Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích dòng chảy vật chất (MFA) để phân tích dòng chảy chất thải điện tử gia dụng tại TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở khảo sát 218 hộ gia đình, cơ sở sửa chữa và cơ sở thu mua phế liệu trong năm 2025. Kết quả cho thấy tổng lượng chất thải điện tử gia dụng phát sinh ước tính đạt 100.802 tấn/năm, tương ứng hệ số phát sinh trung bình khoảng 36,97 kg/hộ/năm. Trong đó, 39,24% được sửa chữa, tái sử dụng; 42,09% đi vào tái chế; 10,61% bị thải bỏ theo rác sinh hoạt; phần còn lại chủ yếu được lưu giữ. Kết quả MFA cũng cho thấy dòng chất thải này vẫn chủ yếu đi qua khu vực phi chính thức, làm gia tăng nguy cơ thất thoát tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng quản lý nhằm tăng cường thu gom chính thức và nâng cao hiệu quả tái chế, xử lý.
Từ khóa: Chất thải điện tử gia dụng; MFA; mô hình 3T.
Ngày nhận bài: 11/5/2026. Ngày sửa chữa: 1/6/2026. Ngày duyệt đăng: 15/6/2026.
ANALYSIS OF HOUSEHOLD ELECTRONIC WASTE FLOWS IN HO CHI MINH CITY USING MATERIAL FLOW ANALYSIS (MFA)
Abstract
This study applied Material Flow Analysis (MFA) to analyze the flow of household electronic waste in Ho Chi Minh City based on surveys of 218 households, repair shops, and scrap collection facilities in 2025. The results showed that the total amount of household electronic waste generated was estimated at 100,802 tons per year, corresponding to an average generation rate of 36.97 kg/household/year. Of this amount, 39.24% was repaired and reused, 42.09% entered recycling channels, 10.61% was discarded with municipal solid waste, and the remainder was mainly stored. The MFA results also showed that this waste stream still mainly passed through the informal sector, increasing the risk of resource loss and environmental pollution. Based on these findings, the study proposes several management directions to strengthen formal collection and improve recycling and treatment efficiency.
Keywords: WEEE; MFA; 3T model.
JEL Classifications: O13, Q52, Q53, Q55, Q56.
1. GIỚI THIỆU
Cùng với quá trình đô thị hóa, chuyển đổi số và gia tăng mức sống, nhu cầu sử dụng thiết bị điện, điện tử trong đời sống gia đình ngày càng tăng, kéo theo lượng chất thải điện tử phát sinh ngày càng lớn. Theo The Global E-waste Monitor 2024, năm 2022 thế giới phát sinh khoảng 62 triệu tấn chất thải điện tử, nhưng chỉ khoảng 22,3% được ghi nhận là đã được thu gom và tái chế chính thức (UNITAR & ITU, 2024). Chất thải điện tử không chỉ chứa các vật liệu có giá trị như kim loại, nhựa, thủy tinh mà còn có thể chứa các thành phần nguy hại như chì, thủy ngân, cadimi và các hợp chất chống cháy brom hóa, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nếu không được quản lý phù hợp (WHO, 2021).
Phân tích dòng chảy vật chất (Material Flow Analysis - MFA) là công cụ được sử dụng để lượng hóa và theo dõi dòng vật chất trong hệ thống quản lý chất thải điện tử. Các nghiên cứu trước đây cho thấy MFA giúp nhận diện các dòng đã được kiểm soát và chưa được kiểm soát, qua đó hỗ trợ xây dựng chính sách thu gom, tái chế, xử lý phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh triển khai trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn (Lau, W. K. Y., Chung, S. S., & Zhang, C, 2013; Huda & Islam, 2019).
Tại Việt Nam, lượng chất thải điện tử phát sinh có xu hướng gia tăng nhanh. Một số thống kê cho thấy mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 100.000 tấn chất thải điện tử, và con số này từng được dự báo có thể tăng lên khoảng 250.000 tấn vào năm 2025 đối với một số nhóm thiết bị như tivi và linh kiện điện tử (Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường, 2020). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước cho thấy phần lớn thiết bị điện tử thải bỏ từ hộ gia đình vẫn được bán cho đồng nát, sửa chữa để dùng lại hoặc chuyển vào các kênh thu gom phi chính thức thay vì đi vào hệ thống thu gom chính quy (Giao, N. T, 2021). Nghiên cứu của Trần Hà Phương năm 2018 về chất thải tivi tại khu vực đô thị Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ tái sử dụng, sửa chữa và thải bỏ qua các kênh khác nhau còn khá phân tán, phản ánh vai trò lớn của khu vực phi chính thức trong dòng chất thải điện tử (Phương, 2018).
TP. Hồ Chí Minh là đô thị lớn, có quy mô dân số cao, mức tiêu dùng thiết bị điện tử lớn và tốc độ thay thế thiết bị ngày càng nhanh. Theo số liệu năm 2024, thành phố có khoảng 9,54 triệu người và 2.726.751 hộ gia đình (Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2024), là một trong những địa bàn có tiềm năng phát sinh chất thải điện tử gia dụng lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, công tác thống kê, theo dõi và quản lý dòng chất thải điện tử trên địa bàn vẫn còn hạn chế; phần lớn chất thải điện tử chưa đi vào hệ thống thu gom chính thức mà chủ yếu chuyển qua người thu gom ve chai, cơ sở sửa chữa và cơ sở thu mua phế liệu. Trong khi đó, trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 1.000 cơ sở tái chế chất thải đang hoạt động, phần lớn có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, hơn 90% không có hệ thống xử lý nước thải và khoảng 80% không có hệ thống xử lý khí thải, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường (UBND TP.HCM, 2025).
Mặc dù đã có một số nghiên cứu về chất thải điện tử tại Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng MFA cho nhóm chất thải điện tử gia dụng ở quy mô đô thị, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu này áp dụng phương pháp MFA kết hợp GIS nhằm phân tích quy mô phát sinh, dòng chảy và phân bố không gian của chất thải điện tử gia dụng tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ định hướng thu gom, tái chế, xử lý và triển khai EPR đối với chất thải điện tử tại địa phương.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là dòng thiết bị điện, điện tử gia dụng sau sử dụng phát sinh từ hộ gia đình trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu này, WEEE được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các thiết bị hư hỏng, lỗi thời, không còn nhu cầu sử dụng, thiết bị còn lưu giữ tại hộ gia đình, thiết bị được bán, cho, chuyển đến cơ sở sửa chữa, cơ sở thu mua phế liệu hoặc bị thải bỏ cùng rác sinh hoạt. Nhóm thiết bị khảo sát gồm: điện thoại di động, máy tính xách tay, máy vi tính để bàn, tivi, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt và nồi cơm điện.
Phạm vi không gian là TP. Hồ Chí Minh theo địa giới hành chính cũ, trước khi sắp xếp theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, chưa bao gồm Bình Dương cũ và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ. Phạm vi thời gian nghiên cứu là năm 2025, với dữ liệu được thu thập từ khảo sát hộ gia đình, cơ sở sửa chữa, cơ sở thu mua phế liệu và các nguồn số liệu thứ cấp có liên quan.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Tổng hợp tài liệu, báo cáo, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về WEEE, MFA, EPR và quản lý chất thải điện tử.
- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực địa: Khảo sát hộ gia đình là nguồn dữ liệu chính để tính hệ số phát sinh WEEE. Khảo sát cơ sở sửa chữa và cơ sở thu mua phế liệu được thực hiện theo mẫu mục đích, với số lượng tương đối, do nhóm cơ sở này phân tán, biến động và chưa có danh sách thống kê đầy đủ. Dữ liệu từ nhóm cơ sở này được dùng làm thông tin bổ trợ để nhận diện hướng dịch chuyển của WEEE sau khi rời hộ gia đình, không dùng để ngoại suy độc lập cho toàn bộ khu vực phi chính thức.
- Phương pháp chọn mẫu hộ gia đình: Cỡ mẫu được xác định theo công thức Yamane:

Trong đó: n là cỡ mẫu; N là tổng số hộ gia đình; e là sai số cho phép. Với N = 2.726.751 hộ, ban đầu nghiên cứu thiết kế mẫu theo sai số 5%, tương ứng khoảng 399 hộ. Sau điều tra, kiểm tra và làm sạch dữ liệu, còn 218 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích. Đối chiếu lại theo công thức Yamane, cỡ mẫu 218 hộ tương ứng sai số khoảng 6,8%.
- Phương pháp phân bố mẫu: Các quận/huyện của TP. Hồ Chí Minh cũ được chia thành 3 vùng gồm trung tâm, vùng ven và ngoại ô; số phiếu được phân bổ tương đối theo từng vùng, gồm 90 hộ khu vực trung tâm, 72 hộ khu vực vùng ven và 56 hộ khu vực ngoại ô.
- Phương pháp tính khối lượng WEEE phát sinh:

mᵢ = rᵢ × wᵢ (3)
Mᵢ = mᵢ × H/1.000 (4)
M = ΣMᵢ (5)
Trong đó: qᵢ là số lượng thiết bị loại i phát sinh trong mẫu khảo sát; rᵢ là số thiết bị loại i phát sinh trung bình/hộ; wᵢ là khối lượng trung bình của thiết bị loại i; mᵢ là hệ số phát sinh của thiết bị loại i (kg/hộ/năm); H là tổng số hộ gia đình của TP. Hồ Chí Minh cũ; Mᵢ là khối lượng phát sinh của thiết bị loại i (tấn/năm); M là tổng khối lượng WEEE phát sinh.
- Phương pháp phân tích dòng chảy vật chất (MFA): MFA được áp dụng theo nguyên tắc cân bằng khối lượng nhằm mô tả dòng WEEE từ hộ gia đình đến các nhánh lưu giữ, tái sử dụng/sửa chữa, tái chế/thu hồi vật liệu và thải bỏ cùng rác sinh hoạt (Huda & Islam, 2019).
Các quan hệ tính toán chính gồm:
Input = Stock + Outflow (6)
Outflow = Reuse + Recycle + Dispose (7)
Trong đó: Stock là lượng WEEE còn lưu giữ tại hộ gia đình; Outflow là lượng WEEE rời khỏi hộ gia đình; Reuse là lượng được sửa chữa, tái sử dụng; Recycle là lượng đi vào tái chế, thu hồi vật liệu; Dispose là lượng thải bỏ cùng rác sinh hoạt hoặc thất thoát khỏi hệ thống quản lý chính thức (Brunner & Rechberger, 2017; UNEP, 2007).
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu và GIS: Số liệu khảo sát được tổng hợp bằng thống kê mô tả, tính hệ số phát sinh theo hộ gia đình và ngoại suy cho toàn TP. Hồ Chí Minh cũ. Kết quả được thể hiện bằng bảng tổng hợp khối lượng, sơ đồ MFA và bản đồ phân bố không gian WEEE bằng GIS.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm phát sinh chất thải điện tử gia dụng tại TP. Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát 218 hộ gia đình, kết hợp thông tin từ cơ sở sửa chữa và cơ sở thu mua phế liệu trong năm 2025, cho thấy lượng WEEE gia dụng phát sinh tại TP. Hồ Chí Minh cũ ước tính khoảng 100.802,23 tấn/năm. Kết quả này được ngoại suy từ hệ số phát sinh trung bình 36,97 kg/hộ/năm (xem bảng 1) từ các công thức (2) - (5) tại mục 2.2. Trong cơ cấu phát sinh, máy giặt, điều hòa và tủ lạnh là các nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất, lần lượt đạt 30,71%, 22,83% và 21,04% tổng lượng WEEE phát sinh (xem hình 1). Ngược lại, điện thoại di động và laptop có tỷ trọng khối lượng thấp hơn, nhưng có chu kỳ thay thế nhanh do đặc điểm đổi mới công nghệ.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy thiết bị điện tử sau sử dụng ít khi bị thải bỏ trực tiếp, mà thường được lưu giữ trong hộ gia đình, bán cho người thu gom ve chai, chuyển đến cơ sở sửa chữa hoặc cơ sở thu mua phế liệu. Đối với các thiết bị còn khả năng sử dụng, hoạt động sửa chữa và tái sử dụng vẫn diễn ra khá phổ biến. Điều này phản ánh vai trò đáng kể của khu vực phi chính thức trong dòng chảy WEEE tại TP.HCM, tương đồng với nghiên cứu của Lau và cộng sự tại Hồng Kông, trong đó phần lớn WEEE cũng được thu gom và luân chuyển qua khu vực phi chính thức trước khi đi vào tái chế hoặc thải bỏ (Lau, W. K. Y., Chung, S. S., & Zhang, C, 2013).
Bảng 1. Hệ số phát sinh và khối lượng WEEE phát sinh tại TP. HCM năm 2025
|
STT |
Loại thiết bị |
Hệ số phát sinh trung bình (kg/hộ/năm) |
Tổng lượng phát sinh (tấn/năm) |
Tỷ lệ (%) |
|
1 |
Laptop |
0,454 |
1.237,04 |
1,23 |
|
2 |
Máy vi tính để bàn |
3,963 |
10.806,94 |
10,72 |
|
3 |
Điện thoại di động |
0,131 |
357,73 |
0,35 |
|
4 |
Tivi |
3,532 |
9.631,19 |
9,55 |
|
5 |
Tủ lạnh |
7,780 |
21.213,62 |
21,04 |
|
6 |
Điều hòa |
8,440 |
23.014,78 |
22,83 |
|
7 |
Máy giặt |
11,351 |
30.951,13 |
30,70 |
|
8 |
Nồi cơm điện |
1,317 |
3.589,81 |
3,56 |
|
|
Tổng cộng |
36,97 |
100.802,23 |
100 |
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát năm 2025 và tính toán của tác giả.

Bảng 2 dưới đây được sử dụng nhằm so sánh tham khảo cơ cấu nhóm thiết bị giữa kết quả nghiên cứu này và kết quả tổng hợp từ Huda & Islam (2019), không dùng làm cơ sở ngoại suy tổng khối lượng WEEE phát sinh.
Bảng 2. So sánh cơ cấu nhóm thiết bị chất thải điện tử giữa nghiên cứu này và nghiên cứu của Huda & Islam (2019)
|
STT |
Loại thiết bị |
Nghiên cứu này, TP.HCM (%) |
Tỷ lệ xuất hiện trong các nghiên cứu MFA (%) |
|
1 |
Laptop |
1,23 |
7 |
|
2 |
Máy vi tính để bàn |
10,72 |
20 |
|
3 |
Điện thoại di động |
0,35 |
10 |
|
4 |
Tivi |
9,55 |
18 |
|
5 |
Tủ lạnh |
21,04 |
9 |
|
6 |
Điều hòa |
22,83 |
8 |
|
7 |
Máy giặt |
30,71 |
9 |
|
8 |
Nồi cơm điện |
3,56 |
- |
Nguồn: Kết quả khảo sát và tổng hợp của nghiên cứu năm 2025 và tổng hợp từ Huda & Islam (2019)
So sánh với nghiên cứu của Huda & Islam (2019) cho thấy nhóm thiết bị điện lạnh như máy giặt, điều hòa và tủ lạnh chiếm tỷ trọng lớn trong dòng chất thải điện tử gia dụng tại TP. Hồ Chí Minh. Trong khi đó, các nghiên cứu MFA trước đây thường tập trung nhiều vào máy tính, tivi và thiết bị điện tử cá nhân. Sự khác biệt này phản ánh xu hướng gia tăng sử dụng thiết bị điện lạnh tại khu vực đô thị phía Nam trong những năm gần đây. Điều này cho thấy nhóm thiết bị điện lạnh cần được quan tâm nhiều hơn trong các nghiên cứu dự báo và quản lý chất thải điện tử tại Việt Nam.
Hệ số phát sinh WEEE trung bình theo hộ gia đình có thể được sử dụng làm cơ sở phục vụ các nghiên cứu dự báo phát sinh WEEE theo quy mô dân số trong tương lai.
3.2. Phân tích dòng chảy WEEE bằng MFA
Dòng chảy WEEE tại TP. Hồ Chí Minh được xác định trên cơ sở tổng lượng WEEE phát sinh ước tính 100.802,23 tấn/năm, kết hợp với kết quả khảo sát về hình thức xử lý thiết bị sau sử dụng tại hộ gia đình và thông tin bổ trợ từ cơ sở sửa chữa, cơ sở thu mua phế liệu. Các dòng WEEE được nhóm thành 4 nhánh chính: tái sử dụng/sửa chữa, tái chế/thu hồi vật liệu, thải bỏ cùng rác sinh hoạt và lưu giữ tại hộ gia đình.

Kết quả MFA cho thấy khoảng 42,09% WEEE đi vào hoạt động tái chế/thu hồi vật liệu; 39,24% được sửa chữa hoặc tái sử dụng; 10,61% bị thải bỏ cùng rác sinh hoạt; 8,06% còn được lưu giữ tại hộ gia đình. Hình 2 và Bảng 3 được xây dựng từ các tỷ lệ dòng chảy này trên cơ sở nguyên tắc cân bằng khối lượng đã trình bày tại mục 2.2.
Bảng 3. Tỷ lệ các dòng chảy WEEE tại TP. Hồ Chí Minh
|
STT |
Dòng chảy |
Tỷ lệ (%) |
|
1 |
Tái sử dụng/sửa chữa |
39,24 |
|
2 |
Tái chế/thu hồi vật liệu |
42,09 |
|
3 |
Thải bỏ cùng rác sinh hoạt |
10,61 |
|
4 |
Lưu giữ tại hộ gia đình |
8,06 |
Nguồn: Kết quả tính toán MFA của nghiên cứu năm 2025.
Kết quả trên cho thấy khu vực phi chính thức hiện giữ vai trò đáng kể trong hoạt động thu gom, sửa chữa, tháo dỡ và tái chế WEEE tại TP. Hồ Chí Minh. Nhiều thiết bị sau sử dụng không đi thẳng vào hệ thống thu gom chính thức mà được chuyển qua người thu gom ve chai, cơ sở sửa chữa hoặc cơ sở thu mua phế liệu. Điều này vừa góp phần kéo dài vòng đời sản phẩm, thu hồi vật liệu có giá trị, vừa tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường nếu hoạt động tháo dỡ, tái chế không được kiểm soát phù hợp (Lau, W. K. Y., Chung, S. S., & Zhang, C, 2013).
3.3. Phân bố không gian phát sinh WEEE
Bản đồ phân bố không gian WEEE được xây dựng bằng GIS trên cơ sở kết quả khảo sát hộ gia đình theo các quận/huyện cũ của TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu khối lượng WEEE phát sinh trung bình theo hộ được tổng hợp theo khu vực khảo sát, sau đó gắn với lớp ranh giới hành chính để thể hiện phân bố tương đối của WEEE trên địa bàn nghiên cứu.
Kết quả Hình 3 cho thấy WEEE có xu hướng tập trung cao hơn tại các khu vực nội thành, nơi có mật độ dân cư lớn, mức tiêu dùng thiết bị điện tử cao và nhiều hoạt động thương mại - dịch vụ, sửa chữa, thu mua thiết bị điện tử cũ. Bản đồ này được sử dụng nhằm nhận diện khu vực ưu tiên bố trí điểm thu gom, không thay thế cho kiểm kê WEEE chính thức ở cấp quận/huyện (cũ).

Nguồn: Xây dựng từ kết quả khảo sát và phân tích GIS năm 2025
3.4. Đề xuất định hướng quản lý WEEE tại TP. Hồ Chí Minh
Trên cơ sở kết quả phân tích MFA và GIS, nghiên cứu đề xuất định hướng quản lý WEEE tại TP. Hồ Chí Minh theo mô hình 3T gồm: thu gom, theo dõi và tái chế/xử lý. Trọng tâm của mô hình là từng bước đưa dòng WEEE từ hộ gia đình vào hệ thống quản lý chính thức, đồng thời kiểm soát tốt hơn các hoạt động thu gom, sửa chữa, tháo dỡ và tái chế đang diễn ra trong khu vực phi chính thức.
- Thu gom: Ưu tiên bố trí điểm thu gom WEEE tại các khu vực có mật độ phát sinh cao theo kết quả GIS, nhất là khu vực nội thành, khu dân cư đông, chung cư, trường học, siêu thị điện máy và các tuyến có nhiều cơ sở sửa chữa, thu mua thiết bị điện tử cũ. Bên cạnh đó, cần tổ chức các đợt thu gom định kỳ, kết hợp truyền thông và khuyến khích người dân chuyển giao thiết bị cũ theo kênh chính thức.
- Theo dõi: Cần xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi WEEE theo nhóm thiết bị, khu vực phát sinh và hình thức chuyển giao sau sử dụng. Các điểm thu gom, cơ sở sửa chữa và cơ sở thu mua phế liệu có thể được lồng ghép vào cơ chế ghi nhận, báo cáo khối lượng tiếp nhận, nhằm hỗ trợ quản lý dòng WEEE và cung cấp dữ liệu phục vụ triển khai EPR tại địa phương.
- Tái chế/xử lý: Đối với dòng WEEE đi vào cơ sở thu mua phế liệu và tái chế phi chính thức, cần tăng cường kết nối với các đơn vị tái chế, xử lý có giấy phép; hướng dẫn phân loại, lưu giữ an toàn các bộ phận có nguy cơ gây ô nhiễm như pin, bảng mạch và linh kiện chứa kim loại nặng. Cách tiếp cận này vừa tận dụng mạng lưới thu gom sẵn có, vừa giảm nguy cơ ô nhiễm từ hoạt động tháo dỡ, tái chế thủ công.
Nhìn chung, mô hình 3T hướng đến việc kết nối giữa nguồn phát sinh, khu vực thu gom phi chính thức và hệ thống tái chế, xử lý chính thức. Qua đó, dòng WEEE sau khi rời hộ gia đình có thể được theo dõi tốt hơn, giảm thất thoát tài nguyên và hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp phân tích dòng chảy vật chất (MFA) kết hợp GIS để đánh giá dòng chảy và phân bố không gian của WEEE gia dụng tại TP. Hồ Chí Minh cũ. Kết quả cho thấy tổng lượng WEEE phát sinh ước tính khoảng 100.802,23 tấn/năm, tương ứng hệ số phát sinh trung bình 36,97 kg/hộ/năm. Trong cơ cấu phát sinh, nhóm thiết bị có khối lượng lớn như máy giặt, điều hòa và tủ lạnh chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Kết quả MFA cho thấy, WEEE sau sử dụng chủ yếu đi qua các kênh sửa chữa, tái sử dụng, thu mua phế liệu và tái chế. Cụ thể, 39,24% WEEE được sửa chữa hoặc tái sử dụng, 42,09% đi vào tái chế/thu hồi vật liệu, 10,61% bị thải bỏ cùng rác sinh hoạt và 8,06% còn lưu giữ tại hộ gia đình. Phân tích GIS cho thấy, WEEE có xu hướng tập trung cao hơn tại các khu vực nội thành, nơi có mật độ dân cư lớn, mức tiêu dùng thiết bị điện tử cao và nhiều hoạt động sửa chữa, thu mua thiết bị điện tử cũ.
Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất định hướng quản lý WEEE theo mô hình 3T gồm thu gom, theo dõi và tái chế/xử lý. Trong đó, cần ưu tiên bố trí điểm thu gom tại khu vực có mật độ phát sinh cao, thiết lập cơ chế theo dõi dòng WEEE theo nhóm thiết bị và khu vực phát sinh, đồng thời kết nối khu vực thu gom phi chính thức với các đơn vị tái chế, xử lý có giấy phép nhằm giảm thất thoát tài nguyên và hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế do phạm vi khảo sát tập trung vào WEEE gia dụng và phụ thuộc vào dữ liệu điều tra tại thời điểm khảo sát. Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng nhóm thiết bị, cập nhật dữ liệu theo thời gian và đánh giá sâu hơn thành phần vật chất, phát thải môi trường từ hoạt động tái chế WEEE, đặc biệt tại khu vực phi chính thức.
Lời cảm ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện và hoàn thành nghiên cứu này.
Nguyễn Thành Khoa¹*, Huỳnh Anh Hoàng², Bùi Phương Anh3, Phạm Thị Ngọc Hân3
¹ Ban quản lý các Khu liên hợp xử lý chất thải TP. Hồ Chí Minh
² Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh
3 Sinh viên năm cuối, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Khoa học - Công nghệ II/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Brunner, P. H., & Rechberger, H. (2017). Handbook of Material Flow Analysis: For Environmental, Resource, and Waste Engineers (2nd ed.). CRC Press.
2. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh. (2024). Tình hình dân số và hộ gia đình TP. Hồ Chí Minh năm 2024. Retrieved from https://www.pso.hochiminhcity.gov.vn
3. Giao, N. T. (2021). Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý rác thải điện tử gia dụng tại thành phố Cần Thơ. Retrieved from https://ctujsvn.ctu.edu.vn/index.php/ctujsvn/article/view/3926
4. Huda, N., & Islam, M. (2019). Material flow analysis (MFA) as a strategic tool in E-waste management: Applications, trends and future directions. Journal of Environmental Management, 244, 344-361.
5. Lau, W. K. Y., Chung, S. S., & Zhang, C. (2013). A material flow analysis on current electrical and electronic waste disposal from Hong Kong households. Waste Management, 33, 714-721.
6. Phương, T. H. (2018). Material flow analysis for management of waste TVs from households in urban areas of Vietnam. Resources, Conservation and Recycling, 139, 78–89. doi:https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2018.07.031
7. UBND.TP.HCM. (2025). Báo cáo tổng quan về hiện trạng môi trường Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025. TP. Hồ Chí Minh.
8. UNEP. (2007). E-waste: E-waste Management Manual, Volume II. United Nations Environment Programme, Osaka/Shiga.
9. UNITAR & ITU. (2024). The Global E-waste Monitor 2024. United Nations Institute for Training and Research & International Telecommunication Union.
10. Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường. (2020). Giải bài toán rác thải điện tử: Tác động tiêu cực đến môi trường như thế nào? Retrieved from https://dinre.mae.gov.vn/giai-bai-toan-rac-thai-dien-tu-tac-dong-tieu-cuc-den-moi-truong-nhu-the-nao-2693.htm.
11. WHO. (2021). Children and Digital Dumpsites: E-waste Exposure and Child Health. World Health Organization, Geneva.