Đánh giá hiệu quả của khoa học công nghệ với tăng trưởng lĩnh vực nông lâm thủy sản

Bài viết cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của KHCN như một động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành trong giai đoạn 2026-2030.

Tóm tắt

Trong thời gian qua, lĩnh vực nông lâm thủy sản (NLTS) đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhờ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển các mô hình sản xuất công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác và các nền tảng số phục vụ quản lý, sản xuất và tiêu thụ nông sản. Kết quả cho thấy khoa học, công nghệ (KHCN) có tác động tích cực đến nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và tăng cường năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên, quá trình đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và ứng dụng kết quả khoa học vào thực tiễn vẫn còn gặp một số hạn chế, đặc biệt trong hoạt động chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm khoa học. Bài viết cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của KHCN như một động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành trong giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Nông lâm thủy sản, nông nghiệp thông minh, khoa học, công nghệ.

Assessing the effectiveness of science and technology in the growth of the agriculture, forestry, and fisheries sector

Abstract

In recent years, the agriculture, forestry, and fisheries sector has achieved significant progress through the promotion of research, application, and transfer of scientific and technological advancements, as well as the development of high-tech production models, smart agriculture, precision agriculture, and digital platforms supporting agricultural management, production, and product consumption. The results indicate that science and technology have played an important role in enhancing productivity, improving product quality, increasing added value, and strengthening the competitiveness of Vietnamese agricultural products in both domestic and international markets. However, the process of technological innovation, digital transformation, and the application of research outcomes in practice still faces several challenges, particularly in the transfer and commercialization of scientific products. This paper also proposes several orientations and solutions to further strengthen the role of science and technology as a key driver for the sustainable growth of the sector during the 2026-2030 period.

Keywords: Innovation, digital economy, science and technology, agriculture, forestry and fisheries. 

JEL Classifications: N51, N53, N55, N56.

1. Đặt vấn đề

Nhận thức được vai trò then chốt của KHCN đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy lĩnh vực này. Gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Các nghị quyết này nhấn mạnh vai trò của KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực quan trọng trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng tăng trưởng và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực NLTS, việc triển khai hiệu quả các định hướng nêu trên không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp hiện đại, thông minh, sinh thái và phát triển bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và ứng dụng kết quả khoa học vào thực tiễn vẫn còn gặp một số hạn chế, đặc biệt trong hoạt động chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm khoa học. Bài báo sử dụng phương pháp phân tích mô tả, phân tích tương quan, so sánh theo thời gian kết hợp với tổng hợp các kết quả nghiên cứu, báo cáo chuyên ngành để đánh giá hiệu quả của KHCN đối với tăng trưởng nông lâm thủy sản. 

2. Thành tựu của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng nông lâm thủy sản

Trong những năm qua, KHCN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của lĩnh vực nông lâm thủy sản theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Một số thành tựu của KHCN đối với tăng trưởng khu vực nông lâm thủy sản đạt được: 

Thứ nhất, công tác nghiên cứu, chọn tạo và phát triển giống cây trồng, vật nuôi đã được đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp. Trong trồng trọt đã công nhận 81 giống cây trồng mới và 27 tiến bộ kỹ thuật; trong chăn nuôi 59 giống vật nuôi mới và hơn 93 tiến bộ kỹ thuật; trong thủy sản là 12 giống mới và 27 tiến bộ kỹ thuật. Việc triển khai các mô hình áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến đều cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất đại trà. Năng suất tăng trung bình từ 10-12% đối với trồng trọt, tăng từ 10-25% đối với chăn nuôi. Đồng thời, hiệu quả kinh tế cũng tăng trung bình từ 10-15% đối với trồng trọt; từ 12-35% đối với chăn nuôi, một số mô hình như ong mật, vịt và bò vỗ béo đạt mức tăng tới 40 [1].

Thứ hai, KHCN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình canh tác tiên tiến, ứng dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, công nghệ tưới tiết kiệm nước, canh tác hữu cơ và nông nghiệp tuần hoàn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Theo số liệu thống kê năm 2025, đã có 9.336 mã số vùng trồng và 1.379 mã số cơ sở đóng gói được cấp cho 20 loại quả tươi xuất khẩu, với tổng diện tích khoảng 444,8 nghìn ha. Đồng thời, hơn 2.000 chuỗi giá trị NLTS an toàn tiếp tục được duy trì trên phạm vi cả nước. Trong hoạt động chứng nhận tiêu chuẩn sản xuất, diện tích cây trồng đạt chứng nhận VietGAP đạt 322,49 nghìn ha cùng với 7.960 cơ sở được công nhận; lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ghi nhận 3.227 ha và 681 cơ sở đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP; bên cạnh đó, có 1.308 trang trại và hộ chăn nuôi được cấp chứng nhận tương ứng. Đối với sản xuất hữu cơ, diện tích cây trồng được chứng nhận đạt 32,69 ha với 355 cơ sở tham gia. Ngoài ra, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững tính lũy kế đến hết tháng 11/2025 đạt 719.117 ha, cao gấp hơn 2 lần so với giai đoạn 2016-2020 [2]. 

Thứ ba, mức độ cơ giới hóa và hiện đại hóa trong sản xuất NLTS ngày càng được nâng cao với việc ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại trong làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản nông sản. Tính đến ngày 1/7/2025, cả nước có xấp xỉ 54,6 nghìn máy kéo công suất lớn (từ 35 CV trở lên), tăng 69,62% so với năm 2016 (tăng 22,4 nghìn cái) và khoảng 28,6 nghìn máy gặt đập liên hợp, tăng 11,16% (tăng 2,9 nghìn cái). Bên cạnh đó, việc ứng dụng KHCN ngày càng được triển khai đồng bộ hơn với gần 7 nghìn thiết bị bay không người lái, 95,7 nghìn hệ thống máng ăn tự động, 142,7 nghìn hệ thống làm mát chuồng trại và 45,1 nghìn máy sục khí, đảo nước phục vụ sản xuất. Trong sản xuất lúa, tỷ lệ cơ giới hóa ở khâu làm đất và thu hoạch đạt lần lượt 88,09% và 84,97%. Việc ứng dụng cơ giới hóa đã góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng lợi nhuận cho người sản xuất khoảng 20-30% [2].

Thứ tư, nhiều công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và thiết bị bay không người lái (UAV) đã được ứng dụng trong giám sát sản xuất, quản lý dịch bệnh và tối ưu hóa quy trình sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, công nghệ cao được ứng dụng phổ biến là sản xuất trong nhà kính và nhà lưới, sử dụng hệ thống tưới tự động, công nghệ thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch. Đặc biệt, một số doanh nghiệp còn ứng dụng cả hệ thống máy tính gắn trong vườn trồng hoa để tự động kiểm soát các thông số kỹ thuật về độ ẩm, không khí, ánh sáng, tốc độ tăng trưởng của cây trồng. Tính đến ngày 1/7/2025, diện tích nhà lưới, nhà kính và nhà màng trên cả nước đạkhoảng 112,3 nghìn ha, tăng mạnh so với mức 4,1 nghìn ha năm 2016. Ở khu vực hộ sản xuất, việc ứng dụng KHCN chủ yếu tập trung vào sử dụng giống mới và các kỹ thuật canh tác tiên tiến. Tỷ lệ hộ ứng dụng công nghệ hiện đại trong trồng trọt đạt khoảng 9,15%; trong chăn nuôi dao động từ 9,96-18,22% tùy loại vật nuôi; trong nuôi trồng thủy sản mới đạt khoảng 0,7%, chủ yếu thông qua các công nghệ như Biofloc, hệ thống tuần hoàn khép kín, IoT và các thiết bị cảm biến hỗ trợ quản lý sản xuất [2].

Thứ năm, trong lĩnh vực bảo quản, chế biến nông sản, nhiều công nghệ tiên tiến đã được áp dụng nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Công nghệ truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm và quản lý chuỗi cung ứng cũng được chú trọng phát triển. Hiện cả nước đã hình thành hệ thống chế biến NLTS khá lớn với gần 8.000 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và khoảng 22.000 cơ sở chế biến nhỏ lẻ, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn và hiện đại. Việc ứng dụng KHCN trong chế biến đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành chế biến nông sản với tốc độ tăng giá trị gia tăng khoảng 5-7%/năm, đồng thời nâng cao mạnh mẽ kim ngạch xuất khẩu NLTS. Nhiều mặt hàng nông sản như cà phê, gạo, điều, rau quả, tôm, cá tra và sản phẩm gỗ đạt kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD và có mặt tại 196 quốc gia, vùng lãnh thổ. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS đạt 70,64 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2024, mức cao nhất từ trước tới nay, khẳng định vị thế ngày càng cao của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ sáu, KHCN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển của lĩnh vực NLTS, đặc biệt khi các nguồn lực đất, lao động ngày càng giảm. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, tính chung giai đoạn 2001-2020, tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP NLTS đạt khoảng 74,8% [3]. Nhờ vậy, mặc dù giai đoạn 2021-2025 có nhiều bất ổn về thiên tai và dịch bệnh, lĩnh vực NLTS vẫn đạt tăng trưởng bình quân 3,74%/năm; cao hơn giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt 2,93%/năm. Đặc biệt, kinh tế số giữ vai trò là động lực trung tâm của tăng trưởng ngành. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP toàn nền kinh tế của lĩnh vực NLTS chiếm khoảng 0,13%, tăng gấp đôi so với năm 2024 chỉ đạt 0,06%. So với GDP của lĩnh vực NLTS, tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của ngành chiếm 1,12% [4]. Tiếp cận quy mô kinh tế số từ giá trị sản phẩm, tỷ lệ giá trị sản xuất của các hoạt động kinh tế số trong GDP lĩnh vực NLTS chiếm 2,1% (năm 2023) [5]. 

Bảng 1. Tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP toàn nền kinh tế (%)

 

Tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP toàn nền kinh tế

Tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số lĩnh vực NLTS trong GDP toàn nền kinh tế

Tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của lĩnh vực NLTS

2020

12,66

0,05

          0,40

2021

12,87

0,05

          0,40

2022

12,83

0,05

          0,42

2023

12,87

0,06

          0,51

2024

13,17

0,06

          0,50

2025

14,02

0,13

          1,12

Nguồn: Cục Thống kê - Bộ Tài chính


Kết quả đồ thị về tương quan cho thấy, GDP và giá trị tăng thêm của kinh tế số lĩnh vực NLTS có mối tương quan thuận. Trong giai đoạn 2020-2025, cùng với sự gia tăng quy mô nền kinh tế, giá trị tăng thêm của kinh tế số cũng tăng nhanh, đặc biệt năm 2025 đạt 16.702 tỷ đồng, cao gấp hơn 4 lần so với năm 2020. Điều này cho thấy chuyển đổi số và phát triển kinh tế số đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng lĩnh vực NLTS.

image001-1784863502.png
Hình 1. Tương quan giữa giá trị tăng thêm của kinh tế số với GDP của lĩnh vực NLTS (Nguồn: Cục Thống kê - Bộ Tài chính)


Những đóng góp của KHCN trong tăng trưởng lĩnh vực NLTS đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; thúc đẩy tăng trưởng ngành, cải thiện thu nhập cho người dân và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. 

3. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

3.1. Hạn chế

Trong lĩnh vực trồng trọt, quá trình cơ giới hóa hiện tập trung chủ yếu ở các khâu làm đất và thu hoạch, trong khi các hoạt động như gieo trồng, chăm sóc cây trồng, bón phân và bảo vệ thực vật vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào lao động thủ công. Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, tỷ lệ cơ giới hóa ở khâu làm đất đạt khoảng 89,2%, khâu thu hoạch đạt 86,1%, trong khi tỷ lệ ở khâu gieo sạ chỉ đạt 44,3% và bón phân hóa học đạt 43,2%. Các số liệu này cho thấy cơ giới hóa chưa được triển khai đồng đều trong toàn bộ quy trình sản xuất, dẫn đến hiệu quả khai thác máy móc và thiết bị chưa phát huy đầy đủ.

Bên cạnh đó, mức độ ứng dụng các thành tựu KHCN trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn tương đối khiêm tốn đối với một số lĩnh vực như sử dụng giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, hệ thống tưới tiết kiệm nước, nhà lưới, nhà kính hoặc thiết bị cảm biến phục vụ giám sát điều kiện sản xuất. Ước tính đến nay, tỷ lệ hộ trồng lúa áp dụng quy trình tưới tiết kiệm nước kết hợp giảm phát thải khí nhà kính mới đạt khoảng 8,5%. Trong chăn nuôi, việc triển khai hệ thống chuồng trại khép kín, tự động hóa quá trình cho ăn, điều chỉnh nhiệt độ và xử lý chất thải mới được áp dụng ở khoảng 9,8% số hộ nuôi lợn và 11,8% số hộ nuôi gà, trong khi phần lớn các hộ còn lại vẫn duy trì phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ lẻ.

Đối với nuôi trồng thủy sản, mặc dù một số địa phương đã từng bước áp dụng các công nghệ hiện đại như hệ thống sục khí, mô hình nuôi thâm canh hoặc công nghệ giám sát môi trường nước, mức độ phổ biến vẫn còn khá thấp. Tương tự, lĩnh vực lâm nghiệp cũng đang đối mặt với những hạn chế nhất định trong quá trình cơ giới hóa, đặc biệt ở các khâu trồng, chăm sóc và khai thác rừng, khi nhiều hoạt động sản xuất vẫn dựa chủ yếu vào lao động thủ công.
Mức độ đóng góp của kinh tế số trong lĩnh vực NLTS hiện vẫn còn tương đối hạn chế. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số lĩnh vực NLTS trong GDP toàn nền kinh tế chỉ đạt khoảng 0,13%, thấp hơn đáng kể so với mức 6,67% của khu vực công nghiệp và 7,22% của khu vực dịch vụ. Tương tự, tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của lĩnh vực NLTS mới đạt 1,12%, trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ lần lượt đạt 17,72% và 16,89% [4].

3.2. Nguyên nhân hạn chế

Đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng KHCN trong nông nghiệp chưa được ưu tiên, phân bổ ngân sách KHCN chủ yếu để chi trả lương. Hiện nay, ngân sách nhà nước đầu tư chung cho KHCN chỉ chiếm 0,6% GDP, trong khi ngân sách đầu tư cho KHCN nông nghiệp, môi trường mới được khoảng 0,21% GDP nông nghiệp. Những năm qua, chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp thường dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước, không năm nào đạt mức yêu cầu Nghị quyết 19 của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Luật Khoa học và Công nghệ đề ra (không dưới 2%). Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam năm 2023 chỉ đạt 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (4,94%), Thái Lan (1,3%) hay Singapore (2,2%) [6]. 

Sở hữu trí tuệ, ứng dụng và thương mại kết quả nghiên cứu KHCN còn hạn chế. Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực NLTS có tính phổ biến cao, dễ học và làm theo. Tuy nhiên, công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến uy tín sản phẩm và chưa tạo được động lực khuyến khích các chủ thể trong chuỗi giá trị tham gia đầu tư phát triển sản phẩm. Bên cạnh đó, các kết quả hình thành từ nhiệm vụ KHCN hiện chủ yếu thuộc sở hữu nhà nước, trong khi quy trình giao quyền sở hữu còn tương đối phức tạp và kéo dài, gây khó khăn cho quá trình chuyển giao vào thực tiễn sản xuất. Thị trường KHCN trong lĩnh vực NLTS chưa phát triển tương xứng, các hoạt động giao dịch và chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Do đó, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất, kinh doanh và số lượng sản phẩm KHCN được thương mại hóa vẫn còn ở mức thấp.

Quy mô sản xuất của các hộ nông nghiệp còn nhỏ lẻ và phân tán, khiến việc đầu tư máy móc và công nghệ hiện đại khó đạt hiệu quả kinh tế. Trong những năm qua, mặc dù đã đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, nhưng sản xuất nhỏ vẫn là phổ biến. Số doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp tăng, số hộ nông nghiệp liên tục giảm nhưng đến nay hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tính đến ngày 1/7/2025, cơ cấu các đơn vị sản xuất nông nghiệp trên cả nước vẫn chủ yếu dựa vào khu vực hộ gia đình, với tỷ trọng đạt 99,84%, trong khi mô hình trang trại và doanh nghiệp chỉ chiếm lần lượt 0,31% và 0,07% tổng số đơn vị sản xuất. Xét theo quy mô sử dụng đất nông nghiệp, nhóm hộ có diện tích dưới 0,5 ha chiếm tỷ trọng lớn nhất với 70,45% tổng số hộ sử dụng đất nông nghiệp, trong khi tỷ lệ hộ sở hữu từ 2 ha trở lên chỉ đạt 6,29%. Đối với đất lâm nghiệp, nhóm hộ sử dụng diện tích từ 3 ha đến dưới 10 ha chiếm khoảng 15,36%, còn nhóm có quy mô từ 10 ha trở lên chỉ chiếm khoảng 1,35%. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, các hộ sử dụng diện tích dưới 0,2 ha chiếm 45,04%, trong khi tỷ lệ hộ có diện tích từ 2 ha trở lên đạt khoảng 10,50% [2].

Khả năng tài chính của nhiều hộ sản xuất còn thấp, trong khi chi phí đầu tư cho máy móc và công nghệ cao tương đối lớn. Theo số liệu Khảo sát Mức sống hộ gia đình của Cục Thống kê, năm 2024 thu nhập bình quân hộ cư dân nông thôn khoảng 54 triệu đồng, trong khi chi tiêu xấp xỉ 30 triệu đồng. Như vậy, phần tích lũy còn lại chỉ khoảng 24 triệu đồng/người/năm, mức tích lũy này còn khá thấp so với nhu cầu đầu tư cho các loại máy móc, thiết bị cơ giới hoặc mô hình sản xuất công nghệ cao. Trong thực tế, để đầu tư một hệ thống nhà màng, nhà lưới, tưới nhỏ giọt, chuồng trại chăn nuôi tự động hoặc ao nuôi thủy sản công nghệ cao thường cần nguồn vốn từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Ngay cả các loại máy nông nghiệp phổ biến như máy cày, máy gặt đập liên hợp, hệ thống sấy hay thiết bị bảo quản sau thu hoạch cũng có giá trị lớn vượt quá khả năng tài chính của nhiều hộ sản xuất nhỏ lẻ. Do thiếu vốn đối ứng và khó tiếp cận tín dụng dài hạn, nhiều hộ nông dân vẫn phải duy trì phương thức sản xuất truyền thống, quy mô nhỏ và mức độ cơ giới hóa thấp.

Trình độ tiếp cận và vận hành công nghệ của một bộ phận lao động nông thôn còn hạn chế, trong khi hệ thống dịch vụ hỗ trợ cơ giới hóa và chuyển giao khoa học kỹ thuật ở một số địa phương chưa thực sự phát triển. Theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, chỉ khoảng 21,8% lao động nông thôn trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo. Điều này làm hạn chế khả năng ứng dụng KHCN, chuyển đổi số và tham gia thị trường theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận công nghệ giữa các vùng còn chênh lệch khá lớn. Các mô hình ứng dụng công nghệ hiện đại như IoT, nhà kính, hệ thống tưới thông minh, công nghệ nuôi tuần hoàn hay tự động hóa chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn và các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, trong khi phần lớn hộ nông dân nhỏ lẻ vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống. Đây là thách thức lớn đối với quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững.

4. Định hướng khoa học công nghệ trong nông nghiệp giai đoạn 2026-2030

Từ kết quả phân tích, đánh giá thực trạng và vai trò của KHCN trong lĩnh vực NLTS thời gian qua, bài báo xin đưa ra một số định hướng KHCN trong nông nghiệp giai đoạn 2026-2030:  

Một là, phát triển KHCN của ngành được triển khai trên cơ sở 5 trụ cột gồm: hoàn thiện thể chế và chính sách đặc thù; phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao; tăng cường hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; xây dựng hệ thống dữ liệu lĩnh vực NLTS và môi trường; thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ sinh học và công nghệ số trọng điểm. Ngành tập trung nghiên cứu, ứng dụng và từng bước làm chủ các công nghệ cốt lõi, nhất là trong lĩnh vực quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo khí tượng thủy văn, nông nghiệp, môi trường, phòng chống dịch bệnh; công nghệ UAV phục vụ sản xuất nông nghiệp; rô-bốt tự hành; hệ thống AI camera; dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, bản sao số và công nghệ chuỗi khối.

Hai là, hệ thống phát triển công nghệ được định hướng lấy doanh nghiệp, hợp tác xã, người nông dân và cộng đồng dân cư làm trung tâm; các viện nghiên cứu và trường đại học giữ vai trò nòng cốt trong nghiên cứu và chuyển giao tri thức; Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, đặt hàng và hỗ trợ phát triển.

Ba là, việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực NLTS cần được triển khai theo hướng toàn diện, thông minh, hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Đồng thời, phương thức quản lý được chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý dựa trên kết quả đầu ra và tác động thực tế; tăng cường hậu kiểm, quản trị rủi ro và khuyến khích thử nghiệm các công nghệ, mô hình mới.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế theo hướng sâu rộng, chủ động tiếp thu, làm chủ và phát triển các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực NLTS; tận dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đồng thời tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu về nông sản, công nghệ môi trường và dịch vụ.

Kết luận

KHCN đã khẳng định vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và gia tăng giá trị trong lĩnh vực NLTS. Việc ứng dụng các tiến bộ KHCN đã góp phần quan trọng giúp ngành duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định ngay cả trong bối cảnh nguồn lực ngày càng hạn chế và nhiều biến động từ bên ngoài. Những thành tựu nổi bật trong chọn tạo giống, cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ cao đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi ngành theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, lĩnh vực NLTS vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn thấp, quy mô sản xuất hộ gia đình còn nhỏ lẻ và phân tán, trong khi khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ của lực lượng lao động nông thôn còn hạn chế. Trong bối cảnh hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững giai đoạn 2026–2030, cần triển khai đồng bộ 5 trụ cột chiến lược, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp và người nông dân làm trung tâm nhằm tạo ra các động lực tăng trưởng mới cho ngành trong giai đoạn tới.

Trương Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Thủy, Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thúy An
Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Khoa học - Công nghệ II/2026)

Tài liệu tham khảo

1. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2026). Báo cáo kết quả công tác năm 2025, giai đoạn 2020-2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026, tr. 16-20.

2. Cục Thống kê Việt Nam, (2026). Kết quả Tổng điều tra nông thôn và nông nghiệp năm 2025”, tr. 52-57.

3. Trần Công Thắng, Trương Thị Thu Trang và Nguyễn Thị Thủy (2026). Đóng góp của khoa học và công nghệ đối với tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường, Đặc san Khoa học kinh tế nông nghiệp, Hội Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, số 1, tr. 10-16.

4. Cục Thống kê Việt Nam (2026). Thông cáo báo chí về tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP và GRDP giai đoạn 2021-2025”, tr. 2-3.

5. Cục Thống kê Việt Nam (2025). Đóng góp của kinh tế số đối với lĩnh vực nông nghiệp”, tr. 1-2. 

6. https://data.worldbank.org/indicator/GB.XPD.RSDV.GD.ZS?locations=VN.

Đặt mua Tạp chí Môi trường