Pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng từ góc nhìn của doanh nghiệp

Tóm tắt: Dịch vụ môi trường rừng đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái và hỗ trợ sự phát triển bền vững. Do đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đang có sự hoàn thiện cả về nội dung và hình thức. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đã xảy ra nhiều bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện pháp luật để đem lại hiệu quả tích cực và đảm bảo tính thực thi hiệu quả của Cơ quan quản lý Nhà nước và cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Từ khóa: Dịch vụ môi trường; chi trả dịch vụ môi trường rừng; bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện pháp luật; 
Abstract: Forest environmental services play a crucial role in maintaining ecological balance and supporting sustainable development. Therefore, the system of legal regulations is being improved in both content and form. However, many shortcomings have arisen during application, requiring further legal improvements to ensure positive results and effective enforcement by state management agencies and individuals/organizations utilizing forest environmental services.
Keywords: forest environmental services; payment for forest environmental services; shortcomings need to be addressed through further legal improvements.

1. Đặt vấn đề:

Luật Lâm nghiệp năm 2017 (số 16/2017/QH14) được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 15/11/2017 và có hiệu lực từ 01/01/2019, thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Luật bao gồm 12 chương, 108 điều, quy định toàn diện về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản, nhấn mạnh phát triển bền vững. Đây là văn bản luật được áp dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhằm  tạo cơ sở pháp lý trong quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng là quy phạm pháp luật để người dân và tổ chức điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến rừng.
Để Luật Lâm nghiệp năm 2017 được thực thi trong đời sống xã hội đã có nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định 156/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Lâm nghiệp 2017; Nghị định 27/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 156/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Lâm nghiệp 2017; Nghị định số 91/2024/NĐ-CP của Chính phủ: sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Nghị định số 42/2026/NĐ-CP của Chính phủ: sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm…và nhiều thông tư hướng dẫn. Các nghị định này cụ thể hóa các vấn đề được quy định tại văn bản pháp luật. Trong các quy phạm quan trọng của Luật lâm nghiệp  đã dành mục 4 (chương 6) để quy định các nội dung về dịch vụ môi trường rừng. Việc phải chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quan trọng để phát huy tối đa lợi thế của rừng, Cá nhân, tổ chức nộp tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) dựa trên nguyên tắc "người hưởng lợi từ môi trường rừng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng". Chính sách này nhằm bù đắp chi phí cho người trực tiếp bảo vệ rừng, huy động nguồn lực xã hội, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và đảm bảo phát triển bền vững.
Trong khuôn khổ của bài viết, Chúng tôi muốn trao đổi các quy định liên quan đến việc nộp phí dịch vụ môi trường rừng trong lĩnh vực du lịch và các bất cập mà Doanh nghiệp vướng mắc khi áp dụng pháp luật. 

2. Các khái niệm về “dịch vụ môi trường rừng”, “chi trả dịch vụ môi trường rừng”

Theo khoản 23 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định như sau: “ Dịch vụ môi trường rừng là hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng”, và hoạt động cung ứng các giá trị được quy định tại  Điều 61 Luật lâm nghiệp: Các loại dịch vụ môi trường rừng: “1. Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối. 2. Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội. 3. Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh. 4. Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch. 5. Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản.” 
Theo quy định tại khoản 2 điều 62 Luật lâm nghiệp:  “ Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.”
Khi cá nhân, tổ chức được cung ứng các loại dịch vụ môi trường rừng nêu trên thì phải chi trả  dịch vụ môi trường rừng (hay có thể hiểu là phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng). Để hiểu rõ trong điều kiện nào thì cá nhân, tổ chức phải chi trả dịch vụ môi trường rừng,  Chúng ta cần tìm hiểu, điều kiện của một khu rừng như thế nào thì đáp ứng được việc cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Theo quy định tại khoản 3 điều 2 Luật lâm nghiệp thì khu rừng phải đáp ứng các điều kiện như sau: “ Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.”  

3. Thực tiễn việc thực hiện pháp luật về dịch vụ môi trường

a) Về Đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng:

Theo quy định, hiện nay các đối tượng kinh doanh có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, căn cứ tại khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp 2017 các đối tượng bao gồm:  “cơ sở sản xuất thủy điện; cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch; Cơ sở sản xuất công nghiệp; Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn;…  Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng”
Như đã đặt vấn đề,  chúng tôi muốn nghiên cứu đến các đối tượng “ Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí” trong tường hợp nào thì phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng và phải nộp như thế nào? Để làm rõ đối với trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch… phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng, tại khoản 4 điều 57 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại  điểm d khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp thực hiện chi trả trực tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định này, bao gồm: các hoạt động dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, tham quan, quảng cáo và các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng. Như vậy, văn bản đã quy định rõ chỉ những dịch vụ nào hoạt động kinh doanh trong phạm vi khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng thì phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Điều này là hoàn toàn phù hợp với quan hệ dân sự “ có sử dụng dịch vụ thì trả phải tiền dịch vụ”. Ví dụ: khách vào tham quan khu rừng Cúc Phương: được ngắm cảnh, được vui chơi, trải nghiệm các hoạt động trong khu rừng thì phải trả phí dịch vụ môi trường rừng.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, việc áp dụng pháp luật tại quy định này là chưa thống nhất. Nhiều Cơ quan nhà nước (cụ thể là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng Cá nhân, Tổ chức kinh doanh du lịch tại khu vực tiếp giáp khu rừng cũng phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng dù họ không hưởng bất cứ dịch vụ môi trường rừng nào. Từ đó, các Cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương yêu cầu các Doanh nghiệp, cá nhân trong trường hợp nêu trên phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng, mặc dù Nghị định quy định “ kinh doanh trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng” thì mới phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Điều này gây nhiều tranh cãi trong dư luận và cộng đồng doanh nghiệp.
Từ thực tiễn này, việc áp dụng Nghị định 156/2018/NĐ-CP đã bộc lộ những bất cập, gây nhiều tranh luận trong thực tế. Để giải quyết vấn đề này, năm 2024, tại điều 1 điểm 4 khoản 26 Nghị định 91 (sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 156/2018) đã điều chỉnh:  “Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp, bao gồm: các hoạt động dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, tham quan, quảng cáo trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng hoặc có vị trí tiếp giáp với khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng.” Tại quy định này, đã mở rộng đối tượng phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng không chỉ trong phạm vi khu rừng mà ở vùng tiếp giáp cũng phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Nghị định 91 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để các Cơ quan chức năng thực thi việc thu phí dịch vụ môi trường rừng với các Tổ chức, cá nhân nêu trên, tuy nhiên không làm thay đổi được bản chất trong quan hệ dân sự giữa chủ rừng và người sử dụng dịch vụ môi trường rừng.

b) Phân tích các nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng

Khu rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng phải đáp ứng các nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật lâm nghiệp:  Rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng khi đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật này và cung ứng một hoặc một số dịch vụ môi trường rừng quy định tại Điều 61 của Luật này; khoản 2 điều 62 Luật lâm nghiệp quy định: “Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng”. Với quy định này, thì Luật lâm nghiệp quy định rõ nguyên tắc “khi sử dụng thì mới phải trả tiền.”
Có thể nói, chi trả phí dịch vụ môi trường rừng được xem là một nghĩa vụ tài chính, và nghĩa vụ tài chính thì phải đảm bảo nguyên tắc công bằng (sử dụng như nhau thì nộp phí như nhau, không sử dụng thì không nộp), bên cạnh đó phải xuất phát trên nguyên tắc tương xứng giữa  nghĩa vụ và lợi ích cụ thể, trực tiếp như thế nào phải tương xứng với phần phí mà các cá nhân, tổ chức cần nộp.

c) Về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng

Điều 59 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định về mức chi trả và xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng như sau: Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp 2017 tối thiểu bằng 1 % trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ; tại Điều 1: điểm 4 khoản  27 Nghị định 91 sửa đổi, bổ sung Nghị định 156 tại khoản 4, khoản 5 Điều 59 quy định như sau: “Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp tối thiểu bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ. Trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, mức chi trả cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định”. 
Căn cứ các quy định này, thì mức phí phải trả là 1%/tổng doanh thu. Với mức quy định về mức phí như  hiện nay là được áp dụng chung cho cả Đối tượng kinh doanh  trong phạm vi khu rừng và vùng tiếp giáp. Điều này, cũng gây không ít nhiều lúng túng khi thực thi pháp luật, bởi rõ ràng việc kinh trong phạm vi khu rừng và kinh doanh có vùng tiếp giáp với khu rừng là hoàn toàn  khác nhau về giá trị kinh tế cũng như dịch vụ rừng sử dụng.
Từ thực tiễn áp dụng, lấy ví dụ cụ thể: Doanh nghiệp A hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch với các dịch vụ theo quy định tại Nghị định 91/2024. Vị trí của khu du lịch một mặt giáp với Quốc lộ 14G, mặt khác có phần diện tích tiếp giáp với rừng (hay có thể hiểu ranh giới của dự án có một  phần tiếp giáp với rừng)  nhưng vùng rừng tiếp giáp thì không đủ điều kiện của khu rừng theo quy định của Luật lâm nghiêp (bao gồm cây keo lá tràm, đá mồ côi, các thảm thực vật khác…), du khách không thể nào chiêm ngưỡng, dạo bộ hay được tận hưởng bất kỳ cảnh quan nào tại vị trí tiếp giáp. Nhìn bằng mắt thường thì có thể thấy khu vực tiếp giáp là một thảm thực vật, là một bộ phận kết cấu vùng đệm để đến khu rừng trên núi cao (nhưng hoàn toàn không có lối đi). Vị trí khu trừng ở rất xa, tầm nhìn của du khách không thể nào chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên của rừng hoặc không có bất ký hoạt động trải nghiệm hay hưởng bầu không khí của rừng. Trước khi Nghị định 91 ra đời, Cơ quan chức năng ở địa phương áp dụng Luật lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP để yêu cầu Doanh nghiệp A phải nộp tiền dịch vụ môi trường rừng vì cho rằng khu vực xung quanh ranh giới dự án là rừng trồng và rừng tự nhiên. 
Từ vị trí địa lý và thực tế hoạt động của Doanh nghiệp, thì Doanh nghiệp và du khách không được cung ứng bất kỳ dịch vụ môi trường rừng nào, và dự án cũng không nằm trong phạm vi khu rừng được cung ứng dịch vụ môi trường rừng bởi vì diện tích đất thuê của Doanh nghiệp là đất thương mại dịch vụ, bên cạnh đó Doanh nghiệp cũng đã đầu tư hàng trăm tỉ đồng để phủ xanh cây trồng tại dự án. Như vậy, căn cứ quy định của pháp luật thì Doanh nghiệp A không phải là đối tượng phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng vì vị trí tiếp giáp. Từ cách áp dụng pháp luật không thống nhất nên Chính quyền địa phương yêu cầu Doanh nghiệp A phải chi trả khoản tiền này. Nhưng với phân tích chuyên môn và vận dụng pháp luật, Tổng cục lâm nghiệp cho rằng Doanh nghiệp A không phải là đối tượng nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Như vậy, tại một văn bản Luật nhưng các cấp chính quyền và Doanh nghiệp đã có những cách hiểu và áp dụng khác nhau, từ đó dẫn đến không thống nhất khi thực thi pháp luật. 

Từ việc vận dụng pháp luật khác nhau của các cấp, Chính quyền địa phương kết hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có những rà soát và thực địa tại một số địa phương để có thể hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong việc chi trả dịch vụ môi trường rừng của các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch.  Đến ngày 18/7/2024, Nghị định 91/2024/NĐ-CP đã sửa đổi lại nội dung về đối tượng nộp phí dịch vụ môi trường rừng được mở rộng:  “trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng hoặc có vị trí tiếp giáp với khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng”, nghĩa là đối tượng phải chi trả bao gồm trong phạm vi khu rừng hay ở vùng tiếp giáp đêu phải nộp 1%/tổng doanh thu như đã phân tích nêu trên.  Nghị định 91/2024 ra đời  vẫn chưa  nêu rõ được quan hệ bình đẳng trong quan hệ dân sự “ dùng đến đâu trả đến đó”, mà không phân biệt vị trí tiếp giáp như thế nào, khoảng cách bao xa, từ đó dẫn đến sự không công bằng khi áp dụng mức phí. Sự ra đời của Nghị định 91/2024 chỉ mở rộng được đối tượng phải chi trả, nhưng chưa làm rõ “Cơ sở của việc chi trả là nhận thức về mối tương quan chặt chẽ giữa cung cấp dịch vụ môi trường rừng và người hưởng lợi là ngành du lịch” là như thế nào[5]. 

4. Một số hạn chế, bất cập của quy định pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng

Từ vấn đề thực tiễn, có thể nêu ra một số bất cập của Nghị định 91/2024/NĐ-CP như sau:
Thứ nhất, Giới hạn của việc mở rộng đối tượng phải chi trả DVMTR: Trong nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng Luật lâm nghiệp giới hạn: “bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng”, tuy nhiên tại Nghị định 91/2024/NĐ-CP lại mở rộng sang các chủ thể “ có vị trí tiếp giáp”  với khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Liệu việc mở rộng vùng tiếp giáp theo suy đoán “ tiếp giáp” đồng nghĩa với “ hưởng lợi” có vượt quá phạm vi được Luật trao quyền hay không, và liệu Nghị định 91/2024/NĐ-CP có đang mở rộng nghĩa vụ tài chính vượt quá giới hạn của Luật hay không? Đây là vấn đề cần làm rõ bởi vì Nghị định là văn bản dưới Luật, không thể vượt quá các quy định của Luật đã ban hành (không có sự thống nhất giữa Luật và Nghị định).
Thứ hai, Khái niệm vị trí tiếp giáp: Không định nghĩa rõ ràng thế nào là vùng tiếp giáp hoặc vị trí tiếp giáp, tạo ra sự lúng túng trong thực tế (bán kính bao nhiêu km từ ranh giới rừng, ranh giới dự án), thiếu tính định lượng, thiếu các tiêu chí kỹ thuật về địa giới  trong bản đồ lâm nghiệp từ đó có thể mang tính cảm tính. Nếu vùng tiếp giáp đó chỉ là một thảm thực vật (bao gồm cây dây leo, đất, đá…, hoặc các cây thực vật khác không cấu thành theo quy định về rừng thì có được xem là tiếp giáp rừng hay không?), điều này cũng có thể bỏ sót  đối tượng nộp và gây ra khiếu nại từ Doanh nghiệp khi họ cho rằng họ không hưởng lợi từ trực tiếp từ hệ sinh thái rừng đó? Hoặc, Doanh nghiệp có kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống…nhưng vị trí các dịch vụ này  lại cách xa vùng tiếp giáp nhưng vẫn phải nộp toàn bộ phí 1% / tổng doanh thu cũng là không hợp lý (các dịch vụ này cấu thành nên toàn bộ giá vé của khu du lịch). 
Thứ ba, Vấn đề công bằng nghĩa vụ tài chính: Việc quy định doanh nghiệp kinh doanh trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng và doanh nghiệp kinh doanh vùng tiếp giáp cùng một mức phí 1% là không công bằng, gây tranh cãi lớn về mặt công bằng lợi ích. Đối với Doanh nghiệp kinh doanh trong phạm vi khu rừng: mức độ hưởng lợi rất cao, hưởng lợi từ trực tiếp từ cảnh quan, nguồn nước, không khí và hạ tầng sinh thái rừng, hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm hoặc tác động trực tiếp đến đa dạng sinh học tại chỗ. Việc đánh đồng mức 1% giữa hai hình thức này (giữa một bên trong lõi rừng và một bên nằm ở vùng đệm vùng tiếp giáp) là không hợp lý, Doanh nghiệp bên ngoài thường phải tự đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng, còn Doanh nghiệp bên trong thì tận hưởng lợi thế có sẵn, không theo nguyên tắc “dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu”, và có sự áp đặt mà không định lượng được sự phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực tiễn.

Do đó, cần xem xét về quyền và nghĩa vụ các bên. Rừng để chi trả dịch vụ môi trường phải đảm bảo đúng cấu thành theo quy định  của Luật lâm nghiệp và đối tượng phải chi trả DVMTR phải nhận được cung ứng một cách trực tiếp các dịch vụ. Phải thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản của chi trả  dịch  vụ  môi  trường  rừng  là  tiền  chỉ  được  trả  khi  dịch vụ môi  trường  rừng  được  đảm  bảo  và  cung  cấp  theo  đúng  yêu  cầu  của  bên  mua  (kể cả  về  chất  lượng  và  số  lượng) [4].  Ngay  cả  Brazil,  đất  nước  có  hệ  thống  giám  sát, đánh  giá  và  kiểm  kê  rừng  được  cho  là  hiện  đại và toàn diện nhất thế giới cũng chưa thể đưa ra các kết  luận  về  tính  bổ  sung  và  gia  tăng  của  dịch  vụ  môi  trường rừng từ chương trình PES quốc gia của mình [ 4]
Thứ tư, Rủi ro tùy nghi hành chính: Với cách hiểu và vận dụng pháp luật tại địa phương và Cơ quan chuyên ngành Trung ương hiện nay đang tiềm ẩn các rủi ro trong tùy nghi hành chính: Cơ quan địa phương áp dụng một cách, có quan Trung ương phải hướng dẫn làm rõ. Việc Doanh nghiệp tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật cũng là cơ sở để làm rõ việc áp dụng pháp luật tại địa phương chưa chuyên sâu và từ đó có thể tiềm ẩn rủi ro cho cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch khi phải chi trả DVMTR khi chưa phải là đối tượng này.

5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật dịch vụ môi trường rừng 

Từ những bất cập trong việc áp dụng pháp luật về dịch vụ môi trường rừng, tác giả đưa ra một số kiến nghị sau đây nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật tạo sự minh bạch, công bằng cho cả Cơ quan quản lý Nhà nước và Người nộp phí dịch vụ môi trường rừng

5.1. Xác định bằng khoảng cách hoặc lưu vực ranh giới của vị trí tiếp giáp

Cần quy định rõ trong văn bản pháp quy, vùng tiếp giáp phải được xác định cụ thể bằng khoảng cách vật lý tính từ ranh giới đất rừng trên bản đồ lâm nghiệp (ví dụ: Vùng tiếp giáp cách khu rừng 1km thì phải nộp phí DVMTR). Chứng minh rõ mối quan hệ cung-cầu dịch vụ: không phải nằm trong vùng tiếp giáp là phải chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cơ quan quản lý phải làm rõ điều kiện cần và đủ,   chứng minh được khu rừng đó đáp ứng/cung ứng được giá trị gì cho vị trí tiếp giáp. Chỉ thu phí đối với dịch vụ thực tế được hưởng (Chỉ các dịch vụ môi trường rừng được thực tế cung ứng và có tác động trực tiếp đến hoạt động của Doanh nghiệp tại vị trí tiếp giáp mới phải nộp phí). Điều này loại bỏ “tư duy cào bằng”, tạo được sự đồng thuận trong doanh nghiệp.

5.2 . Phân bậc mức chi trả để đảm bảo tính công bằng

Thay vì quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh tại vị trí tiếp giáp với khu rừng phải nộp phí 1%/tổng doanh thu như phân tích phần trên gây khó khăn khi áp dụng, tác giả thử đưa việc phân bậc mức phí như sau: mức  phí 1%  áp dụng cho đối tượng do hưởng lợi trực tiếp, toàn diện và liên tục đối với dịch vụ môi trường rừng;  mức phí đối với vùng tiếp giáp/vùng đệm 0,5% (vùng tiếp giáp 1km, vùng đệm của rừng, quy định bậc này vì doanh nghiệp chỉ hưởng lợi gián tiếp) phụ thuộc vào ranh giới tiếp giáp với rừng); mức 3 hưởng gián tiếp (ngoài vùng tiếp giáp) thấp hơn 0,3%, mức này phụ thuộc vào cộng hưởng hệ sinh thái. Việc điều chỉnh này không chỉ bảo đảm sự công bằng mà còn giúp nguồn thu từ DVMTR được minh bạch và bền vững.

5.3. Làm rõ thẩm quyền của UBND cấp tỉnh về mức chi trả ủy thác

Đối với quy định “Trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, mức chi trả cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định” hiện nay vẫn chưa rõ. UBND cấp tỉnh được quyết định mức như thế nào có cần phải theo mức tối thiểu 1% hay không, hay con số  này UBND cấp tỉnh có quyền tự quyết, vậy nên theo Chúng tôi cần quy định lại: Kiến nghị sửa đổi cụ thể cụm từ thành: "Trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, mức chi trả cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dựa trên điều kiện thực tế của địa phương và không vượt quá 1%.

5.4. Bổ sung các cơ chế gắn liền với Doanh nghiệp

Để chính sách DVMTR mang tính khả thi và đồng hành cùng doanh nghiệp, cần bổ sung các cơ chế sau: Cơ chế đối thoại và đồng thuận trước khi ra quyết định: Trước khi UBND cấp tỉnh ban hành mức chi trả cụ thể cho từng vùng/vị trí tiếp giáp, bắt buộc phải có bước tham vấn ý kiến công khai của cộng đồng doanh nghiệp chịu tác động tại địa phương (thông qua Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh hoặc VCCI). Áp dụng bản đồ số hóa (GIS) công khai: Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng phối hợp với Sở NN&MT phải công khai bản đồ lưu vực, ranh giới rừng và ranh giới vùng tiếp giáp (1km) trên cổng thông tin điện tử. Doanh nghiệp chỉ cần tra cứu tọa độ vị trí của mình là tự biết mình thuộc diện nào, bậc mấy, mức phí bao nhiêu. Điều này loại bỏ hoàn toàn cơ chế "xin - cho". Khấu trừ chi phí tự chủ của doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp nằm ở vùng tiếp giáp nhưng tự bỏ chi phí để trồng thêm cây xanh, làm hành lang bảo vệ môi trường hoặc xử lý nước thải đạt chuẩn tuần hoàn (góp phần hỗ trợ ngược lại cho hệ sinh thái rừng), thì phần chi phí này cần được khấu trừ một tỷ lệ nhất định vào phí DVMTR phải nộp. Minh bạch hóa dòng tiền chi trả: Doanh nghiệp có quyền được biết dòng tiền mình nộp được phân bổ đi đâu. Định kỳ hàng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng phải báo cáo cho các doanh nghiệp nộp phí về: Số tiền thu được, số tiền đã chi cho người dân giữ rừng ở lưu vực đó, và diện tích rừng được bảo vệ thành công nhờ nguồn tiền của doanh nghiệp. Việc này biến trách nhiệm nộp phí thành niềm tự hào về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

6.    Kết luận

Để Luật Lâm nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn đối với dịch vụ môi trường rừng  cần có những điều chỉnh mang tính đột phá và đồng bộ. Giải quyết bài toán công bằng trong nghĩa vụ tài chính, cần xác định các dịch vụ sẽ được cung cấp một cách rõ ràng, hiểu được và dẫn chứng được bằng tư liệu mối liên kết giữa việc sử dụng đất và các dịch vụ, bắt đầu từ phía  cầu chứ không phải phía cung; xác định rõ ai là người sử dụng dịch vụ, ai là người cung cấp dịch vụ và các bên liên quan. Cần làm rõ mức chi trả cần phù hợp tránh chồng chéo thuế và phí, cần làm rõ ranh giới giữa dịch vụ môi trường rừng ( bản chất là quan hệ dân sự) với các loại phí tài nguyên để tránh gây áp lực lớn cho doanh nghiệp. Đối với Doanh nghiệp cần có cơ chế cho phép họ sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng để tái đầu tư vào các hạng mục làm  giàu rừng và phòng cháy chữa cháy, đầu tư trang thiết bị  hiện đại bảo vệ rừng. Khi quyền lợi của của người giữ rừng gắn liền với hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ, lúc đó luật lâm nghiệp mới thực sự đi vào đời sống một cách bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2018) Luật Lâm nghiệp ngày 15/11/2017.
2.  Chính  phủ  (2018) Nghị  định  số  156/2018/NĐ-CP  ngày 16/11/2018 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp
3. Chính Phủ (2024) Nghị định 91sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 156/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp.
4. Phạm Thị Lan Anh- Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (2022) chi trả dịch vụ môi trường rừng: Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí môi trường số 3/2025 
5. Vũ Việt Phương (2022)- Học viện báo chí và truyên truyền, Kinh nghiệm chi trả dịch vụ môi trường ở một số quốc gia châu Mỹ và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí kinh tế Châu Á Thái Bình Dương.


 

Thạc sĩ - Luật sư Phạm Lê Lan Phương

Đặt mua Tạp chí Môi trường