Tóm tắt
Sự hình thành và phát triển của thị trường các-bon đang tạo ra nhu cầu mới đối với nguồn nhân lực có khả năng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến đo lường, báo cáo, thẩm định, quản lý và giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, các nghiên cứu và chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ thị trường các-bon tại Việt Nam hiện chưa làm rõ đầy đủ sự khác biệt về mức độ và loại hình năng lực cần thiết cho các nhóm nguồn nhân lực các-bon khác nhau. Bài viết này xây dựng một khung khái niệm về phát triển nguồn nhân lực các-bon trong bối cảnh Việt Nam, dựa trên tổng hợp các nghiên cứu về kỹ năng xanh, việc làm xanh, kỹ năng cho việc làm xanh và các yêu cầu năng lực liên quan đến các-bon. Khung đề xuất phân nguồn nhân lực các-bon thành ba tầng: người lao động trong các nghề hiện hữu cần kỹ năng các-bon cơ bản giúp sử dụng năng lượng và vật tư hiệu quả và bền vững; kỹ thuật viên cần kỹ năng các-bon chuyên sâu kết hợp với kỹ năng nghề để hỗ trợ các hoạt động kiểm toán, báo cáo, thẩm định và giảm phát thải tại doanh nghiệp; và chuyên gia các-bon có năng lực chuyên môn cao. Trên cơ sở đó, bài viết phân định vai trò bổ trợ của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong phát triển ba tầng nhân lực này. Khung khái niệm cung cấp cơ sở cho hoạch định chính sách và phát triển kỹ năng đáp ứng nhu cầu của thị trường các-bon đang hình thành tại Việt Nam.
Từ khóa: Thị trường các-bon; nguồn nhân lực các-bon; kỹ năng các-bon; phân tầng kỹ năng; giáo dục nghề nghiệp.
Developing a Carbon Workforce for the Emerging Carbon Market through Skills Differentiation
Abstract
The emergence and development of the carbon market are creating new demands for a workforce capable of performing tasks related to greenhouse gas measurement, reporting, verification, management, and emissions reduction. However, existing research and workforce development policies for the carbon market in Vietnam have yet to clearly differentiate the levels and types of capabilities required across different groups of carbon workers. This paper develops a conceptual framework for carbon workforce development in Vietnam, drawing on research on green skills, green jobs, skills for green jobs, and carbon-related competency requirements. The framework differentiates the carbon workforce into three tiers: workers in existing occupations who require basic carbon skills to use energy and materials efficiently and sustainably; technicians who require specialised carbon skills combined with occupational skills to support carbon auditing, reporting, verification, and emissions reduction activities in enterprises; and carbon specialists with advanced professional expertise. Based on this framework, the paper delineates the complementary roles of higher education, technical and vocational education and training (TVET), and enterprises in developing these three workforce tiers. The framework provides a basis for policy development and skills development aligned with the emerging carbon market in Vietnam.
Keywords: Carbon market; carbon workforce; carbon skills; skills differentiation; technical and vocational education and training (TVET).
1. Giới thiệu
Việt Nam đang từng bước hình thành và vận hành thị trường các-bon trong nước. Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24 tháng 1 năm 2025 về “Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam” đã xác lập lộ trình phát triển thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cho các bên tham gia (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng để thực hiện các hoạt động liên quan đến kiểm kê khí nhà kính, đo lường, báo cáo, thẩm tra và giảm phát thải.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp không chỉ tạo ra các nghề và việc làm mới mà còn làm thay đổi nhiệm vụ và yêu cầu kỹ năng trong nhiều nghề hiện hữu, qua đó làm gia tăng nhu cầu nâng cao và đào tạo lại kỹ năng của người lao động (ILO, 2019; Doan et al., 2023). Các hoạt động giảm phát thải diễn ra trực tiếp trong sản xuất, vận hành và quản lý doanh nghiệp, nơi nhiều nhóm lao động tham gia vào việc sử dụng năng lượng, vật tư, thiết bị và công nghệ. Điều này đặt ra vấn đề đối với cách tiếp cận “nguồn nhân lực các-bon”. Nếu toàn bộ nhu cầu được quy về một nhóm nhân lực duy nhất, chính sách có thể tập trung quá nhiều vào đào tạo chuyên gia mà chưa giải quyết đầy đủ nhu cầu kỹ năng ở cấp kỹ thuật và sản xuất. Ngược lại, nếu chỉ tập trung vào các kỹ năng xanh phổ quát, hệ thống đào tạo có thể không đáp ứng được những yêu cầu chuyên môn sâu về kiểm kê khí nhà kính, đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV), phát triển dự án các-bon và các hoạt động liên quan đến thị trường.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một khung phân tầng nguồn nhân lực phục vụ thị trường các-bon theo mức độ chuyên môn hóa của kỹ năng, đồng thời phân định vai trò của giáo dục nghề nghiệp (GDNN), giáo dục đại học (GDĐH) và doanh nghiệp trong phát triển các nhóm nhân lực này. Bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: ai cần kỹ năng các-bon, cần kỹ năng ở mức độ nào và được phát triển thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo nào.
2. Một số khái niệm cơ bản liên quan
2.1. Kỹ năng xanh, việc làm xanh và kỹ năng cho việc làm xanh
Quá trình chuyển đổi xanh làm thay đổi cơ cấu việc làm và yêu cầu kỹ năng của lực lượng lao động. Những thay đổi này không chỉ tạo ra nghề và việc làm mới mà còn làm thay đổi nhiệm vụ và phương thức thực hiện công việc trong nhiều nghề hiện hữu. Do đó, cần phân biệt ba khái niệm có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất: kỹ năng xanh (green skills), việc làm xanh (green jobs) và kỹ năng cho việc làm xanh (skills for green jobs).
Kỹ năng xanh là kiến thức, kỹ năng và năng lực giúp người lao động thực hiện công việc theo hướng bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và vật tư, và hỗ trợ chuyển đổi sang nền kinh tế bền vững hơn (ILO, 2019). Trong GDNN, kỹ năng xanh không chỉ bao gồm kỹ năng kỹ thuật liên quan đến công nghệ xanh mà còn bao gồm năng lực thực hiện các thực hành bền vững tại nơi làm việc (UNESCO-UNEVOC, 2017). Có thể phân thành ba nhóm chính: kỹ năng xanh cơ bản/phổ quát; kỹ năng xanh theo đặc thù nghề nghiệp; và kỹ năng quản lý, tổ chức phục vụ sản xuất bền vững và giảm phát thải khí nhà kính (ILO, 2019; UNESCO-UNEVOC, 2017; Cedefop, 2023).
Việc làm xanh tập trung vào bản thân công việc và đóng góp của công việc đối với môi trường. Theo ILO (2019), việc làm xanh vừa góp phần bảo tồn hoặc khôi phục môi trường, vừa đáp ứng các tiêu chí về việc làm thỏa đáng. Tuy nhiên, việc làm xanh không đồng nghĩa với việc người lao động có đầy đủ kỹ năng xanh. Kỹ năng cho việc làm xanh là những năng lực cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ của việc làm xanh, có thể bao gồm sự kết hợp giữa kỹ năng xanh với kỹ năng nghề nghiệp và kỹ thuật (ILO, 2019). Sự phân biệt này là cơ sở để xác định kỹ năng các-bon ở các mức độ chuyên môn hóa khác nhau.
2.2. Kỹ năng các-bon và các mức độ chuyên môn hóa
Trong bài viết này, kỹ năng các-bon được hiểu là tập hợp kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết để người lao động nhận diện, đo lường, quản lý, báo cáo và giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, phương pháp và quản lý liên quan đến các-bon trong phạm vi công việc của mình. Kỹ năng các-bon vì vậy không chỉ thuộc về một nhóm chuyên gia riêng biệt mà có thể được yêu cầu ở nhiều nghề và vị trí việc làm với mức độ chuyên môn hóa khác nhau. Cách tiếp cận này phù hợp với ILO (2019), theo đó chuyển đổi xanh làm thay đổi nhu cầu kỹ năng từ những năng lực phổ quát đến kỹ năng kỹ thuật và chuyên môn sâu.

Kỹ năng các-bon cơ bản là một thành phần của kỹ năng xanh cơ bản, cần được bổ sung cho người lao động trong các nghề hiện hữu. Người lao động cần nhận biết các nguồn phát thải liên quan đến công việc, sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả, hạn chế chất thải và thực hiện quy trình làm việc theo hướng giảm phát thải. Ở mức này, người lao động không thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về các-bon mà áp dụng các kỹ năng phù hợp với nghề nghiệp của mình (ILO, 2019; UNESCO-UNEVOC, 2017). Kỹ năng các-bon chuyên sâu theo đặc thù nghề là một bộ phận của kỹ năng cho việc làm xanh, được kết hợp với kỹ năng nghề nghiệp và kỹ thuật để thực hiện các nhiệm vụ quản lý và giảm phát thải tại doanh nghiệp. Nhóm này có thể bao gồm thu thập và quản lý dữ liệu phát thải, hỗ trợ kiểm kê và báo cáo, theo dõi sử dụng năng lượng và tài nguyên, cũng như hỗ trợ các hoạt động kiểm toán, thẩm định và giảm phát thải (ILO, 2019; Cedefop, 2023). Kỹ năng các-bon ở mức chuyên môn cao là lĩnh vực chuyên môn chính của người lao động. Chuyên gia các-bon cần năng lực chuyên sâu về kiểm kê và hạch toán khí nhà kính, đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV), cần nắm vững các tiêu chuẩn và phương pháp luận các-bon, cơ chế và thị trường các-bon, cùng các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật liên quan.
Như vậy, kỹ năng các-bon bao phủ một phổ từ năng lực phổ quát đến năng lực chuyên môn cao. Ba mức độ này là cơ sở để phân tầng nguồn nhân lực và xác định định hướng phát triển kỹ năng thông qua giáo dục nghề nghiệp (GDNN), giáo dục đại học (GDĐH) và doanh nghiệp.
3. Thị trường các-bon tại Việt Nam và nhu cầu nguồn nhân lực
Việt Nam đang từng bước hình thành và vận hành thị trường các-bon. Nghị định số 06/2022/NĐ-CP thiết lập các quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tổ chức, phát triển thị trường các-bon trong nước. Quyết định số 232/QĐ-TTg năm 2025 xác định lộ trình phát triển thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức và năng lực cho các bên tham gia (Thủ tướng Chính phủ, 2022, 2025). Quá trình này tạo ra những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp, từ xác định nguồn phát thải, thu thập và quản lý dữ liệu, kiểm kê và báo cáo khí nhà kính đến triển khai các biện pháp giảm phát thải.
Đối với các hoạt động liên quan đến tín chỉ các-bon, yêu cầu có thể mở rộng sang phát triển dự án, đo lường kết quả giảm phát thải và đáp ứng các yêu cầu về thẩm tra, xác minh. Những nhiệm vụ này không chỉ thuộc về chuyên gia các-bon, mà liên quan đến nhiều vị trí trong quá trình sản xuất, từ vận hành và bảo trì thiết bị đến quản lý năng lượng, nguyên vật liệu và dữ liệu. Do đó, nhu cầu nhân lực phục vụ thị trường các-bon bao gồm cả việc tích hợp kỹ năng các-bon vào lực lượng lao động hiện hữu và phát triển năng lực kỹ thuật hỗ trợ quản lý, đo lường và giảm phát thải.
Định hướng này phù hợp với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, trong đó phát triển nguồn nhân lực và việc làm xanh, đào tạo nhân lực cho các ngành nghề xanh và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp được xác định là những nhiệm vụ quan trọng (Thủ tướng Chính phủ, 2021a, 2022). Tuy nhiên, các định hướng hiện nay chưa phân biệt rõ các nhóm nhân lực theo mức độ chuyên môn và vị trí trong quá trình sản xuất.
Trong khi một số nhiệm vụ đòi hỏi chuyên môn sâu về các-bon, nhiều nhiệm vụ khác có thể được thực hiện bởi kỹ thuật viên hoặc người lao động trong các nghề hiện hữu sau khi được bổ sung các kỹ năng phù hợp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực cho thị trường các-bon cần chuyển từ cách tiếp cận chung về “đào tạo nhân lực các-bon” sang xác định ai cần kỹ năng các-bon, cần ở mức độ nào và được đào tạo thông qua hệ thống nào.
4. Phân tầng nguồn nhân lực phục vụ thị trường các-bon
4.1. Cơ sở của cách tiếp cận phân tầng
Nhu cầu nhân lực phục vụ thị trường các-bon khác nhau về mức độ chuyên môn, phạm vi trách nhiệm và vị trí trong quá trình sản xuất. Trong khi một số vị trí đòi hỏi chuyên môn sâu về kiểm kê khí nhà kính, MRV và thị trường các-bon, nhiều vị trí khác chỉ cần bổ sung kỹ năng các-bon vào nghề nghiệp hiện hữu. Trên cơ sở các mức độ chuyên môn hóa của kỹ năng các-bon được trình bày ở Phần 2, bài viết đề xuất phân tầng nguồn nhân lực theo mức độ chuyên môn hóa và vai trò trong quản lý, hỗ trợ và giảm phát thải. Đây là khung phân tích do tác giả đề xuất, không phải hệ thống phân loại nghề nghiệp chính thức. Mục đích là làm rõ nhóm lao động nào cần kỹ năng các-bon, ở mức độ nào và định hướng phát triển kỹ năng nào phù hợp với từng nhóm.
4.2. Ba tầng nguồn nhân lực
Bảng 1. Phân tầng nguồn nhân lực và định hướng phát triển kỹ năng phục vụ thị trường các-bon
|
Tầng |
Nhóm nguồn nhân lực |
Trọng tâm năng lực |
Định hướng phát triển |
|
3-Chuyên môn cao |
Chuyên gia các-bon |
Năng lực chuyên môn sâu về các-bon và thị trường các-bon |
GDĐH và các chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học |
|
2-Chuyên sâu |
Kỹ thuật viên hỗ trợ kiểm toán, báo cáo, thẩm định và giảm phát thải các-bon |
Kỹ năng các-bon chuyên sâu theo đặc thù nghề, kết hợp với kỹ năng nghề |
Đào tạo chuyên sâu trong GDNN; đào tạo nâng cao tại doanh nghiệp |
|
1-Phổ quát/cơ bản |
Người lao động trong các ngành nghề hiện hữu |
Kỹ năng các-bon cơ bản/phổ quát kết hợp với kỹ năng nghề nghiệp |
Tích hợp vào chương trình GDNN/GDĐH; đào tạo bổ sung tại doanh nghiệp |
Tầng-Người lao động trong các ngành nghề hiện hữu: Đây là nhóm có quy mô lớn nhất, trong đó người lao động tiếp tục thực hiện nghề hiện hữu nhưng được bổ sung các kỹ năng các-bon phù hợp với công việc. Các năng lực cơ bản bao gồm nhận diện nguồn tiêu thụ năng lượng và phát thải, sử dụng hiệu quả năng lượng và nguyên vật liệu, giảm chất thải và thực hiện quy trình sản xuất theo hướng ít phát thải. Mục tiêu không phải hình thành một nhóm “nhân lực các-bon” mới mà là xanh hóa cách thực hiện các nghề hiện hữu. Cách tiếp cận này phù hợp với ILO (2019) và UNESCO-UNEVOC (2017), trong đó xanh hóa GDNN bao gồm điều chỉnh năng lực nghề nghiệp để đáp ứng những thay đổi của nền kinh tế và nơi làm việc.
Tầng 2-Kỹ thuật viên hỗ trợ kiểm toán, báo cáo, thẩm định và giảm phát thải các-bon: Nhóm này có nền tảng kỹ thuật nghề nghiệp trong các lĩnh vực như điện, điện tử, cơ khí, cơ điện tử, công nghệ môi trường và năng lượng, đồng thời được bổ sung các kỹ năng các-bon chuyên sâu phù hợp với nhiệm vụ. Họ có thể tham gia thu thập và quản lý dữ liệu hoạt động, đo lường, theo dõi tiêu thụ năng lượng, cung cấp dữ liệu cho kiểm kê và báo cáo, hoặc triển khai các giải pháp kỹ thuật giảm phát thải. Do yêu cầu khác nhau giữa các ngành và vị trí việc làm, không nên xác định trước một bộ năng lực thống nhất cho tầng này. Việc xác định nhu cầu kỹ năng cần dựa trên phân tích nhu cầu kỹ năng và sự thay đổi của công việc trước khi chuyển thành các giải pháp đào tạo (Cedefop & UNESCO-UNEVOC, 2025).
Tầng 3-Chuyên gia các-bon: Đây là nhóm có quy mô nhỏ nhất nhưng mức độ chuyên môn hóa cao nhất, trong đó năng lực về các-bon là thành phần cốt lõi của công việc. Các nhiệm vụ có thể bao gồm kiểm kê khí nhà kính, MRV, phát triển và quản lý dự án các-bon, tư vấn giảm phát thải, phân tích chính sách và các hoạt động chuyên môn liên quan đến thị trường các-bon. Nhóm này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức về các-bon với môi trường, kỹ thuật, dữ liệu, kinh tế, quản lý và chính sách. Vì vậy, phát triển tầng này chủ yếu thuộc về GDĐH và các chương trình đào tạo chuyên sâu.
Trong mô hình này, mức độ chuyên môn hóa tăng dần trong khi quy mô nhu cầu nhân lực giảm dần từ Tầng 1 đến Tầng 3. Nội dung và hình thức đào tạo cần được điều chỉnh theo vị trí việc làm, mức độ chuyên môn và nhiệm vụ thực tế của từng nhóm. Đây là cơ sở để xác định vai trò của GDNN, GDĐH và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ thị trường các-bon.
5. Vai trò của GDĐH, GDNN và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực các-bon
Phát triển nguồn nhân lực các-bon đòi hỏi sự tham gia của GDĐH, GDNN và doanh nghiệp với những vai trò khác nhau nhưng bổ trợ và kết nối với nhau. Sự phân định này không tương ứng cứng nhắc giữa từng chủ thể với một tầng nguồn nhân lực, mà phản ánh vai trò trọng tâm theo mức độ chuyên môn hóa, đặc điểm nghề nghiệp và yêu cầu thực tế của thị trường lao động.
GDNN có vai trò quan trọng ở Tầng 1 và Tầng 2. Ở Tầng 1, GDNN có thể tích hợp các kỹ năng các-bon cơ bản vào các chương trình đào tạo nghề hiện hữu, giúp người học nhận diện và xử lý các vấn đề liên quan đến năng lượng, nguyên vật liệu, chất thải và phát thải trong quá trình thực hiện công việc. Cách tiếp cận này cho phép phát triển kỹ năng các-bon phổ quát cho lực lượng lao động mà không nhất thiết hình thành nghề mới. Ở Tầng 2, GDNN có thể phát triển các mô-đun chuyên sâu trên nền tảng những nghề hiện có hoặc, khi nhu cầu thị trường đủ rõ, xây dựng chương trình đào tạo cho nghề mới. Nội dung và mức độ chuyên sâu cần dựa trên phân tích nhu cầu kỹ năng và vị trí việc làm cụ thể, bảo đảm phản ánh nhiệm vụ thực tế của doanh nghiệp.
GDĐH giữ vai trò trọng tâm trong phát triển Tầng 3 - chuyên gia các-bon, đặc biệt đối với những vị trí đòi hỏi năng lực chuyên môn sâu về kiểm kê và hạch toán khí nhà kính, đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV), phương pháp luận các-bon, quản lý các-bon và thị trường các-bon. Các năng lực này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức về các-bon với kỹ thuật, môi trường, dữ liệu, kinh tế và chính sách. Bên cạnh đào tạo chuyên gia, GDĐH có thể tích hợp nội dung về các-bon vào các ngành đào tạo liên quan để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, GDĐH và GDNN không nên được xem là hai hệ thống tách biệt theo trình độ; GDNN có lợi thế trong phát triển lực lượng kỹ thuật ở quy mô lớn, trong khi GDĐH có vai trò nổi bật đối với các năng lực chuyên môn cao.
Doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu và chuyển hóa kỹ năng các-bon thành năng lực thực hiện công việc. Các yêu cầu này phát sinh từ thay đổi về công nghệ, quy trình sản xuất, sử dụng năng lượng và tài nguyên, yêu cầu báo cáo, chuỗi cung ứng và các quy định liên quan đến phát thải. Doanh nghiệp cần tham gia xác định nhiệm vụ nghề nghiệp, nhận diện khoảng trống kỹ năng và cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng hoặc điều chỉnh chương trình đào tạo. Đồng thời, doanh nghiệp là môi trường quan trọng cho đào tạo tại nơi làm việc, nâng cao và đào tạo lại kỹ năng, đặc biệt đối với Tầng 1 và Tầng 2, nơi người lao động có thể bổ sung kỹ năng các-bon trên nền tảng nghề nghiệp hiện có. Sự tham gia của doanh nghiệp cũng giúp kiểm chứng mức độ phù hợp của chương trình đào tạo với yêu cầu thực tế và tạo điều kiện phát triển năng lực thông qua thực hành.
Như vậy, GDNN, GDĐH và doanh nghiệp cần được xem là các thành phần của một hệ thống phát triển nguồn nhân lực các-bon có tính liên kết. GDNN tập trung vào tích hợp kỹ năng các-bon vào các nghề hiện hữu và phát triển lực lượng kỹ thuật; GDĐH phát triển các năng lực chuyên môn cao; trong khi doanh nghiệp xác định nhu cầu thực tế, tham gia phát triển kỹ năng và cung cấp môi trường học tập tại nơi làm việc. Sự phối hợp này cho phép phát triển nguồn nhân lực các-bon theo cả chiều rộng và chiều sâu.
6. Kết luận và hàm ý chính sách
Sự hình thành thị trường các-bon tại Việt Nam đang tạo ra nhu cầu nhân lực ở nhiều mức độ chuyên môn khác nhau, không chỉ đối với chuyên gia các-bon mà còn đối với kỹ thuật viên và người lao động trong các nghề hiện hữu. Trên cơ sở phân biệt các mức độ chuyên môn hóa của kỹ năng các-bon, bài viết đề xuất khung phân tầng nguồn nhân lực thành ba tầng: (1) người lao động trong các nghề hiện hữu cần kỹ năng các-bon cơ bản; (2) kỹ thuật viên cần kỹ năng các-bon chuyên sâu kết hợp với kỹ năng nghề; và (3) chuyên gia có năng lực chuyên môn cao về các-bon và thị trường các-bon. Khung này cho thấy phát triển nguồn nhân lực các-bon cần được tiếp cận theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Về chính sách và đào tạo, không nên chỉ tập trung vào đào tạo chuyên gia các-bon mà cần đồng thời tích hợp kỹ năng các-bon vào các nghề hiện hữu, phát triển năng lực kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp và tăng cường phối hợp giữa GDNN, GDĐH và doanh nghiệp. Đối với GDNN, ưu tiên trước mắt là xanh hóa các chương trình hiện có và chuẩn bị năng lực kỹ thuật cho những nhiệm vụ mới phát sinh từ quá trình giảm phát thải. Việc xác định cụ thể kỹ năng, nhiệm vụ và chuẩn đầu ra cần dựa trên phân tích nhu cầu kỹ năng và phân tích vị trí việc làm trước khi phát triển hoặc điều chỉnh chương trình đào tạo.
Khung đề xuất trong bài là khung phân tích, chưa phải khung năng lực hay chương trình đào tạo hoàn chỉnh. Nghiên cứu tiếp theo cần kiểm chứng cách tiếp cận này thông qua phân tích nhu cầu kỹ năng và vị trí việc làm tại các ngành có mức phát thải cao, từ đó xác định yêu cầu năng lực và hình thức đào tạo phù hợp cho từng nhóm lao động.
Nguyễn Lê Tùng Phong
Đại học Swinburne tại Vietnam
Phạm Việt Hà
Tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ)
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 7/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Albertz, A., & Pilz, M. (2025). Green alignment, green vocational education and training, green skills and related subjects: A literature review on actors, contents and regional contexts. International Journal of Training and Development, 29(2), 243–254. https://doi.org/10.1111/ijtd.12359.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026). Thông tư số 55/2026/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 6 năm 2026 quy định chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218954&pageid=27160.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024, September 25). To operate a carbon market in Viet Nam. https://en.mae.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin-Eng.aspx?ItemID=8406.
4. Cedefop. (2024a). Greening apprenticeships: From grassroots initiatives to comprehensive approaches. Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2801/708025.
5. Cedefop. (2024b). Tracking the green transition in labour markets: Using big data to identify the skills that make jobs greener. Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2801/103439.
6. Cedefop, & UNESCO-UNEVOC. (2025). Meeting skill needs for the green transition: Skills anticipation and VET for a greener future: Cedefop practical guide 4. Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2801/6833866.
7. Doan, D., Luu, T., Nguyen, N. T., & Safir, A. (2023). Green jobs: Upskilling and reskilling Vietnam’s workforce for a greener economy. World Bank. https://documents.worldbank.org/pt/publication/documents-reports/documentdetail/099091823063517461.
8. Fuchs, M. (2024). Green skills for sustainability transitions. Geography Compass, 18(10), e70003. https://doi.org/10.1111/gec3.70003.
9. International Labour Organization. (2019). Skills for a greener future: A global view. International Labour Office. https://www.ilo.org/publications/skills-greener-future-global-view.
10. International Labour Organization. (2022). Greening TVET and skills development: A practical guidance tool. International Labour Office. https://www.ilo.org/publications/greening-technical-vocational-education-training-and-skills-development.
11. Quốc hội. (2025). Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=216505&pageid=27160.
12. Thủ tướng Chính phủ. (2021a). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=204226&pageid=27160.
13. Thủ tướng Chính phủ. (2021b). Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2021 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=204883&pageid=27160.
14. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=206215&pageid=27160.
15. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2025 phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=212592.
16. UNESCO-UNEVOC International Centre for Technical and Vocational Education and Training. (2017). Greening technical and vocational education and training: A practical guide for institutions. UNESCO. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000259632.
17. United Nations Development Programme. (2025). High-integrity các-bon markets toolkit. https://www.undp.org/publications/high-integrity-các-bon-markets-toolkit.
18. United Nations Framework Convention on Climate Change. (2024). Capacity-building for implementing Article 6 of the Paris Agreement: Note by the secretariat (FCCC/PA/CMA/2024/INF.1). https://unfccc.int/documents/641853.