Từ khóa: Bảo vệ môi trường, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải.
Enhancing the Effectiveness of Environmental Protection in Industrial Parks and Clusters
Abstract:
The development of industrial parks (IPs) and industrial clusters (ICs) has placed increasingly demanding requirements on environmental protection. This article examines the current state of environmental protection in IPs and ICs in terms of waste treatment infrastructure, pollution-source control, environmental violations, and management and monitoring practices, thereby identifying the main difficulties and limitations. On that basis, the article proposes solutions to improve environmental infrastructure, strengthen risk-based management, control waste throughout its management chain, enhance data application and coordination, and promote greener production, contributing to more effective environmental protection in industrial parks and industrial clusters.
Keywords: Environmental protection, industrial clusters, industrial parks, pollution control, waste management.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các KCN và CCN ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tổ chức không gian sản xuất, thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm. Việc tập trung các cơ sở sản xuất vào KCN, CCN cũng tạo điều kiện đầu tư đồng bộ hơn về hạ tầng kỹ thuật, trong đó có hạ tầng bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do tập trung số lượng lớn doanh nghiệp với nhiều loại hình, công nghệ và quy mô sản xuất khác nhau, đây đồng thời là những khu vực phát sinh lượng lớn nước thải, khí thải, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại, tiềm ẩn nguy cơ tác động đến chất lượng môi trường nếu việc thu gom, xử lý và kiểm soát nguồn thải không được thực hiện đầy đủ.
Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường đối với KCN, CCN tiếp tục được hoàn thiện. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác lập các yêu cầu về hạ tầng bảo vệ môi trường đối với khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung và CCN; đến cuối năm 2025, Luật số 146/2025/QH15 tiếp tục sửa đổi một số quy định tại Điều 51 và Điều 52, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Đáng chú ý, đối với CCN, pháp luật hiện hành quy định việc hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường theo kế hoạch, lộ trình do UBND cấp tỉnh quyết định và cho phép một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ. Nghị định số 48/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các quy định này.
Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục đầu tư công trình xử lý chất thải mà còn phải bảo đảm hiệu quả vận hành, kiểm soát được toàn bộ quá trình phát sinh và dịch chuyển của chất thải, nâng cao khả năng nhận diện sớm nguy cơ và ngăn ngừa vi phạm. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng hạ tầng bảo vệ môi trường tại các KCN, CCN; phân tích một số dạng vi phạm và khó khăn nổi lên trong thực tiễn; qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, gắn phát triển công nghiệp với yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Bài viết giới thiệu tổng quan hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại các KCN và CCN trên phạm vi cả nước, tập trung vào ba nhóm vấn đề: hạ tầng thu gom, xử lý và kiểm soát nguồn thải; tình hình và phương thức vi phạm pháp luật về môi trường có liên quan đến hoạt động sản xuất công nghiệp; những khó khăn trong quản lý, giám sát và thực thi pháp luật. Số liệu về hạ tầng KCN, CCN chủ yếu được sử dụng đến hết năm 2025 theo Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; một số thông tin thực tiễn về vi phạm được cập nhật đến 6 tháng đầu năm 2026 từ tài liệu chuyên môn phục vụ nghiên cứu. Việc tách hai nhóm nguồn này nhằm tránh so sánh trực tiếp giữa các số liệu có phạm vi và phương pháp thống kê khác nhau.
2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN, CCN
2.1. Tình hình, đặc điểm bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Cùng với quá trình phát triển công nghiệp, các KCN, CCN đã hình thành những không gian sản xuất tập trung với nhiều ngành nghề như cơ khí, luyện kim, điện - điện tử, giấy, dệt nhuộm, hóa chất, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng và các hoạt động tái chế. Đặc điểm tập trung nhiều cơ sở sản xuất tạo thuận lợi cho xây dựng hạ tầng môi trường dùng chung nhưng đồng thời làm gia tăng áp lực lên khả năng thu gom, tiếp nhận và xử lý chất thải. Mức độ tác động đến môi trường không chỉ phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp mà còn gắn với ngành nghề, công nghệ, công suất sản xuất, loại nguyên liệu sử dụng và năng lực của các công trình bảo vệ môi trường.
Đối với hạ tầng thu gom, xử lý nước thải, các KCN đã đạt mức độ đầu tư tương đối cao. Theo kết quả tổng kết 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, đến hết năm 2025, cả nước có 324 KCN đang hoạt động, trong đó 309 KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt 95,37%; 100% số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và truyền dữ liệu về cơ quan quản lý nhà nước. Đối với các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong khu thực hiện xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường theo yêu cầu pháp luật. Kết quả này cho thấy hạ tầng kiểm soát nước thải tại KCN đã được cải thiện đáng kể; tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào mức độ đấu nối của các cơ sở thứ cấp, công suất tiếp nhận, công nghệ xử lý, chế độ vận hành và khả năng duy trì ổn định chất lượng nước thải sau xử lý.
Đối với CCN, mức độ hoàn thiện hạ tầng xử lý nước thải còn thấp hơn đáng kể. Đến hết năm 2025, có 251/723 CCN có hệ thống xử lý nước thải đi vào hoạt động, đạt 34,7%, tăng so với mức 8,9% năm 2016. Sự chênh lệch này phản ánh những khó khăn về nguồn vốn, quỹ đất, quy mô nguồn thải và điều kiện đầu tư hạ tầng tại nhiều CCN, nhất là các CCN hình thành từ giai đoạn trước. Tuy nhiên, việc đánh giá phải căn cứ từng trường hợp cụ thể. Luật số 146/2025/QH15 quy định CCN phải có hạ tầng bảo vệ môi trường theo khoản 1 Điều 51 Luật Bảo vệ môi trường, trừ trường hợp đặc thù do Chính phủ quy định; đối với CCN đang hoạt động, việc hoàn thành công trình hạ tầng bảo vệ môi trường được thực hiện theo kế hoạch, lộ trình do UBND cấp tỉnh quyết định. Nghị định số 48/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định một số trường hợp đặc thù không phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung khi các dự án, cơ sở thứ cấp có hệ thống xử lý riêng đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung để mặc nhiên xác định CCN không đáp ứng quy định về bảo vệ môi trường.

Đối với chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại, đặc điểm quản lý có sự khác biệt so với nước thải. Chất thải phát sinh tại các doanh nghiệp trong KCN, CCN phải được phân loại, thu gom, lưu giữ phù hợp tại nguồn và được tái sử dụng, tái chế, xử lý hoặc chuyển giao cho tổ chức, cơ sở có chức năng theo quy định; chất thải nguy hại phải được quản lý riêng, không để lẫn với chất thải rắn công nghiệp thông thường. Do đó, hạ tầng phục vụ quản lý nhóm chất thải này chủ yếu gồm khu vực, kho, thiết bị lưu giữ tại cơ sở phát sinh và hệ thống thu gom, vận chuyển, chuyển giao đến cơ sở xử lý phù hợp, chứ không nhất thiết mỗi KCN, CCN đều phải đầu tư một cơ sở xử lý chất thải rắn hoặc chất thải nguy hại tập trung. Tài liệu nghiên cứu cho thấy mạng lưới thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải công nghiệp đã phát triển cùng quá trình mở rộng KCN, CCN; đến năm 2025, cả nước có 122 cơ sở xử lý chất thải nguy hại đang hoạt động. Số liệu công khai cũng ghi nhận 122 cơ sở xử lý chất thải nguy hại trên phạm vi cả nước, với tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý khoảng 98%. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở xử lý phân bố chưa đồng đều, khiến một số doanh nghiệp phải chuyển giao chất thải đến cơ sở xử lý ở địa bàn khác, làm tăng khoảng cách vận chuyển, chi phí xử lý và yêu cầu kiểm soát xuyên suốt quá trình chuyển giao chất thải.
Đối với bụi, khí thải, do phụ thuộc trực tiếp vào loại hình sản xuất, nguyên liệu, nhiên liệu và công nghệ, việc thu gom, xử lý chủ yếu được thực hiện tại từng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thay vì thông qua một hệ thống xử lý tập trung chung cho toàn KCN, CCN. Các ngành như sản xuất giấy và bột giấy, nhiệt điện, điện rác, luyện kim, xi măng, vật liệu xây dựng có thể phát sinh lượng lớn bụi, khí thải và các chất ô nhiễm đặc thù, đòi hỏi phải đầu tư công trình thu gom, xử lý phù hợp với từng nguồn phát sinh. Pháp luật hiện hành cũng đặt ra yêu cầu về công trình, biện pháp thu gom, xử lý bụi, khí thải và quan trắc môi trường đối với các dự án, cơ sở thuộc đối tượng tương ứng. Vì vậy, khi đánh giá hạ tầng bảo vệ môi trường của KCN, CCN cần xem xét đồng thời hạ tầng dùng chung do chủ đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng quản lý và hệ thống công trình bảo vệ môi trường của từng doanh nghiệp thứ cấp.
2.2. Một số đặc điểm vi phạm pháp luật về môi trường liên quan đến khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Theo báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, trong 6 tháng đầu năm 2026, Công an các địa phương đã phát hiện, xử lý và chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý 917 vụ vi phạm hành chính, với tổng số tiền xử phạt trên 35,9 tỷ đồng có liên quan đến các KCN, CCN trên địa bàn cả nước.
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, tại các KCN, CCN, hành vi vi phạm thường liên quan đến việc xả nước thải, khí thải chưa được xử lý hoặc xử lý không đáp ứng yêu cầu; không vận hành hoặc vận hành không đầy đủ công trình bảo vệ môi trường; phân loại, lưu giữ, vận chuyển, chuyển giao chất thải không đúng quy định; để lẫn chất thải nguy hại với chất thải rắn công nghiệp thông thường; tiếp nhận, xử lý chất thải không phù hợp với phạm vi hoặc năng lực được phép. Một số trường hợp còn sử dụng đường ống, van xả, điểm xả không đúng thiết kế hoặc lựa chọn thời điểm khó kiểm soát để thực hiện hành vi; sử dụng hồ sơ, chứng từ và dữ liệu môi trường nhằm che giấu hoặc hợp thức hóa quá trình phát sinh, chuyển giao và xử lý chất thải.
Trong một số vụ việc, mối quan hệ giữa chủ nguồn thải, đơn vị vận chuyển, cơ sở tái chế, xử lý và tổ chức trung gian làm cho quá trình truy nguyên dòng chất thải và xác định trách nhiệm trở nên phức tạp hơn. Thực tiễn nghiên cứu cũng cho thấy cần chú ý kiểm soát rủi ro đối với các nhóm hoạt động có lượng nguồn thải lớn hoặc công nghệ phức tạp như vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung; sản xuất giấy và bột giấy; thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; sản xuất năng lượng; luyện kim và vật liệu xây dựng. Việc xác định đây là nhóm lĩnh vực cần chú trọng quản lý theo rủi ro không đồng nghĩa với việc mặc nhiên xác định các doanh nghiệp thuộc các ngành này có vi phạm.
2.3. Một số khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Một là, mức độ hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường còn chưa đồng đều, đặc biệt tại các CCN. Nhiều KCN đã hình thành tương đối đầy đủ hệ thống xử lý nước thải tập trung và quan trắc tự động, trong khi số CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung vẫn chiếm tỷ lệ thấp. Việc đầu tư tại các CCN hình thành từ trước thường gặp khó khăn về quỹ đất, nguồn vốn, quy mô nguồn thải và khả năng cân đối chi phí vận hành. Bên cạnh đó, với các CCN thuộc diện thực hiện theo lộ trình hoặc trường hợp đặc thù theo pháp luật hiện hành, yêu cầu quản lý cần được xác định phù hợp với từng trường hợp cụ thể, tránh đánh giá chỉ dựa trên tiêu chí có hay không có một công trình xử lý tập trung.
Hai là, việc kiểm soát nguồn thải ngày càng đòi hỏi phải theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất và quản lý chất thải. Một KCN, CCN có thể tập trung nhiều loại hình sản xuất với thành phần nước thải, khí thải và chất thải rắn rất khác nhau. Vi phạm có thể xuất hiện ở khâu phát sinh, phân loại, lưu giữ, vận chuyển, chuyển giao hoặc xử lý, trong khi hồ sơ pháp lý tại một thời điểm chưa chắc phản ánh đầy đủ quá trình vận hành thực tế. Khi chất thải được chuyển qua nhiều đơn vị trung gian hoặc nhiều địa bàn, việc truy xuất nguồn gốc, xác định điểm xử lý cuối cùng và trách nhiệm của từng chủ thể càng trở nên khó khăn.
Ba là, dữ liệu phục vụ quản lý còn phân tán giữa nhiều lĩnh vực và yêu cầu về năng lực khai thác dữ liệu ngày càng cao. Thông tin về một cơ sở sản xuất có thể nằm trong hồ sơ môi trường, giấy phép, dữ liệu quan trắc, thông tin về công suất, nguyên liệu, sử dụng nước, năng lượng, vận chuyển và chuyển giao chất thải. Nếu các nguồn thông tin này không được kết nối hoặc đối chiếu kịp thời, việc nhận diện những biến động bất thường sẽ gặp khó khăn. Trong khi đó, một số phương thức vi phạm có thể liên quan đến hồ sơ, dữ liệu quan trắc hoặc nhiều chủ thể tham gia, làm giảm hiệu quả của cách thức kiểm tra chỉ dựa vào hồ sơ hoặc kiểm tra tại một thời điểm.
3. GIẢI PHÁP NÂN CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN, CCN
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường theo đúng đối tượng, kế hoạch và lộ trình pháp luật quy định. Đối với KCN, cần chú trọng duy trì hiệu quả vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, kiểm soát chất lượng nước thải đầu vào của các doanh nghiệp thứ cấp, đánh giá thường xuyên khả năng tiếp nhận và kịp thời nâng cấp công suất khi quy mô sản xuất tăng. Đối với CCN, cần đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống thu gom, thoát nước và xử lý nước thải theo kế hoạch, lộ trình của địa phương, đồng thời áp dụng đúng các quy định đối với trường hợp đặc thù. Cùng với đầu tư mới, cần coi hiệu quả vận hành, bảo dưỡng và khả năng xử lý thực tế là tiêu chí quan trọng hơn việc chỉ hoàn thành công trình về hình thức.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý từ kiểm soát điểm xả sang quản lý theo rủi ro và theo chuỗi chất thải. Cần phân loại cơ sở theo ngành nghề, công nghệ, quy mô và mức độ phát sinh chất thải để xác định mức độ giám sát phù hợp; tăng cường đối chiếu giữa nguyên liệu đầu vào, công suất sản xuất, lượng nước và năng lượng sử dụng, sản phẩm đầu ra với lượng chất thải phát sinh và năng lực xử lý. Đối với chất thải phải chuyển giao, cần nâng cao khả năng truy xuất từ chủ nguồn thải, đơn vị vận chuyển đến nơi tiếp nhận, tái chế hoặc xử lý cuối cùng. Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ xử lý hậu quả sang nhận diện sớm nguy cơ, đồng thời hạn chế khoảng trống trách nhiệm khi chất thải được chuyển qua nhiều chủ thể.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng khai thác dữ liệu môi trường. Cần tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về nguồn thải, giấy phép môi trường, quan trắc tự động, quản lý chất thải và các thông tin liên quan; tăng cường ứng dụng công nghệ để phân tích xu hướng, nhận diện bất thường và hỗ trợ cảnh báo sớm. Đối với hệ thống quan trắc tự động, bên cạnh việc duy trì truyền dữ liệu liên tục, cần bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng kiểm tra và truy xuất dữ liệu, hạn chế nguy cơ can thiệp hoặc làm sai lệch thông tin. Việc khai thác dữ liệu hiệu quả sẽ giúp hoạt động kiểm tra, giám sát tập trung đúng cơ sở có mức độ rủi ro cao thay vì dàn trải.
Thứ tư, tăng cường phối hợp và làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường KCN, CCN. Công tác này cần có sự phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cơ quan quản lý KCN, CCN, chính quyền địa phương, lực lượng kiểm tra, thực thi pháp luật, chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp. Trọng tâm là chia sẻ, đối chiếu thông tin, xử lý kịp thời dấu hiệu bất thường và phân định rõ trách nhiệm trong quản lý hạ tầng, đấu nối nước thải, quản lý chất thải, quan trắc và ứng phó sự cố môi trường. Đối với chủ đầu tư hạ tầng, cần nâng cao vai trò từ cung cấp hạ tầng đơn thuần sang tổ chức, giám sát và điều phối hoạt động môi trường trong toàn khu, cụm.
Thứ năm, gắn kiểm soát ô nhiễm với đổi mới công nghệ, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp xanh. Bảo vệ môi trường tại KCN, CCN về lâu dài không thể chỉ dựa vào xử lý chất thải sau phát sinh mà cần giảm chất thải ngay từ quá trình sản xuất. Doanh nghiệp cần được khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm nước và năng lượng, tái sử dụng nguyên liệu, phụ phẩm phù hợp quy định và đổi mới công nghệ theo hướng ít phát thải. Đối với KCN, việc phát triển và chuyển đổi sang mô hình KCN sinh thái, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp và sử dụng hiệu quả tài nguyên là một hướng đi phù hợp với Nghị định số 35/2022/NĐ-CP và xu thế phát triển xanh hiện nay.
4. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác bảo vệ môi trường tại các KCN đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện rõ ở tỷ lệ KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt trên 95% vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, hạ tầng bảo vệ môi trường tại các CCN còn chưa đồng đều; cùng với đó, việc kiểm soát chất thải đang trở nên phức tạp hơn khi nguy cơ vi phạm có thể phát sinh ở nhiều công đoạn từ sản xuất đến vận chuyển, chuyển giao và xử lý cuối cùng. Điều này cho thấy việc đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường không nên chỉ dựa vào sự hiện diện của công trình xử lý mà cần chú trọng hiệu quả vận hành và khả năng kiểm soát thực chất dòng chất thải.
Trong thời gian tới, cần đồng thời thực hiện các giải pháp về hoàn thiện hạ tầng theo đúng lộ trình pháp luật; đổi mới quản lý theo mức độ rủi ro và chuỗi chất thải; tăng cường kết nối, khai thác dữ liệu; nâng cao hiệu quả phối hợp và trách nhiệm của các chủ thể; đồng thời thúc đẩy sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và KCN sinh thái. Đây là cơ sở để chuyển từ tư duy chủ yếu xử lý ô nhiễm sang chủ động phòng ngừa, giảm phát sinh chất thải và gắn bảo vệ môi trường với nâng cao chất lượng phát triển công nghiệp.
Nguyễn Hồng Thuyên1
1Học viện Cảnh sát nhân dân
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 7/2026)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (2020–2025).
2. Quốc hội (2025), Luật Bảo vệ môi trường.
3. Chính phủ (2026), Nghị định số 48/2026/NĐ-CP ngày 29/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP.
4. Chính phủ (2022), Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
5. Chính phủ (2024), Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
6. Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (2026), Báo cáo/tài liệu tổng hợp kết quả công tác 6 tháng đầu năm 2026 trong lĩnh vực công thương.