Từ khóa: Ô nhiễm nhựa, Thỏa thuận toàn cầu, INC, tác động kinh tế - xã hội, Việt Nam.
GLOBAL PLASTICS TREATY: NEGOTIATION DYNAMICS AND SOCIO-ECONOMIC IMPLICATIONS FOR VIET NAM
Abstract
The Global Plastics Treaty is being negotiated in response to plastic pollution as a transboundary environmental, economic and social challenge. Based on UNEP/INC documents, Vietnamese delegation reports and international studies, this paper analyses negotiation dynamics, emerging policy contents and socio-economic implications for Viet Nam. The findings show that the negotiations have established a life-cycle approach to plastics, while major divergences remain over legal obligations, primary plastic polymers, problematic plastic products, chemicals of concern, finance, technology transfer and compliance. For Viet Nam, the treaty may generate compliance costs for enterprises and public authorities, but also offers opportunities to accelerate circular economy, improve EPR, expand recycling markets and strengthen green competitiveness. The paper recommends that Viet Nam prepare early in terms of legal framework, data systems, technical standards, finance, technology and inter-agency coordination.
Keywords: Plastic pollution, Global Plastics Treaty, INC; socio-economic impacts, Viet Nam.
JEL Classifications: Q53, Q54, Q55, Q56, Q58.
1. MỞ ĐẦU
Ô nhiễm nhựa đã vượt ra khỏi phạm vi của một vấn đề quản lý chất thải thông thường để trở thành thách thức phát triển bền vững có tính toàn cầu. Theo OECD, năm 2019 thế giới sử dụng khoảng 460 triệu tấn nhựa và phát sinh khoảng 353 triệu tấn chất thải nhựa; tỷ lệ tái chế còn thấp so với tốc độ gia tăng sản xuất và tiêu dùng [1].
Theo UNEP, năm 2024 thế giới dự kiến tiêu thụ trên 500 triệu tấn nhựa và phát sinh khoảng 400 triệu tấn chất thải nhựa; trong trường hợp thiếu các biện pháp can thiệp hiệu quả, lượng chất thải nhựa toàn cầu có thể tăng gần gấp ba lần, đạt khoảng 1,2 tỷ tấn vào năm 2060 [5].
Đối với Việt Nam, tài liệu Bộ Công Thương năm 2023 cho thấy ngành nhựa có khoảng 3.300 doanh nghiệp với hơn 250.000 lao động; sản phẩm nhựa được xuất khẩu sang 146 thị trường, trong đó có các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, ASEAN và EU [20].
Việc Đại hội đồng Môi trường Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 5/14 năm 2022 đã tạo cơ sở cho tiến trình xây dựng một công cụ quốc tế có tính ràng buộc pháp lý về ô nhiễm nhựa, bao gồm ô nhiễm nhựa trong môi trường biển [3].
Từ đó đến nay, Ủy ban Đàm phán liên Chính phủ (INC) đã tổ chức nhiều phiên họp nhằm xây dựng văn kiện Thỏa thuận; quá trình này đồng thời cho thấy sự khác biệt lớn giữa các nhóm quốc gia về phạm vi điều chỉnh, mức độ ràng buộc, sản xuất polymer nguyên sinh, quản lý sản phẩm nhựa, hóa chất, cơ chế tài chính và hỗ trợ thực thi [5].
Đối với Việt Nam, tiến trình này có ý nghĩa chiến lược. Việt Nam có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, tiêu dùng nhựa và thương mại quốc tế tăng nhanh; đồng thời là quốc gia ven biển với hệ thống sông ngòi, đô thị, du lịch biển và chuỗi sản xuất - tiêu dùng chịu áp lực lớn từ rác thải nhựa. Việc tham gia và thực thi Thỏa thuận toàn cầu vì vậy không chỉ là yêu cầu hội nhập quốc tế, mà còn là động lực thúc đẩy chuyển đổi mô hình quản lý nhựa theo hướng kinh tế tuần hoàn, giảm phát sinh chất thải và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung làm rõ ba vấn đề: (i) diễn biến đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa và các nhóm nội dung chính sách đang hình thành; (ii) kênh tác động kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế đối với Việt Nam; và (iii) các điều kiện cần chuẩn bị để Việt Nam chủ động trong đàm phán và nâng cao hiệu quả thực thi sau khi Thỏa thuận được thông qua.

Nguồn: Tổng hợp từ UNEP, World Bank và tài liệu Bộ Công Thương [2], [5], [11], [20]

Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng trên cơ sở tài liệu UNEP/INC
2. DIỄN BIẾN ĐÀM PHÁN VÀ HÀM Ý KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2.1. Diễn biến đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa
Tiến trình INC thể hiện sự chuyển dịch từ thảo luận nguyên tắc sang đàm phán văn bản cụ thể. INC-1 đặt nền tảng về tổ chức và phạm vi đàm phán; INC-2 chuyển trọng tâm sang tài liệu các lựa chọn và yêu cầu chuẩn bị Dự thảo số 0; INC-3 bắt đầu thảo luận dự thảo theo các nhóm liên hệ; INC-4 tiếp tục làm rõ các điều khoản còn khác biệt; INC-5 tại Busan được kỳ vọng hoàn tất văn kiện nhưng chưa đạt đồng thuận; INC-5.2 tại Geneva tiếp tục đàm phán song vẫn chưa thống nhất văn kiện cuối cùng [10].
Điểm nổi bật của tiến trình là sự phân cực ngày càng rõ giữa nhóm ủng hộ cách tiếp cận toàn bộ vòng đời với mức độ ràng buộc cao và nhóm ưu tiên linh hoạt quốc gia, tập trung nhiều hơn vào quản lý chất thải. Các nội dung gây khác biệt gồm sản xuất polymer nguyên sinh, danh mục sản phẩm nhựa có vấn đề, hóa chất đáng quan ngại, yêu cầu thiết kế toàn cầu, cơ chế tài chính mới, chuyển giao công nghệ và cơ chế tuân thủ [18].

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, cập nhật từ tài liệu UNEP/INC và báo cáo đoàn Việt Nam [5]-[10]
Bảng 1. Tóm tắt diễn biến và kết quả chính của các phiên INC

Nguồn: Tổng hợp từ UNEP và báo cáo đoàn Việt Nam [5]-[10]
2.2. Các nội dung chính sách cốt lõi đang được đàm phán
Các nội dung chính sách của Thỏa thuận đang xoay quanh quản lý toàn bộ vòng đời nhựa. Nhóm nội dung thượng nguồn liên quan đến polymer nhựa nguyên sinh, hóa chất và polymer đáng quan ngại, sản phẩm nhựa có vấn đề và vi nhựa. Nhóm trung nguồn liên quan đến thiết kế sản phẩm, giảm thiểu, tái sử dụng, sửa chữa, tái nạp đầy, hàm lượng tái sinh và EPR. Nhóm hạ nguồn liên quan đến thu gom, phân loại, tái chế, xử lý chất thải, ô nhiễm nhựa hiện hữu và vận chuyển xuyên biên giới chất thải nhựa [5].
Tài liệu trình bày tại INC-2 về định hướng xây dựng một Thỏa thuận hiệu quả cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tầm nhìn tham vọng sang các điều khoản cụ thể. Theo cách tiếp cận này, văn kiện cần có các biện pháp toàn cầu mang tính ràng buộc đối với toàn bộ vòng đời nhựa; phân nhóm và ưu tiên các sản phẩm nhựa có rủi ro cao để thiết kế biện pháp kiểm soát phù hợp; đồng thời gắn nghĩa vụ với phương thức thực hiện, đặc biệt là hỗ trợ tài chính, tăng cường năng lực và hỗ trợ kỹ thuật [19].
Bên cạnh nhóm nghĩa vụ vật chất, Thỏa thuận còn có các nội dung phương thức thực hiện gồm kế hoạch hành động quốc gia, báo cáo quốc gia, giám sát, minh bạch dữ liệu, cơ chế tài chính, chuyển giao công nghệ, tăng cường năng lực, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển đổi công bằng. Đây là các nội dung có ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vì khả năng thực thi phụ thuộc lớn vào nguồn lực, công nghệ và năng lực thể chế [5].
Bảng 2. Nhóm nội dung chính sách dự kiến và hàm ý đối với Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ phân tích tác động và các tài liệu [11]-[16]
2.3. Cơ chế tác động kinh tế - xã hội đối với Việt Nam
Tác động kinh tế của Thỏa thuận đối với Việt Nam có thể xuất hiện qua bốn kênh chính: chi phí tuân thủ của doanh nghiệp; tác động đến thương mại và xuất khẩu; cơ hội phát triển thị trường tái chế, vật liệu thứ cấp và dịch vụ môi trường; và tác động đến đầu tư xanh, đổi mới công nghệ [11].
Tác động xã hội thể hiện ở thay đổi việc làm, sức khỏe cộng đồng, hành vi tiêu dùng và sinh kế của khu vực phi chính thức. Khi phân loại tại nguồn, EPR và tái chế được mở rộng, nhu cầu lao động trong thu gom, phân loại, tái chế và kiểm soát chất lượng có thể tăng lên. Tuy nhiên, nếu chính sách không tích hợp khu vực thu gom phi chính thức, một bộ phận lao động dễ bị tổn thương có thể chịu tác động tiêu cực [12].
Tác động môi trường được kỳ vọng theo hướng tích cực nếu các nghĩa vụ được thiết kế và thực thi đầy đủ. Giảm nhựa dùng một lần, mở rộng tái sử dụng, cải thiện thu gom - phân loại, nâng cao tỷ lệ tái chế và kiểm soát rò rỉ có thể giảm áp lực lên sông, biển, đất và không khí. Tuy nhiên, việc lựa chọn giải pháp cần dựa trên đánh giá vòng đời nhằm hạn chế phát sinh tác động môi trường thứ cấp [2].

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ phân tích tác động và các tài liệu [11]-[16]
Bảng 3. Cơ sở thực tiễn và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp từ UNEP, World Bank và tài liệu Bộ Công Thương [2], [5], [11], [20]
Bảng 4. Ma trận tác động của Thỏa thuận đối với Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả phân tích và các nguồn [11]-[16]
2.4. Mức độ sẵn sàng và khoảng trống thực thi của Việt Nam
Việt Nam có một số nền tảng thuận lợi để chuẩn bị thực thi Thỏa thuận. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đưa vào các quy định quan trọng về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa nhiều nội dung về EPR và quản lý chất thải [13].
Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng chưa đồng đều. Khoảng trống nổi bật gồm thiếu cơ sở dữ liệu thống nhất về dòng nhựa; tiêu chuẩn thiết kế sinh thái và vật liệu tái sinh chưa hoàn thiện; hệ thống phân loại, thu gom, tái chế còn phân tán; cơ chế tài chính cho chuyển đổi chưa đủ mạnh; năng lực địa phương không đồng đều; và phối hợp liên ngành còn cần được củng cố [11].

Nguồn: Nhóm tác giả lượng hóa định tính trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các nguồn [11]-[16]
Bảng 5. Đánh giá mức độ sẵn sàng của Việt Nam theo nhóm yêu cầu thực thi

Nguồn: Nhóm tác giả đánh giá từ văn bản pháp luật Việt Nam [13]-[16]
2.5. Hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Về đàm phán, Việt Nam cần duy trì lập trường cân bằng: ủng hộ mục tiêu chấm dứt ô nhiễm nhựa và cách tiếp cận vòng đời, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc công bằng, phù hợp năng lực quốc gia, hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực. Đây là điều kiện để Thỏa thuận vừa bảo đảm tham vọng môi trường, vừa có tính khả thi đối với các nước đang phát triển.
Về chuẩn bị trong nước, cần chủ động rà soát và nội luật hóa các yêu cầu dự kiến của Thỏa thuận. Các nội dung ưu tiên gồm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhựa; hoàn thiện tiêu chuẩn thiết kế, vật liệu tái sinh và kiểm soát hóa chất; nâng cấp EPR; phát triển thị trường tái chế; tích hợp khu vực phi chính thức; và xây dựng cơ chế báo cáo, giám sát, MRV phù hợp với yêu cầu quốc tế.
Về định hướng phát triển, Thỏa thuận cần được nhìn nhận như một động lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nếu chuẩn bị sớm, Việt Nam có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế, thu hút tài chính xanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ và giảm rủi ro môi trường trong dài hạn. Ngược lại, sự chậm trễ trong chuẩn bị có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ và hạn chế khả năng tiếp cận các thị trường xanh.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản trị môi trường quốc tế: từ quản lý rác thải nhựa sau tiêu dùng sang quản lý toàn bộ vòng đời nhựa. Tiến trình đàm phán đã làm rõ nhiều nhóm nghĩa vụ dự kiến, đồng thời bộc lộ các khác biệt sâu sắc về phạm vi, mức độ ràng buộc, sản xuất polymer nguyên sinh, sản phẩm nhựa có vấn đề, hóa chất, tài chính và chuyển giao công nghệ.
Đối với Việt Nam, Thỏa thuận vừa tạo áp lực tuân thủ, vừa mở ra cơ hội chuyển đổi. Tác động kinh tế - xã hội có thể xuất hiện trên nhiều bình diện: doanh nghiệp, thương mại, việc làm, sức khỏe, hành vi tiêu dùng, khu vực phi chính thức, hạ tầng tái chế, tài chính và thể chế quản lý. Mức độ tác động sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực chuẩn bị chính sách trong nước và khả năng huy động nguồn lực thực thi.
3.2. Kiến nghị
Thứ nhất, cần xây dựng kế hoạch chuẩn bị thực thi Thỏa thuận theo cách tiếp cận vòng đời nhựa, trong đó xác định rõ nhiệm vụ về pháp luật, dữ liệu, tiêu chuẩn, EPR, tài chính, công nghệ và truyền thông.
Thứ hai, cần thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về nhựa, bao gồm thông tin về sản xuất, nhập khẩu, tiêu dùng, bao bì, chất thải, tái chế, thất thoát và trách nhiệm EPR. Dữ liệu là điều kiện tiên quyết để thực hiện báo cáo quốc gia và đánh giá hiệu quả thực thi.
Thứ ba, cần nâng cấp cơ chế EPR theo hướng minh bạch, có kiểm toán, gắn với thiết kế sản phẩm và khả năng tái chế thực tế. EPR cần trở thành công cụ tài chính - kỹ thuật thúc đẩy thị trường tái chế, thay vì chỉ được hiểu như nghĩa vụ đóng góp.
Thứ tư, cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tái chế, địa phương và khu vực phi chính thức trong quá trình chuyển đổi. Đây là điều kiện để giảm chi phí xã hội và bảo đảm chuyển đổi công bằng.
Thứ năm, Việt Nam cần tiếp tục chủ động tham gia đàm phán quốc tế, phối hợp với các nhóm nước có cùng lợi ích, đồng thời chuẩn bị phương án nội luật hóa linh hoạt nhằm hạn chế bị động khi Thỏa thuận được thông qua.
3.3. Định hướng nghiên cứu tiếp theo
Các nghiên cứu tiếp theo cần lượng hóa sâu hơn chi phí - lợi ích của từng nhóm nghĩa vụ dự kiến, đánh giá tác động theo ngành hàng, theo nhóm doanh nghiệp và theo địa phương, đồng thời xây dựng mô hình dữ liệu dòng nhựa phục vụ MRV và báo cáo quốc gia.
Nguyễn Thị Thúy1, Vũ Đình Hiếu1
1Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn, Môi trường và Biển
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng Việt III/2026)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. OECD (2022), Global Plastics Outlook: Economic Drivers, Environmental Impacts and Policy Options, OECD Publishing, Paris.
2. UNEP (2023), Turning off the Tap: How the world can end plastic pollution and create a circular economy, United Nations Environment Programme, Nairobi.
3. United Nations Environment Assembly (2022), Resolution 5/14 End plastic pollution: towards an international legally binding instrument, Nairobi.
4. UNEP (2022), Report of the ad hoc open-ended working group to prepare for the intergovernmental negotiating committee to develop an international legally binding instrument on plastic pollution, UNEP/PP/INC.1/INF/2.
5. UNEP (2023-2026), Official documents of the Intergovernmental Negotiating Committee on Plastic Pollution, INC-1 to INC-5.3.
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023), Báo cáo Hội nghị đàm phán liên Chính phủ lần thứ hai (INC-2) đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa.
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023), Báo cáo kết quả Hội nghị đàm phán liên Chính phủ lần thứ ba (INC-3) đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa.
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024), Báo cáo kết quả Hội nghị đàm phán liên Chính phủ lần thứ tư (INC-4) về Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa.
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2025), Báo cáo kết quả Đoàn đàm phán INC-5.
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2025), Báo cáo kết thúc Hội nghị INC-5.2.
11. World Bank (2021), Market Study for Vietnam: Plastics Circularity Opportunities and Barriers, World Bank, Washington, DC.
12. World Bank (2022), Vietnam: Plastic Pollution Diagnostics, World Bank, Washington, DC.
13. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, Hà Nội.
14. Chính phủ (2022), Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội.
15. Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 1746/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, Hà Nội.
16. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 687/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam, Hà Nội.
17. Secretariat of the Basel Convention (2023), Technical guidelines on the environmentally sound management of plastic wastes, Geneva.
18. International Institute for Sustainable Development (2025), Summary and analysis of the resumed fifth session of the INC on plastic pollution, Earth Negotiations Bulletin.
19. Vu Dinh Hieu (2023), Towards an Effective Treaty to End Plastic Pollution, presentation at the second session of the Intergovernmental Negotiating Committee, Vietnam Institute of Seas and Islands, Ministry of Natural Resources and Environment.
20. Bộ Công Thương (2023), Ngành nhựa của Việt Nam đối với Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa, tài liệu trình bày Hội thảo ngày 11/8/2023.
21.Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất giải pháp thực thi Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa”, mã số: TNMT.ĐL.2025.04.03.