Tóm tắt
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 đã xác lập định hướng chiến lược về phát triển bền vững (PTBV) kinh tế biển (KTB) Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết và các văn bản chính sách liên quan, bài viết phân tích những kết quả nổi bật trong quản trị biển (QTB), hoàn thiện quy hoạch không gian biển (KGB), phát triển KTB, điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển, bảo vệ HST biển. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã hình thành nền tảng quan trọng cho mô hình QTB tổng hợp, dựa trên không gian và tiếp cận HST. Tuy nhiên, thể chế điều phối, nguồn lực khoa học - công nghệ, cơ sở dữ liệu biển và liên kết vùng vẫn là những điểm nghẽn cần tiếp tục khắc phục trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Nghị quyết số 36-NQ/TW, KTB xanh, QTB, tài nguyên môi trường biển, PTBV.
SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIETNAM’S MARINE ECONOMY AFTER EIGHT YEARS OF IMPLEMENTING RESOLUTION NO. 36-NQ/TW: RESULTS, LIMITATIONS AND POLICY ORIENTATIONS
Abstract
Resolution No. 36-NQ/TW dated 22 October 2018 established Vietnam’s strategic orientation for sustainable marine economic development to 2030, with a vision to 2045. Based on the eight-year review report and relevant policy documents, this paper analyses key outcomes in ocean governance, marine spatial planning, marine economic development, surveys of marine resources and marine environment, ecosystem protection. The findings indicate that Vietnam has developed an important foundation for integrated, space-based and ecosystem-oriented ocean governance. Nevertheless, inter-sectoral coordination, scientific and technological capacity, marine data infrastructure and regional linkages remain critical bottlenecks that need to be addressed in the next stage of policy implementation.
Keywords: Resolution No. 36-NQ/TW, blue economy, ocean governance, marine resources and environment, sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Biển và đại dương giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia ven biển ở thế kỷ XXI. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường biển, cạnh tranh chiến lược trên biển và xu thế chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, phát triển KTB không chỉ là vấn đề tăng trưởng kinh tế mà còn là nội dung cốt lõi của an ninh môi trường, an ninh sinh kế, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Đối với Việt Nam, với lợi thế có đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km² và hệ thống đảo, quần đảo phong phú, biển là không gian sinh tồn, không gian phát triển và không gian chiến lược gắn với mục tiêu xây dựng quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược PTBV KTB Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển biển, từ khai thác tài nguyên theo ngành sang phát triển KTB bền vững, hiện đại, dựa trên quản trị tổng hợp, bảo tồn HST, tăng trưởng xanh, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Sau 8 năm thực hiện, nhiều kết quả quan trọng đã được ghi nhận trong hoàn thiện thể chế; quy hoạch KGB; điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; phát triển các ngành KTB; bảo vệ môi trường (BVMT) và phục hồi HST. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy một số thách thức lớn, như thể chế QTB còn phân tán; cơ chế điều phối liên ngành chưa thật sự hiệu quả; dữ liệu biển chưa được tích hợp đồng bộ; nguồn lực cho khoa học - công nghệ biển còn hạn chế; liên kết vùng ven biển chưa tương xứng với yêu cầu phát triển... Trên cơ sở đó, bài viết phân tích kết quả, hạn chế, từ đó đề xuất định hướng chính sách PTBV KTB Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Kết quả công tác triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW
2.1. Chuyển biến trong QTB và hoàn thiện thể chế
Một trong những kết quả nổi bật là nhận thức, phương thức quản lý biển từng bước chuyển từ quản lý phân tán theo ngành sang quản lý tổng hợp, thống nhất và dựa trên KGB. Công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết được triển khai trong toàn hệ thống chính trị, các bộ, ngành, địa phương ven biển; hoạt động truyền thông về biển và đại dương, Ngày Đại dương thế giới, Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của biển cũng như trách nhiệm BVMT và phát triển KTB.
Về thể chế, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến biển từng bước được rà soát, bổ sung, hoàn thiện. Việc tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường Biển và hải đảo năm 2015; sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển. Các quy định về giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, quản lý hoạt động lấn biển, chỉ tiêu thống kê quốc gia về biển, hải đảo, cùng bộ chỉ tiêu đánh giá quốc gia biển mạnh đã góp phần cụ thể hóa yêu cầu QTB theo hướng hiện đại.
Dấu mốc có ý nghĩa nền tảng là việc Quốc hội thông qua Quy hoạch KGB quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; đồng thời Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Các công cụ này tạo cơ sở pháp lý và khoa học để phân bổ không gian phát triển biển, kiểm soát xung đột sử dụng tài nguyên, gắn kết giữa phát triển kinh tế với BVMT, bảo tồn HST, bảo đảm quốc phòng, an ninh. KGB quốc gia được tổ chức với các vùng cấm khai thác, vùng khai thác có điều kiện, khu vực bảo vệ đặc biệt, khu vực ưu tiên phát triển, thể hiện bước tiến từ quản lý theo ngành sang quản trị dựa trên phân vùng chức năng.
2.2. Phát triển kinh tế biển và ven biển theo hướng xanh hơn
Các ngành KTB và ven biển tiếp tục đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội cũng như phát triển các cực tăng trưởng ven biển. Hệ thống cảng biển, logistics, dịch vụ hàng hải, dầu khí, thủy sản, du lịch biển, công nghiệp ven biển được duy trì, mở rộng và từng bước hiện đại hóa. Đến năm 2025, cả nước có 306 bến cảng với tổng chiều dài cầu cảng khoảng 110 km; tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 865 triệu tấn. Nhiều cảng cửa ngõ quốc tế như Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải tiếp tục khẳng định vai trò kết nối chuỗi cung ứng quốc gia và quốc tế, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, hướng tới mô hình cảng biển xanh, cảng biển thông minh.
Khai thác dầu khí vẫn là trụ cột quan trọng của KTB. Giai đoạn 2018 - 2025, ngành dầu khí khai thác khoảng 86,3 triệu tấn dầu và 64,7 tỷ m³ khí, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, các ngành KTB mới, đặc biệt là năng lượng tái tạo (NLTT) ven biển và ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, nuôi biển công nghiệp, dịch vụ HST biển… đang được định hướng như động lực tăng trưởng mới của KTB xanh. Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu phát triển khoảng 6.000 MW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 và định hướng quy mô lớn hơn đến năm 2050, tạo dư địa quan trọng để phát triển công nghiệp - dịch vụ năng lượng biển trong dài hạn.
Trong lĩnh vực thủy sản, ngành đã có sự chuyển dịch từ khai thác ven bờ sang phát triển nuôi trồng thủy sản, nuôi biển công nghiệp và khai thác có kiểm soát hơn. Tính đến năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, vượt mục tiêu 9,8 triệu tấn đặt ra đến năm 2030, trong đó sản lượng khai thác đạt khoảng 3,83 triệu tấn; sản lượng nuôi trồng đạt khoảng 6,11 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD. Việc ứng dụng công nghệ định vị, giám sát hành trình, sonar, radar thời tiết, cấp đông nhanh và mô hình năng lượng lai ghép trên tàu cá cho thấy xu hướng hiện đại hóa sản xuất thủy sản gắn với giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế tác động tiêu cực lên môi trường.
Tuy vậy, phát triển KTB vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Một số lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như công nghiệp biển, logistics tích hợp, NLTT ngoài khơi, kinh tế sinh học biển, dịch vụ HST mới ở giai đoạn khởi đầu. Liên kết giữa các địa phương ven biển, giữa vùng biển - ven biển - nội địa và giữa các ngành KTB còn thiếu chặt chẽ. Điều này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải triển khai hiệu quả Quy hoạch KGB quốc gia và hình thành các chuỗi giá trị liên vùng, thay vì phát triển cục bộ theo địa giới hành chính.
2.3. Điều tra cơ bản, khoa học - công nghệ và dữ liệu biển
Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển tiếp tục được thúc đẩy thông qua Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030. Đến thời điểm báo cáo, điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1:500.000 đã thực hiện khoảng 380.688 km², tương đương khoảng 38,7% diện tích vùng biển Việt Nam. Ngoài ra, các nhiệm vụ điều tra ở tỷ lệ chi tiết hơn tại vùng trọng điểm kinh tế, dải ven biển, khu vực biển sâu đã bổ sung dữ liệu quan trọng phục vụ quy hoạch, quản lý tài nguyên và BVMT biển.

Một số kết quả điều tra có ý nghĩa thực tiễn và chiến lược. Các nhiệm vụ điều tra đã khoanh định tài nguyên dự báo cát xây dựng khoảng 180 tỷ m³ tại khu vực biển phía Nam Hòn Hải; đánh giá tiềm năng khí hydrate tại vùng biển Tư Chính - Vũng Mây - Nam Côn Sơn với các vùng triển vọng có tổng diện tích khoảng 12.000 km²; điều tra, đánh giá tài nguyên nước ngọt tại nhiều đảo, cụm đảo tiền tiêu. Những kết quả này không chỉ phục vụ phát triển hạ tầng, bảo đảm an ninh tài nguyên, thích ứng BĐKH, mà còn góp phần củng cố cơ sở khoa học cho quản lý, khai thác, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên biển.
Ứng dụng khoa học - công nghệ trong QTB cũng có nhiều chuyển biến. Viễn thám, GIS, mô hình hóa hải dương học, quan trắc môi trường, dữ liệu số từng bước được áp dụng trong giám sát tài nguyên - môi trường biển, xói lở bờ biển và quản lý vùng bờ. Hệ thống cơ sở dữ liệu số về tài nguyên, môi trường biển đã được xây dựng, lưu trữ tại cơ quan chuyên ngành, đồng thời đang được đầu tư nâng cấp theo hướng tích hợp, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường. Tuy nhiên, dữ liệu biển vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, chưa hình thành nền tảng dữ liệu mở đủ mạnh để hỗ trợ hiệu quả cho hoạch định chính sách, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong KTB.
2.4. BVMT biển, phục hồi HST và thích ứng với BĐKH
Công tác BVMT biển, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi HST được triển khai ngày càng rõ nét. Báo cáo Hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 đã cung cấp cơ sở quan trọng để định hướng phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường biển. Nhiều địa phương ven biển đã triển khai hiệu quả kế hoạch quản lý rác thải nhựa đại dương; kiểm soát nguồn thải từ đất liền ra biển; ứng phó sự cố tràn dầu và hóa chất độc trên biển… góp phần nâng cao ý thức cộng đồng và tăng cường năng lực xử lý các nguy cơ môi trường biển.
Về bảo tồn biển, đến nay cả nước đã thành lập 12 khu bảo tồn biển với tổng diện tích 206.224,93 ha, trong đó có khoảng 185.000 ha biển. Nhiều khu bảo tồn như Cát Bà, Bái Tử Long, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc, Đảo Trần, Cô Tô đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái (HST), đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, diện tích bảo tồn biển vẫn còn thấp so với yêu cầu; nhiều HST quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và sinh cảnh ven bờ tiếp tục chịu sức ép từ ô nhiễm, khai thác quá mức, phát triển hạ tầng, BĐKH.
Công tác dự báo, cảnh báo thiên tai biển và thích ứng với BĐKH được tăng cường thông qua các bản tin dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh, sóng lớn, nước dâng, triều cường, sương mù. Các bản tin bão, áp thấp nhiệt đới được ban hành sớm hơn trước, thời hạn dự báo được mở rộng, góp phần nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai. Cùng với đó, các chương trình phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển, quy hoạch phòng chống thiên tai, thủy lợi, bản đồ ngập lụt do nước biển dâng trong tình huống bão mạnh, siêu bão đã hỗ trợ địa phương trong xây dựng phương án ứng phó. Tuy nhiên, với khoảng 800 km bờ biển bị xói lở ở nhiều mức độ khác nhau, yêu cầu đầu tư dài hạn cho hạ tầng chống chịu, phục hồi HST, quản lý rủi ro thiên tai biển vẫn rất lớn.
3. Hạn chế, nguyên nhân và đề xuất giải pháp
3.1. Hạn chế, nguyên nhân
Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, quá trình thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW thời gian qua vẫn còn một số hạn chế có tính cơ cấu.
Thứ nhất, thể chế quản lý biển thiếu đồng bộ, vẫn tồn tại sự phân tán theo ngành và lĩnh vực. Cơ chế QTB thống nhất theo tiếp cận HST chưa được thiết lập đầy đủ; một số quy định về phân định thẩm quyền, cơ chế tài chính biển, ranh giới hành chính trên biển và chia sẻ dữ liệu chưa rõ, gây khó khăn cho phối hợp thực thi.
Thứ hai, nguồn lực đầu tư cho điều tra cơ bản, khoa học - công nghệ biển và hệ thống quan trắc còn hạn chế. Mặc dù đã có nhiều chương trình, dự án điều tra biển, nhưng tỷ lệ điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1:500.000 mới đạt khoảng 38,7% diện tích vùng biển, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 50%. Năng lực nghiên cứu biển sâu, công nghệ khảo sát xa bờ, hạ tầng phòng thí nghiệm trọng điểm, đội ngũ chuyên gia liên ngành chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KTB dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, liên kết vùng và phối hợp quản lý KGB còn hạn chế. Nhiều địa phương đã tích hợp mục tiêu phát triển KTB vào quy hoạch tỉnh, nhưng việc tổ chức thực hiện còn có xu hướng cục bộ, chưa hình thành rõ các chuỗi giá trị liên vùng và cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm trong quản lý môi trường, hạ tầng, logistics, bảo tồn biển.
Thứ tư, môi trường biển, HST ven biển tiếp tục chịu sức ép lớn từ ô nhiễm, rác thải nhựa, khai thác quá mức, xói lở bờ biển, nước biển dâng và suy giảm đa dạng sinh học.
Nguyên nhân của các hạn chế nêu trên bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, BĐKH, cạnh tranh chiến lược trên biển, biến động kinh tế toàn cầu và nhu cầu đầu tư rất lớn đã tạo áp lực đáng kể đối với quá trình thực hiện Nghị quyết. Về chủ quan, cơ chế điều phối liên ngành chưa phát huy đầy đủ vai trò điều phối tổng thể; dữ liệu biển chưa được tích hợp đồng bộ; năng lực quản lý biển ở một số địa phương còn hạn chế; sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước cũng như nhu cầu của doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ.
3.2. Một số giải pháp trong thời gian tới
Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, giai đoạn tới cần tiếp cận phát triển KTB theo tư duy quản trị đại dương hiện đại, lấy HST biển làm nền tảng; khoa học - công nghệ và dữ liệu số làm động lực; người dân vùng biển, đảo làm trung tâm và bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, BVMT, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế. Trong đó tập trung vào các giải pháp trọng tâm sau
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế QTB theo hướng thống nhất, tích hợp, dựa trên HST. Cần ưu tiên sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo hành lang pháp lý cho quản lý tổng hợp KGB; cơ chế một đầu mối điều phối hoạt động trên biển; phân cấp đi đôi với kiểm soát thống nhất; công cụ kinh tế trong sử dụng tài nguyên biển và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, địa phương. Việc hoàn thiện thể chế cần gắn với triển khai thực chất Quy hoạch KGB quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ.
Thứ hai, phát triển khoa học - công nghệ biển và nền tảng dữ liệu số biển quốc gia. Cần tăng đầu tư cho điều tra cơ bản biển, nghiên cứu biển sâu, quan trắc môi trường biển, mô hình dự báo đại dương, công nghệ viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Một nền tảng dữ liệu biển tích hợp, liên thông, có cơ chế chia sẻ phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để chuyển từ quản lý dựa trên thủ tục hành chính sang quản trị dựa trên bằng chứng khoa học.
Thứ ba, thiết lập cơ chế tài chính cho KTB xanh. Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho phục hồi HST ven biển, bảo vệ bờ biển, phát triển nuôi biển công nghiệp, nghiên cứu khoa học biển và các ngành KTB mới. Đồng thời, cần mở rộng hợp tác công - tư, thu hút nguồn lực quốc tế, phát triển các công cụ kinh tế như đấu giá, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển, chi trả dịch vụ HST và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào mô hình sản xuất biển thân thiện với môi trường.
Thứ tư, tăng cường liên kết vùng, nâng cao năng lực quản trị địa phương ven biển. Phát triển KTB cần vượt ra khỏi cách tiếp cận cục bộ theo địa giới hành chính, hướng tới hình thành chuỗi giá trị liên vùng về cảng biển - logistics, du lịch biển, nuôi biển, NLTT, bảo tồn biển và công nghiệp ven biển. Chính quyền địa phương ven biển cần được nâng cao năng lực về quản lý tổng hợp vùng bờ, đánh giá tác động môi trường chiến lược, quản lý rủi ro thiên tai và sử dụng dữ liệu trong ra quyết định.
Thứ năm, gắn phát triển KTB với sinh kế bền vững và bảo vệ chủ quyền. Người dân vùng biển, đảo cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển thông qua phát triển nuôi biển công nghiệp, kinh tế sinh thái ven biển, dịch vụ HST, chuyển đổi nghề khai thác hải sản có nguy cơ ảnh hưởng nguồn lợi và nâng cao chất lượng hạ tầng thiết yếu trên đảo, ven biển. Sự kết hợp giữa phát triển sinh kế, BVMT và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên biển là điều kiện quan trọng để phát triển KTB bền vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.
Kết luận
Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong PTBV KTB. Nền tảng thể chế, quy hoạch KGB, quản lý tổng hợp vùng bờ, điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển, bảo vệ HST và phát triển các ngành KTB đã có những chuyển biến rõ nét. Đặc biệt, việc hình thành các công cụ quy hoạch biển cấp quốc gia, thúc đẩy QTB dựa trên không gian, HST và dữ liệu là bước tiến quan trọng trong đổi mới phương thức quản lý biển.
Tuy nhiên, các hạn chế về thể chế điều phối, nguồn lực khoa học - công nghệ, cơ sở dữ liệu biển, liên kết vùng, bảo tồn HST và năng lực quản trị địa phương cho thấy yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ chính sách phát triển biển trong giai đoạn tới. Việc ban hành định hướng chiến lược mới về PTBV KTB, gắn với sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường Biển và hải đảo; xây dựng nền tảng dữ liệu số biển quốc gia và phát triển các ngành KTB xanh sẽ có ý nghĩa then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, PTBV, thịnh vượng, có trách nhiệm trong quản trị đại dương khu vực và toàn cầu.
Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Hữu Tới, Lê Thị Thanh
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2018. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược PTBV KTB Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Chính phủ, 2020. Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW.
3. Quốc hội, 2024. Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 về Quy hoạch KGB quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
4. Thủ tướng Chính phủ, 2024. Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 077/10/2024 phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Quốc hội, 2015. Luật Tài nguyên, môi trường Biển và hải đảo số 82/2015/QH13.
6. Quốc hội, 2025. Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
7. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026. Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược PTBV KTB Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021. Báo cáo Hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.
9. Thủ tướng Chính phủ, 2021. Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
10. Thủ tướng Chính phủ, 2022. Quyết định số 729/QĐ-TTg ngày 16/6/2022 phê duyệt Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030.
11. Các bộ, ngành và địa phương có biển, 2025. Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược PTBV KTB Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.