biển theo hoạt động riêng lẻ sang quản trị không gian biển đa mục tiêu; từ khai thác tài nguyên sang sử dụng bền vững không gian và hệ sinh thái biển; từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa, kiểm soát rủi ro và phục hồi môi trường; từ quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Về thực tiễn, sau gần 10 năm thi hành, Luật năm 2015 đã tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng nhưng nhiều quy định đã bộc lộ hạn chế trước sự phát triển nhanh của kinh tế biển, gia tăng xung đột không gian, áp lực ô nhiễm, suy thoái hệ sinh thái, biến đổi khí hậu và sự thay đổi của hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi Luật vì vậy nhằm khắc phục điểm nghẽn hiện hành và tạo khuôn khổ thể chế mới cho quản trị biển hiện đại, hiệu quả, minh bạch.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi cần được đặt ở vị trí là đạo luật nền tảng về quản trị biển. Đạo luật này cần kế thừa kết quả tích cực của Luật năm 2015, đồng thời bổ sung cơ chế mới về quản lý, sử dụng không gian biển; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý biển. Đây là điều kiện quan trọng để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển, đồng thời bảo vệ tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
Nguyễn Thanh Tùng1 - Phó Cục trưởng
Phạm Thị Gấm1
1Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Tài liệu tham khảo
- Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
- Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030.
- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.
- Luật BVMT năm 2020.
- Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.