
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường TS. Trần Công Thắng cho biết, các rủi ro do biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến quyết định ở lại, di cư hoặc trở về của nhiều cộng đồng và người dân chịu ảnh hưởng. Tại các vùng đồng bằng trũng thấp và ven biển, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập lụt và sụt lún đất có thể làm gia tăng áp lực đối với sinh kế. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến di cư. Thu nhập, việc làm, quan hệ gia đình và khả năng tiếp cận nguồn lực cũng định hình quyết định của họ. Trong khi một số hộ gia đình có thể thích nghi với nơi sinh sống của mình, những hộ khác vẫn phải ở lại các khu vực chịu rủi ro cao do biến đổi khí hậu vì không có lựa chọn khả thi hơn để di cư.
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu công bố từ năm 2015 đến tháng 6/2026 xác định 27 nghiên cứu liên quan đến di cư do biến đổi khí hậu tại Việt Nam, trong đó có 12 nghiên cứu tập trung vào vùng đồng bằng sông Cửu Long. Số lượng nghiên cứu về các khu vực khác còn tương đối hạn chế; các chủ đề như di dời do thiên tai, di cư thời vụ, di cư trở về và những người tiếp tục sinh sống tại các khu vực chịu rủi ro khí hậu cao cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Những bằng chứng hiện có chưa đủ cơ sở để ước tính trên phạm vi toàn quốc số người di cư do tác động của biến đổi khí hậu. Do vậy, Hội thảo được tổ chức nhằm trao đổi về cách lồng ghép yếu tố di cư do biến đổi khí hậu vào các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Đồng quan điểm với TS. Trần Công Thắng, Trưởng Phái đoàn IOM tại Việt Nam Kendra Rinas nhấn mạnh, vấn đề di cư khí hậu sẽ không thể giải quyết chỉ bằng những nỗ lực riêng lẻ. Điều này đòi hỏi mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, chính sách dựa trên bằng chứng, cũng như sự phối hợp hành động giữa các ban, ngành. Bằng cách hợp tác cùng nhau, chúng ta có thể xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ những cộng đồng dễ bị tổn thương, tôn trọng phẩm giá của người di cư và bảo đảm các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu dựa trên dữ liệu cũng như nhu cầu của những người hiện đang trực tiếp bị ảnh hưởng.

Tại Hội thảo, các đại biểu trao đổi về cách tiếp cận di cư khí hậu ở cấp toàn cầu và khu vực, khung khái niệm, đề xuất phù hợp với bối cảnh Việt Nam, cùng kết quả phân tích hệ thống các bằng chứng nghiên cứu và chính sách hiện hành. Việc thống nhất cách hiểu, thuật ngữ và phương pháp phân tích sẽ tạo nền tảng cho nghiên cứu trong tương lai, đồng thời hỗ trợ quá trình xây dựng và thực hiện chính sách dựa trên bằng chứng.
Phiên thảo luận bàn tròn tập trung trao đổi, chia sẻ giải pháp thực tiễn như: bằng chứng và các hình thức di cư của con người do biến đổi khí hậu tại Việt Nam; các nhóm dễ bị tổn thương nhất bởi những người đang đối mặt với rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng; phục hồi sinh kế và tiếp cận các dịch vụ sau khi di cư và thích ứng do cộng đồng dẫn dắt; xác định các hành động ưu tiên trong nghiên cứu, hoạch định chính sách về thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai, có tính đến các khía cạnh di cư của con người. Các hướng tiếp cận nhằm giải quyết vấn đề di cư do biến đổi khí hậu tại Việt Nam, bao gồm lồng ghép nội dung này vào các kế hoạch thích ứng; bảo vệ những nhóm dân cư có nguy cơ cao và dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu; hỗ trợ phục hồi sinh kế và tiếp cận dịch vụ xã hội thiết yếu trong quá trình tái định cư; thúc đẩy các sáng kiến thích ứng dựa vào cộng đồng.

Trong khuôn khổ Hội thảo, TS. Trần Công Thắng và bà Kendra Rinas đã ký Biên bản ghi nhớ giữa ISPAE và IOM nhằm tăng cường hợp tác nghiên cứu và xây dựng bằng chứng phục vụ quá trình hoạch định chính sách về di cư khí hậu tại Việt Nam.