Hiệu quả mô hình lúa mùa chịu ngập sâu ở tỉnh An Giang

Mô hình cho thấy tiềm năng mở rộng và phát triển lúa mùa chịu ngập sâu ở vùng ngoài đê bao kiểm soát lũ hoặc vùng trũng thấp trong vụ Thu - Đông ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tóm tắt

Nghiên cứu thực hiện mô hình lúa mùa chịu ngập sâu (LMCNS) ở 3 vùng sinh thái trong vụ Thu - Đông trên địa bàn tỉnh An Giang. Mô hình thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả đa đạng sinh học (cá và côn trùng), hiệu quả kinh tế, nhận thức và mức độ chấp nhận mô hình LMCNS của nông dân khu vực triển khai mô hình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, ở cả 3 vùng sinh thái, các mô hình LMCNS có sự đa dạng sinh thái hơn về cá và côn trùng so với các ruộng đối chứng thực hiện canh tác theo kiểu phổ biến tại các vùng nghiên cứu. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của mô hình LMCNS cũng vượt trội hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nông dân chưa sẵn sàng cũng như có ý định chuyển đổi canh tác theo mô hình LMCNS do chế độ thủy văn không phù hợp cho sản xuất quy mô lớn và khả năng tiêu thụ không thuận lợi. Mô hình LMCNS là mô hình canh tác hướng đến sinh thái bền vững, bảo tồn và đa dạng sinh học trong canh tác lúa cũng như tận dụng sinh khối, xen canh canh tác, cải tạo đất trồng. Mô hình cho thấy tiềm năng mở rộng và phát triển LMCNS ở vùng ngoài đê bao kiểm soát lũ hoặc vùng trũng thấp trong vụ Thu - Đông ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Từ khóa: Lúa mùa chịu ngập sâu, đa dạng sinh học, hiệu quả kinh tế, côn trùng, thiên địch.

Ngày nhận bài: 10/4/2026; Ngày sửa chữa: 21/4/2026; Ngày duyệt đăng: 10/5/2026.

Effectiveness of the deep - water rice cultivation models in An Giang Province 
Abstract

The study was carried on the model of the deep-water rice cultivation in three ecological zones during the Autumn–Winter crop in An Giang province. The model was implemented to evaluate biodiversity effectiveness (fish and insects), economic efficiency, farmers’ awareness, and the level of acceptance of the deep-water rice cultivation model in the areas where it was deployed. The study results showed that in all three ecological zones, the deep-water rice cultivation models demonstrated greater ecological diversity in fish and insects compared to control fields practicing cultivation. In addition, the findings also revealed that the economic efficiency of the deep-water rice cultivation model was superior. However, the research results also reveal that farmers have no intention of shifting their cultivation practices to the deep-water rice cultivation model due to hydrological regimes being unsuitable for large-scale production and unfavorable market consumption conditions. The deep-water rice cultivation model represents an agro-ecological approach aimed at sustainability, biodiversity conservation in rice farming, and the utilization of biomass, intercropping, and soil improvement. The model demonstrates potential for expansion and development in floodplain areas outside of dyke systems or in low-lying regions during the Autumn-Winter cropping season in the Mekong Delta.

Keywords: Deep-water rice cultivation, biodiversity, economic efficiency, insects, natural enemies.

JEL Classifications: O13, O44, Q56.

1. Giới thiệu

Lúa mùa chịu ngập sâu là cây trồng truyền thống có lịch sử hàng trăm năm qua tại ĐBSCL, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh đây là cây trồng có khả năng canh tác bền vững thân thiện với môi trường, đáp ứng được điều kiện về chế độ nước của ĐBSCL (thiếu nước vào mùa khô và thừa nước vào mùa mưa lũ) (Phong L., 2022). Bên cạnh đó, khả năng chịu hạn, chịu lụt vượt trội so với các cây trồng khác và nguồn rơm rạ của lúa mùa chịu ngập sâu sẽ cung cấp lượng chất hữu cơ đáng kể cũng như khả năng giữ ẩm cho đất. 

Diện tích canh tác LMCNS còn khá hạn chế, chỉ khoảng 220 ha (năm 2024), LMCNS hiện nay chủ yếu được canh tác tại vùng xả lũ hay ngập lũ ngoài đê bao phần lớn ở tỉnh An Giang và Long An (cũ). Trong vài năm gần đây, diện tích LMCNS có xu hướng tăng do người dân tận dụng xả lũ trong vùng đê bao, luân canh canh tác 2 vụ lúa một vụ màu nhằm tận dụng sinh khối LMCNS giữ ẩm đất cho cây trồng. Tuy nhiên, canh tác LMCNS đang đối mặt với nhiều thách thức. Mặc dù vậy, loại cây trồng này có tiềm năng to lớn trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Lúa mùa chịu ngập sâu, không chỉ cung cấp lương thực mà còn có khả năng hấp thụ lũ, giảm thiểu tác động của thiên tai, đồng thời cải thiện môi trường đất và nước, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học (Phúc P., 2024)

Mô hình trồng LMCNS được đánh giá thân thiện với môi trường vì sử dụng rất ít phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Bên cạnh đó, việc canh tác LMCNS còn giúp khai thác các nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, giữ được độ phì của đất và điều tiết lượng nước lũ, giảm áp lực vỡ đê (Phong L., 2023). Hơn nữa, LMCNS được canh tác gần giống canh tác hữu cơ (không hoặc ít bón phân hóa học, thuốc BVTV) và có một số thành phần dinh dưỡng quý như anthocyanin, vitamin E, B cao (Xuân N., 2017; Bình H., 2013). Ngoài ra, các mô hình canh tác LMCNS giảm nguy cơ suy thoái và bạt màu đất do hạn chế sử dụng phân bón và thuốc BVTV (Nam T., 2021).

Mô hình LMCNS và một số mô hình sinh thái khác đang áp dụng phần lớn đã tận dụng rất tốt lợi thế thiên nhiên, thích ứng với môi trường vùng ngập lũ và BĐKH vùng ĐBSCL. Các mô hình này đang áp dụng nhỏ lẻ tại một số khu vực canh tác với chế độ ngập thường xuyên trong giai đoạn canh tác (ngập do lũ, mưa…). Các nghiên trước đây đã thực hiện phần lớn đánh giá về sinh khối LMCNS, chất lượng sản phẩm, dinh dưỡng đất… Hầu như chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng quan bằng các mô hình đối chứng để so sánh hiệu quả đa dạng sinh học và kinh tế của LMCNS.  

Nghiên cứu triển khai thực hiện 3 mô hình LMCNS trên 3 vùng sinh thái ở tỉnh An Giang (Tri Tôn, Chợ Mới, Thoại Sơn) nhằm đánh giá hiệu quả cơ bản về môi trường (đa dạng sinh học), hiệu quả kinh tế, mức độ chấp nhận của người dân so với với phương thức canh tác lúa của nông dân. Mục đích của nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả về môi trường sinh thái, hiệu quả kinh tế của canh tác LMCNS với kiểu canh tác đang áp dụng tại khu vực nghiên cứu cũng như những trở ngại trong việc phát triển mở rộng kiểu canh tác xen kẽ LMCNS ở 3 vùng kinh tế trong tỉnh An Giang.

2. Khu vực và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai trên 3 vùng sinh thái tiêu biểu thuộc địa bàn tỉnh An Giang. Vùng 1 thuộc lưu vực giữa sông Tiền, sông Hậu; vùng 2 thuộc tứ giác Long Xuyên; vùng 3 thuộc vùng Bảy Núi. Mỗi khu vực nghiên cứu được thực hiện gồm một ruộng thực hiện nghiên cứu và một ruộng canh tác đối chứng. Thời gian canh tác vụ Thu - Đông từ tháng 8 đến tháng 12.
Vị trí nghiên cứu cụ thể như sau:

Bảng 1. Vị trí các mô hình nghiên cứu
 

STT

Địa điểm

Vị trí

Kinh độ

Vĩ độ

Bố trí

1

Xã Tân Tuyến, huyện Tri Tôn (địa giới hành chính cũ)

Mô hình

105.479885°

10.396141°

image001-1784860005.png

Đối chứng

105.480411°

10.396494°

 

2

Xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn (địa giới hành chính cũ)  

Mô hình

105.202564°

10.217194°

image002-1784860018.png

Đối chứng

105.200893°

10.215644°

 

3

Xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới (địa giới hành chính cũ)   

Mô hình

105.090350°

10.337177°

image003-1784860022.png

Đối chứng

105.092929°

10.337864°

 

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện triển khai 3 mô hình LMCNS trên 3 vùng sinh thái tỉnh An Giang. Thông qua mô hình đánh giá đa đạng sinh học (cá và côn trùng), hiệu quả kinh tế, nhận thức và mức độ chấp nhận mô hình LMNCNS của nông dân khu vực triển khai mô hình.

Mô hình sử dụng thay thế giống lúa cao sản vụ Thu - Đông bằng giống lúa mùa Hương Lài, kết hợp xả lũ có kiểm soát trong đê bao khép kín, triển khai trên diện tích mô hình từ 0,4 - 0,5 ha tại ba vùng sinh thái khác nhau. Mô hình bao gồm một vụ lúa mùa Hương Lài duy trì chế độ ngập (tùy điều kiện thực tế từng địa phương), rồi tiếp tục hai vụ lúa cao sản sau mùa lũ, mùa mưa. Thực hiện chế độ nước cho ruộng nghiên cứu LMCNS bằng cách kiểm soát chế độ ngập thường xuyên tối thiểu 100 cm (chọn ruộng trũng khu vực, ngập lụt khi xả lũ thực hiện mô hình). Ruộng LMCNS kiểm soát phân bón trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu (ghi nhận lượng phân bón sử dụng), so màu lá lúa để bón bổ sung phù hợp. Thuốc BVTV sử dụng cho ruộng LMCNS là thuốc trừ cỏ dại và diệt ốc đầu vụ. 

Thực hiện mô hình và ruộng đối chứng song song để đánh giá hiệu quả mô hình LMNCNS. 
Mẫu nghiên cứu được thu thập, đánh giá về đa dạng cá, côn trùng, hiệu quả kinh tế và chấp nhận của người dân, cụ thể như sau:

- Cá được thu trong vụ lúa Thu - Đông theo 3 đợt thu mẫu, từ thời điểm nước được cho vào ruộng cho đến khi nước rút.

- Mẫu côn trùng được thu tại 5 điểm (của khu vực triển khai mô hình) đường chéo góc của ruộng lúa mùa chịu ngập sâu, tại mỗi điểm thu mẫu trong phạm vi 1 m2. 

- Thời gian thu mẫu côn trùng tiêu thụ: thu 2 lần/ruộng (Lần 1 thu giai đoạn 30 ngày sau khi sạ, lần 2 thu vào giai đoạn 60 ngày sau khi sạ (giai đoạn làm đòng đến trổ bông)).

- Phỏng vấn tìm hiểu nhận thức và sự chấp nhận chuyển đổi mô hình LMCNS của nông dân vùng triển khai mô hình. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn 210 hộ nông dân ở 3 vùng triển khai mô hình (70 hộ nông dân/vùng). 

- Kết quả thu thập mẫu cá, côn trùng ở ruộng thí nghiệm của mỗi vùng nghiên cứu được tổng hợp so sánh về số lượng với ruộng đối chứng trong từng giai đoạn và toàn vụ nghiên cứu.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Hiệu quả từ mô hình LMCNS

3.1.1. Đa dạng về cá trên ruộng lúa mùa chịu ngập sâu 

Qua điều tra, thống kê tại mô hình LMCNS và định danh đã ghi nhận được 11 loài cá thuộc 4 bộ, 8 họ. Trong đó, đa phần các loài này đều là các loài phổ biến trên ruộng lúa, hệ thống kênh rạch ở địa phương và người dân thường bắt được để làm thức ăn. Tại các ruộng đối chứng thường xuyên khô hạn nên không ghi nhận được sự xuất hiện của các loài cá.
 

Bảng 2. Các loại cá ở các mô hình LMCNS tại 3 huyện của tỉnh An Giang

STT

Tên

Tiếng Việt

Tên khoa học

Bộ

Họ

Tri Tôn

Chợ Mới

Thoại Sơn

1

Cá lòng tong

Esomus metallicus (Ahl, 1923)

CYPRINIFORMES

Cyprinidae

+

+

+

2

Cá mè vinh

Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1849)

CYPRINIFORMES

Cyprinidae

+

+

+

3

Cá dảnh

Puntioplites proctozystron (Bleeker, 1865)

CYPRINIFORMES

Cyprinidae

-

+

-

4

Cá chốt sọc

Mystus mysticetus(Roberts, 1992)

SILURIFORMES

Bagridae

+

+

+

5

Cá trê vàng

Clarias macrocephalus (Günther, 1864)

SILURIFORMES

Clariidae

+

-

-

6

Cá lau kiếng

Pterygoplichthys disjunctivus (Weber, 1991)

SILURIFORMES

Loricariidae

+

+

+

7

Cá rô đồng

Anabas testudineus (Bloch, 1792)

ANABANTIFORMES

Anabantidae

+

+

+

8

Cá bã trầu

Trichopsis vittata (Cuvier, 1831)

ANABANTIFORMES

Osphronemidae

-

+

+

9

Cá sặc bướm

Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770)

ANABANTIFORMES

Osphronemidae

+

+

+

10

Cá lóc đồng

Channa striata (Bloch, 1793)

ANABANTIFORMES

Channidae

+

+

+

11

Cá rô phi vằn

Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)

CICHLIFORMES

Cichlidae

+

+

+

Cộng

10

10

9

Bảng 3. Số lượng họ cá ở các mô hình LMCNS tại 3 huyện của tỉnh An Giang

STT

Họ

Tri Tôn

Chợ Mới

Thoại Sơn

Đợt 1

Đợt 2

Đợt 3

Đợt 1

Đợt 2

Đợt 3

Đợt 1

Đợt 2

Đợt 3

1

Cyprinidae

2

2

1

2

1

1

2

1

1

2

Bagridae

1

1

1

1

1

1

1

1

1

3

Clariidae

 

1

1

1

 

 

 

1

 

4

Loricariidae

1

1

 

 

1

 

1

 

 

5

Anabantidae

 

1

1

 

 

1

 

1

1

6

Osphronemidae

 

1

 

2

1

 

1

1

 

7

Channidae

1

1

1

 

1

1

1

1

1

8

Cichlidae

1

 

 

1

2

 

1

 

 


Về bậc loài, Bảng 2 và Bảng 3 cho thấy có sự đa dạng và khác nhau về các loài hiện diện nhiều ở các thời đểm thu mẫu ở các mô hình.

Một số loài như: cá lòng tong, mè vinh và cá dảnh chỉ xuất hiện nhiều ở thời điểm thu mẫu đợt 1 (khi mô hình được điều tiết nước từ hệ thống kênh nội đồng vào ruộng). Một số loài thu được trong suốt quá trình canh tác lúa và ở tất cả các khu vực như là cá lóc, cá chốt sọc, cá rô đồng. 

Dựa trên số lượng mẫu thu được thì loài phổ biến nhất là cá rô đồng. Loài có số lượng ít nhất là cá trê vàng chỉ thu mẫu được ở Tri Tôn. Nhiều loài chỉ xuất hiện một lần và một khu vực như là cá trê vàng chỉ xuất hiện đợt 1 (Tri Tôn) và cá dảnh chỉ xuất hiện đợt 1 (Chợ Mới). Số lượng loài theo từng đợt thu mẫu có sự khác nhau, khác biệt này là do mực nước giữa các đợt thu mẫu có thay đổi và theo chu kì phát triển của cây lúa. Đến cuối chu kỳ sinh trưởng của cây lúa mực nước trong ruộng rút nhanh, các loài cá rút theo nước nên không thu hoạch cá trong ruộng để đánh giá.

Kết quả cho thấy, đa dạng về cá trên ruộng LMCNS trong vụ Thu - Đông tại khu vực nghiên cứu tương đối thấp. Chỉ ghi nhận được 11 loài cá thuộc 4 bộ như bộ cá chép (Cypriniformes), bộ cá da trơn (Siluriformes), bộ cá rô đồng (Anabantiformes), bộ cá rô phi (Cichliformes) và 8 họ. Kết quả này thấp hơn đáng kể so với các nghiên cứu trước đây ở cùng khu vực nghiên cứu. Nguyên nhân sự thấp hơn này có thể giải thích bởi sự suy giảm nguồn lợi thủy sản chung ngoài tự nhiên ở cả 3 khu vực nghiên cứu. Ở các vùng đê bao khép kín, không xả lũ và canh tác theo mô hình lúa cao sản ở địa phương là nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi thủy sản ngoài tự nhiên bởi thiếu môi trường sống sinh trưởng, phát triển do không duy trì ngập thường xuyên trong ruộng. Hơn nữa, việc canh tác lúa liên tục và sử dụng thuốc BVTV trên các ruộng lúa cao sản là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến đa dạng thủy sinh/cá trong vùng sản xuất lúa. Tuy nhiên, kết quả này chỉ ra, ruộng mô hình LMCNS có sự đa dạng về các loài cá sinh sống và phát triển. Số lượng cá cũng như loại cá khác nhau về thời điểm sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Mặt tích cực về đa dạng sinh học cho thấy cá xuất hiện trên ruộng LMCNS là rõ rệt trong khi ruộng đối chứng canh tác theo phương thức địa phương đang canh tác không có sự tồn tại của cá trong ruộng bởi nước trong ruộng không được duy trì thường xuyên.

3.1.2. Đa đạng về côn trùng và thiên địch trên ruộng lúa mùa chịu ngập sâu

Qua điều tra, thu mẫu côn trùng và thống kê tại khu vực triển khai mô hình, kết hợp với việc tra cứu tên các loài côn trùng thiên địch đã ghi nhận được 66 loài côn trùng thiên địch tại các mô hình.

Bảng 4. Côn trùng hiện diện trên mô hình LMCNS

STT

Loài*

Tri Tôn

Chợ Mới

Thoại Sơn

Số loài

T lệ (%)

Số loài

T lệ (%)

Số loài

T lệ (%)

1

Sâu hại

42

71,2

43

75,4

40

74,1

2

Thiên địch

13

22,0

10

17,5

11

20,4

3

Chưa rõ vai trò

4

6,8

4

7,0

3

5,6

 

Tổng loài

59

100

57

100

54

100


Tại Tri Tôn, Chợ Mới và Thoại Sơn đã ghi nhận được lần lượt số lượng các loài như sau: 59 loài, 57 loài và 54 loài (Bảng 4), trong đó có 4 bộ chiếm đa số, bao gồm bộ cánh nửa cứng (Hemiptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), bộ hai cánh (Diptera) và bộ cánh cứng (Coleoptera). Thành phần côn trùng hiện diện khá phong phú trên ruộng lúa mô hình và bên ngoài mô hình ở cả ba khu vực nghiên cứu.

Bảng 5. Độ phong phú tương đối của một số loài côn trùng

 

Tri tôn

Chợ Mới

Thoại Sơn

Tổng

Số loài

Số cá thể

Số loài

Số cá thể

Số loài

Số cá thể

Ruộng mô hình

47

344

43

362

38

387

1.093

Bên ngoài mô hình

41

283

38

242

35

263

788


Từ số liệu thu thập theo các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa ở ruộng mô hình và ruộng đối chứng bên ngoài mô hình cho thấy, tổng số cá thể hiện diện trên ba ruộng mô hình (1.093 cá thể) phong phú hơn trên ruộng ngoài mô hình (788 cá thể) (Bảng 5), từng vùng nghiên cứu cũng ghi nhận số lượng loài ở các mô hình phong phú hơn ruộng bên ngoài mô hình.

Trên ruộng mô hình, số lượng loài thu thập được theo các giai đoạn sinh trưởng. Thiên địch (ăn mồi và ký sinh) và nhện có số lượng loài phong phú hơn so với sâu hại. Số loài cao nhất ở giai đoạn đẻ nhánh, điều này là phù hợp vì giai đoạn này dịch hại hiện diện nhiều trên ruộng lúa.

Số lượng côn trùng và nhện theo nhóm chức năng trên ruộng mô hình luôn cao hơn so với ruộng ngoài mô hình. Nhóm rầy ở các ruộng mô hình và ngoài mô hình có sự tương đồng về số lượng loài. Tuy nhiên, nhóm ăn thực vật ở các ruộng ngoài mô hình có số lượng loài nhiều hơn so với ruộng mô hình. Ở nhóm nhện tổng số loài (13 loài) ghi nhận ở ba khu vực cao hơn ghi nhận ở từng mô hình (Bảng 6).

Tổng số loài thuộc nhóm chức năng thiên địch (loài ăn mồi, ký sinh và nhện), có tổng số loài cao nhất là nhóm ký sinh (16 loài), kế đến là nhóm nhện (13 loài) và thấp nhất là nhóm ăn mồi (12 loài). Số lượng loài của nhóm này trên ruộng mô hình luôn cao hơn ruộng ngoài mô hình. Theo Nguyễn Văn Huỳnh (Huỳnh N., 2002), một số loài nhện là thiên địch quan trọng góp phần làm giảm đáng kể ảnh hưởng của sâu hại trên ruộng lúa.

Bảng 6. Số lượng côn trùng và nhện theo nhóm chức năng

Nhóm chức năng

Tri Tôn

Chợ Mới

Thoại Sơn

Tổng cộng*

Mô hình

Bên ngoài

Mô hình

Bên ngoài

Mô hình

Bên ngoài

Rầy

6

6

5

5

6

6

8

Ăn thực vật

6

7

6

7

5

6

9

Nhện

8

6

8

6

5

4

13

Ký sinh

12

10

11

9

11

8

16

Ăn Mồi

11

8

9

7

9

8

12

Khác

4

4

4

4

2

3

8

Tổng

47

41

43

38

38

35

66

Ghi chú: *Tổng cộng là tổng số loài ghi nhận ở cả 3 huyện


3.1.3. Hiệu quả kinh tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng chi phí sản xuất một vụ lúa của mô hình LMCNS thấp hơn canh tác lúa truyền thống vụ 3 ở cả 3 điểm nghiên cứu. Chi phí sản xuất thấp hơn cụ thể là 17.949.770 đồng/ha/vụ ở Tri Tôn, 19.821.980 đồng/ha/vụ ở Thoại Sơn và 19.392.170 đồng/ha/vụ ở Chợ Mới. Trong khi đó chi phí cho canh tác truyền thống đang thực hiện tại khu vực triển khai các mô hình có sự chênh lệch khá lớn bởi chi phí phân bón và thuốc BVTV.

Thu nhập bình quân của các mô hình bị chi phối bởi yếu tố năng suất, giá lúa và chi phí sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập bình quân của hai mô hình canh tác LMCNS và lúa truyền thống vụ 3 có sự khác biệt khá lớn. Năng suất lúa của mô hình canh tác LMCNS thấp hơn canh tác lúa truyền thống vụ 3 ở các điểm thí nghiệm lần lượt là Tri tôn 990 kg/ha, Thoại Sơn 1.080 kg/ha, Chợ Mới 1.610 kg/ha. Thay vào đó, khi sản xuất LMCNS với việc sử dụng rất ít phân bón và thuốc BVTV nên tổng chi phí sản xuất thấp hơn rất nhiều so với canh tác lúa truyền thống vụ 3 ở các điểm nghiên cứu lần lượt là Tri tôn 2,6 lần, Thoại Sơn 3,1 lần, Chợ Mới 3,0 lần. 

Bảng 7. Các chỉ số tài chính của các mô hình sản xuất lúa mùa và 
canh tác lúa truyền thống vụ Thu - Đông 2022 ở các điểm thực hiện mô hình
(Đơn vị tính: 1.000 đồng/ha/vụ)

 

 

Tri Tôn

Thoại Sơn

Chợ Mới

Nội dung

Lúa mùa

Lúa đối chứng

Lúa mùa

Lúa đối chứng

Lúa mùa

Lúa đối chứng

Tổng chi phí

10.931

28.880

9.306

29.128

9.736

29.128

Làm đất

1.500

1.500

1.500

1.500

1.500

1.500

Giống

576

5.040

576

6.030

576

6.030

Công lao động

2.700

3.300

900

3.000

900

3.000

Thuốc BVTV

980

4.580

2.317

7.489

2.317

7.489

Phân bón

3.175

12.460

2.013

9.109

2.443

9.109

Thu hoạch

2.000

2.000

2.000

2.000

2.000

2.000

Tổng thu nhập

28.954

35.092

33.258

40.568

20.160

30.464

Năng suất (kg/ha)

4.670

5.660

4.930

6.010

3.150

4.760

Giá bán

6.200

6.200

6.750

6.750

6400

6400

Lợi nhuận

18.023

6.212

23.952

11.440

10.424

1.336

 (Chỉ số lợi nhuận thu được từ LMCNS chưa tính đến phần thu từ cá trong ruộng)


Kết quả cho thấy, nông hộ sản xuất LMCNS bỏ ra tương ứng 1 đồng chi phí sẽ thu lại lần lượt là 1,65 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Tri Tôn, 2,57 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Thoại Sơn, 1,07 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Chợ Mới. Trong khi đó, nông hộ sản xuất lúa truyền thống vụ 3 bỏ ra 1 đồng chi phí sản xuất chỉ thu lại lần lượt là 0,22 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Tri Tôn, 0,39 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Thoại Sơn, 0,05 đồng tỷ suất lợi nhuận tại Chợ Mới. Kết quả cho thấy hiệu quả rõ rệt của canh tác LMCNS so với canh tác lúa truyền thống. Sự chênh lệch hiệu quả giữa hai mô hình chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố chi phí sản xuất và năng suất.

3.2. Ý định chuyển đổi

Thực hiện khảo sát bằng hình thức phỏng vấn nông dân trồng lúa vùng khu vực nghiên cứu. Các nông dân phỏng vấn này cũng được tiếp cận với mô hình lúa mùa chịu ngập sâu tại địa phương (vùng). Theo kết quả phỏng vấn, nhiều hơn 77% (Bảng 8) số hộ ở các địa điểm nghiên cứu không đồng ý chuyển đổi từ hiện trạng canh tác lúa vụ 3 sang mô hình canh tác lúa mùa chịu ngập sâu. Cụ thể, trong số 70 hộ được phỏng vấn ở các huyện thì có đến 54 hộ ở Tri Tôn, 55 hộ ở Thoại Sơn và 62 hộ ở Chợ Mới không đồng ý chuyển đổi mô hình canh tác. 

Bảng 8. Ý định chuyển đổi của các nông hộ ở các điểm nghiên cứu

Huyện

Tri Tôn

Thoại Sơn

Chợ Mới

Ý định chuyển đổi

Không có

Không có

Không có

Số hộ

16

54

15

55

8

62

Phần trăm

22,9

77,1

21,4

78,6

11,4

88,6


Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, người dân ở các điểm triển khai mô hình LMCNS chưa có ý định chuyển đổi mô hình canh tác lúa mùa chịu ngập sâu mặc dù họ đã nhận ra những lợi ích về kinh tế, môi trường, xã hội từ mô hình LMCNS. Nguyên nhân chính được nông dân đưa ra là do chế độ thủy văn của khu vực trong những năm gần đây vào mùa lũ mực nước tương đối thấp không đủ điều kiện phù hợp để canh tác, sản xuất LMCMS; giá bán của giống lúa mùa không ổn định và thường thấp hơn một số giống lúa cao sản người dân đang sản xuất bởi thiếu thị trường tiêu thụ ổn định, quy mô và số lượng sản xuất nhỏ. Hơn nữa, người dân không sẵn sàng cũng như có ý định chuyển đổi sang mô hình LMCNS sản xuất vụ Thu - Đông là ngoài thị trường tiêu thụ không ổn định, chưa có đơn vị thu mua đúng với giá trị thực của sản phẩm, chế độ thủy văn cũng như hạ tầng thủy lợi tự nhiên hiện tại khu vực trong vùng không đáp ứng điều kiện canh tác. Ngoài ra theo đánh giá của nông dân sản xuất LMCNS sản xuất lớn có nguy cơ gặp rủi ro cao bởi phụ thuộc lớn vào lũ đầu nguồn đổ về cũng như thời tiết (lượng mưa) trong vụ canh tác.

5. Kết luận và kiến nghị

Qua kết quả triển khai 3 mô hình LMCNS cho thấy, mô hình canh tác LMCNS có lợi ích về đa dạng sinh học, tỷ suất lợi nhuận cao hơn lúa cao sản canh tác truyền thống… Mô hình này có thể áp dụng cho vụ thu đông xen kẻ với 2 vụ truyền thống hiện nông dân đang canh tác, kết hợp xả lũ cho các vùng đê bao. Mô hình này có tiềm năng là một mô hình nông nghiệp phát triển bền vững, thân thiện, giảm tác động đến môi trường... Mô hình có khả năng phát triển nhân rộng ở vùng có chế độ thủy văn tự nhiên phù hợp.

Tuy nhiên, việc nhận thức và chuyển đổi mô hình chưa có sự sẵn sàng của nông dân. Để mô hình có thể được nhân rộng, nghiên cứu kiến nghị: 

- Tăng cường nghiên cứu và tuyên truyền để người dân nhận thấy được lợi ích và hiệu quả của mô hình mang lại.

- Triển khai áp dụng mô hình ở vùng canh tác phù hợp như những vùng trũng, thấp thường ngập úng vào mùa mưa, vùng thấp ngoài đê bao, vùng có có điều kiện thủy văn phù hợp canh tác LMCNS.

- Cần có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và cán bộ chuyên môn về nguồn giống lúa, kỹ thuật và kinh nghiệm cho người dân khi thực hiện mô hình canh tác lúa mùa chịu ngập sâu.

- Cần có sự hợp tác của doanh nghiệp, xây dựng chuỗi giá trị và thị trường ổn định để đảm bảo đầu ra của sản phẩm LMCNS.

Nguyễn Thanh Hùng1, Trần Ngọc Châu1, Phạm Hồng Phúc2

1Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh

2Văn phòng Đăng ký đất đai - Chi nhánh liên xã, phường Tân Châu, An Giang

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Khoa học - Công nghệ II/2026)

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Huỳnh (2002). Nhện là thiên địch của sâu hại cây trồng. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.

2. Lê Thanh Phong, Trần Xuân Long, Võ Duy Thanh (2023). Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển lúa chịu ngập, thích ứng biến đổi khí hậu cho vùng thượng ĐBSCL. Trong Tuyển tập Bài Tham luận Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về lúa gạo. 

3. Lê Thanh Phong (2022). Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Hội thảo Nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác lúa mùa chịu ngập trong vụ Thu - Đông nhằm khôi phục hệ sinh thái đất đai và nguồn lợi thủy sản, thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh An Giang.

4. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Hữu Phước (2017). Khảo sát các dòng lúa mùa nổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, vụ mùa 2015-2016. Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang, số 15 (30).

5. Hồ Thanh Bình, Trần Nghĩa Khang (2013). Đánh giá chất lượng thương phẩm gạo lúa mùa nổi xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học An Giang.
6. Phạm Hồng Phúc (2024). Đánh giá chất lượng môi trường đất và đa dạng sinh học trong mô hình lúa mùa chịu ngập sâu vụ thu đông ở tỉnh An Giang. Luận văn tốt nghiệp cao học, Trường Đại học An Giang.

7. Trần Sỹ Nam, Hồ Vũ Khanh, Nguyễn Thị Kim Hai, Hồ Minh Nhựt và Huỳnh Công Khánh (2021). Đánh giá hiệu quả tài chính, xã hội, môi trường của mô hình canh tác lúa trong vùng đê bao trước và sau xả lũ tại huyện Tri Tôn, An Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Tập 57, Số chuyên đề Môi trường và Biến đổi khí hậu.

Đặt mua Tạp chí Môi trường