Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tiến trình “chuyển đổi kép” - điểm tựa vững chắc cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV khẳng định sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đã trở thành “nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới”.

Đặt vấn đề
Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh hay còn gọi là chuyển đổi kép đã trở thành yêu cầu bắt buộc để mỗi quốc gia đổi mới mô hình tăng trưởng và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các tiêu chuẩn kỷ thuật mới như: Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới (CBAM), Quy định chống phá rừng (EUDR) hay bộ tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị (ESG) đang biến “xanh” và “số” trở thành điều kiện bắt buộc để hàng hóa được tham gia vào các thị trường lớn. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo phát triển đột phá chưa từng có”, trong khi xu thế “chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng” ngày càng được các nước quan tâm, thúc đẩy (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 78).
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV khẳng định sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đã trở thành “nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 79). Để hiện thực hóa khát vọng ấy, Đảng xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, gắn với thực hiện đồng bộ “Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 82). Như vậy, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đã trở thành hai động lực vật chất chủ yếu để bứt phá lực lượng sản xuất, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tầm nhìn đến năm 2045.
Nhưng mọi bước ngoặt lớn của lực lượng sản xuất cũng đồng thời mở ra những trận địa mới trên mặt trận tư tưởng. Trí tuệ nhân tạo, công nghệ deepfake và không gian số xuyên biên giới vừa là cơ hội phát triển, vừa là mảnh đất để các thế lực thù địch tán phát tin giả, dẫn dắt dư luận. Chúng ra sức khoét sâu vào những khó khăn mang tính quá độ của quá trình chuyển dịch năng lượng, bảo mật dữ liệu, ứng phó thiên tai để công kích đường lối lãnh đạo của Đảng và tính ưu việt của chế độ. Chính Văn kiện Đại hội XIV đã thẳng thắn chỉ ra rằng công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch “có lúc, có nơi còn bị động, nhất là trên không gian mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 380), và đặt yêu cầu “Nghiên cứu xây dựng chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số” (tr. 131).
Từ thực tiễn đó, bài viết góp phần làm rõ một luận điểm: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị chính là “điểm tựa chính trị”, là “bệ đỡ tư tưởng” để định hướng và bảo vệ động lực chuyển đổi kép, tạo đà cho đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
1. Cơ sở lý luận và tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng về “chuyển đổi kép” gắn với phát triển bền vững
1.1. Nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ trương chuyển đổi kép không phải là sự vay mượn khẩu hiệu thời thượng, mà bắt rễ sâu trong nền tảng lý luận của Đảng. Theo quan điểm duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của phương thức sản xuất; sự đổi mới công cụ lao động và phương thức sản xuất quyết định bước chuyển về chất của hình thái kinh tế - xã hội. Ngay từ thế kỷ XIX, C. Mác đã dự báo tri thức xã hội phổ biến sẽ ngày cảng chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp (Mác & Ăngghen, 2000). Ngày nay, dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang trở thành những tư liệu sản xuất mới, đúng như dự báo khoa học ấy. Chuyển đổi số, vì thế, là quá trình tất yếu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất, chứ không phải lựa chọn chủ quan của bất kỳ ai.
Cũng chủ nghĩa Mác - Lênin đã sớm chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên. C. Mác coi con người là một bộ phận của giới tự nhiên; Ph. Ăngghen cảnh báo rằng mỗi thắng lợi của con người đối với tự nhiên, nếu đi ngược quy luật, sẽ bị tự nhiên “trả thù” (Mác & Ăngghen, 1994). Phát triển phải thuận theo quy luật khách quan; bảo vệ môi trường sinh thái chính là bảo vệ điều kiện tồn tại của nhân loại. Chuyển đổi xanh, xét đến cùng, là sự trở về với tinh thần khoa học ấy sau một thời kỳ dài nhân loại tăng trưởng bằng cách vay mượn tài nguyên của các thế hệ tương lai.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bổ sung cho nền tảng đó một chiều kích nhân văn sâu sắc. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 64). Mọi sự phát triển đều phải hướng về hạnh phúc của nhân dân, kết hợp hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội và bảo vệ tài nguyên. Phong trào “Tết trồng cây” do Người phát động từ năm 1959 đến nay vẫn là minh chứng sinh động cho tầm nhìn sớm về một sự phát triển gắn với giữ gìn môi trường sống. Đặt trong hệ quy chiếu ấy, chuyển đổi kép chỉ có ý nghĩa khi nó làm cho người dân sống tốt hơn, an toàn hơn và có quyền làm chủ nhiều hơn.
1.2. Chủ trương, đường lối sáng tạo của Đảng trong thời kỳ mới
Trên nền tảng lý luận đó, Đảng ta đã từng bước xây dựng một hệ thống chủ trương nhất quán. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở đầu cho tư duy chủ động đón nhận công nghệ mới. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020) và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021) cụ thể hóa hai trụ cột của chuyển đổi kép. Tại COP26 năm 2021, Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; cam kết này tiếp tục được khẳng định trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh (Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu.
Đến Đại hội XIV, các chủ trương ấy được nâng lên thành quan điểm chỉ đạo của toàn Đảng: “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 81); xác lập mô hình tăng trưởng mới với phương thức sản xuất mới, “trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường sinh thái” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 145). Các mục tiêu được lượng hóa rõ ràng: đến năm 2030 duy trì tỉ lệ che phủ rừng 42%, giảm 8 - 9% lượng phát thải khí nhà kính, 98 - 100% cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 85). Ngay sau Đại hội, hệ thống thể chế tiếp tục được hoàn thiện với Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số, Luật An ninh mạng năm 2025 và Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Xuyên suốt hệ thống chủ trương ấy là ba quan điểm nhất quán: Một là, kiên định mục tiêu phát triển bền vững, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Hai là, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể và đích đến của mọi chuyển đổi. Ba là, chuyển đổi kép không chạy theo hình thức, mà phải phục vụ trực tiếp mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Chính sự nhất quán ấy là bằng chứng đầu tiên để bác bỏ mọi luận điệu cho rằng đường lối của Đảng “chạy theo phong trào” hay “thiếu tầm nhìn”.
2. Nhân diện và đập tan các luận điệu sai trái, thù địch về tiến trình “Chuyển đổi kép”
2.1. Bẻ gãy luận điệu xuyên tạc về chuyển đổi số và chủ quyền không gian mạng
Các thế lực thù địch thường tấn công chuyển đổi số từ hai phía. Phía thứ nhất, chúng rêu rao rằng chuyển đổi số chỉ là “khẩu hiệu mị dân”, là cái cớ để “tiêu tốn ngân sách”. Phía thứ hai, chúng vu cáo Luật An ninh mạng, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP về xác thực tài khoản mạng xã hội và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là công cụ “xâm phạm đời tư”, “kiểm soát tư tưởng”, “triệt tiêu tự do ngôn luận”; thậm chí kêu gọi người dùng “bất tuân” các quy định này. Hai mũi tấn công tưởng như khác nhau nhưng cùng một mục đích: làm người dân nghi ngờ, xa lánh chính quá trình chuyển đổi đang mang lại lợi ích cho họ.

qq-1793932395.jpg
Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu về phát triển năng lượng tái tạo

Kết quả đạt được từ thực tiễn là câu trả lời rõ ràng hơn mọi lời biện bạch. Chuyển đổi số không phải khẩu hiệu, mà là một bộ phận ngày càng lớn của nền kinh tế Việt Nam, cụ thể: năm 2025, kinh tế số chiếm 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng thực tế khoảng 11,8% so với năm trước (Cục Thống kê, 2026). Theo Bộ Công Thương, quy mô bán lẻ thương mại điện tử năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, chiếm khoảng 11% tổng mức bán lẻ hàng hóa, với khoảng 60% dân số mua sắm trực tuyến. Chuyển đổi số cũng là công cụ để tối ưu hóa quản trị quốc gia, minh bạch hóa thủ tục hành chính và hạn chế tham nhũng vặt: chỉ riêng việc thực hiện toàn trình 23 dịch vụ công thiết yếu thuộc Đề án 06 đã giúp tiết kiệm gần 3,5 nghìn tỷ đồng mỗi năm; đến tháng 11/2024, hơn 57,9 triệu tài khoản định danh điện tử VNeID đã được kích hoạt (Văn phòng Chính phủ, 2024). Mỗi hồ sơ được giải quyết trên môi trường số là một lần người dân không phải “xin - cho”, không phải qua tay trung gian. Đó là chống lãng phí, chứ không phải gây lãng phí. Có thể khái quát qua bảng số liệu sau:
Bảng 1. Một số chỉ số về chuyển đổi số ở Việt Nam

bang1-1793931871.png

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các bài viết

Về luận điệu “kiểm soát tư tưởng”, cần khẳng định chủ quyền số là bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV coi việc “Giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng” là một nội dung của bảo đảm an ninh quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 316). Không một quốc gia pháp quyền nào coi không gian mạng là vùng phi pháp luật. Liên minh châu Âu có Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) với mức phạt rất nặng; Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc đều có luật buộc các nền tảng gỡ bỏ nội dung vi phạm và chịu trách nhiệm về dữ liệu người dùng. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận và quy định quyền này được thực hiện theo pháp luật, hoàn toàn phù hợp với Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 không phải là công cụ để Nhà nước “thu gom” thông tin, mà ràng buộc trách nhiệm của mọi chủ thể xử lý dữ liệu, kể cả cơ quan nhà nước, và đặc biệt bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng (Quốc hội, 2025b). Xác thực tài khoản là quản lý danh tính chứ không phải kiểm duyệt ý kiến: người dùng vẫn tự do góp ý, phê bình, chỉ khác là họ phải chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình như ngoài đời thực. Một môi trường bị “bóp nghẹt” không thể có hàng chục triệu người dân hằng ngày tự do trao đổi, bình luận, góp ý về chính sách trên mạng xã hội như hiện nay.
Nguy hiểm hơn cả là thủ đoạn dùng chính trí tuệ nhân tạo để tạo ra “sự thật giả”. Cuối năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố một đối tượng ở nước ngoài về hành vi dùng AI, deepfake giả mạo âm thanh, hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước để tuyên truyền chống Nhà nước, đồng thời trục lợi rất lớn từ lượt truy cập, phần lớn đến từ người dùng trong nước. Trước thực tế đó, Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 yêu cầu gắn dấu hiệu nhận biết đối với âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo ra. Có người quy chụp đây là “kiểm duyệt AI”, nhưng Đạo luật AI của Liên minh châu Âu cũng đặt nghĩa vụ minh bạch tương tự. Gắn nhãn không ngăn cản sáng tạo; nó chỉ giúp người xem biết mình đang xem gì. Không thể nhân danh tự do ngôn luận để bảo vệ quyền làm giả lời nói của người khác.
2.2. Bẻ gãy luận điệu xuyên tạc về chuyển đổi xanh và cam kết khí hậu
Trên lĩnh vực chuyển đổi xanh, các luận điệu sai trái cũng đi theo hai hướng. Hướng thứ nhất rêu rao rằng cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 là “phi thực tế”, là “bước đi ảo tưởng” tự trói tay một nền kinh tế đang phát triển. Hướng thứ hai lợi dụng việc cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý một số cá nhân vi phạm pháp luật về thuế để lu loa rằng Nhà nước “bóp nghẹt tiếng nói bảo vệ môi trường”, “đàn áp xã hội dân sự xanh”, từ đó kêu gọi các đối tác quốc tế xem xét lại hợp tác với Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy cam kết Net Zero không phải “ảo tưởng”, mà là một lộ trình có cơ sở khoa học, có chỉ tiêu và có kết quả kiểm chứng được. Đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam đạt khoảng 49.378 MW, trong đó điện mặt trời 17.488 MW; riêng điện gió và điện mặt trời đã chiếm khoảng 25,8% tổng công suất hệ thống điện (Cục Điện lực, 2026). Tỉ lệ che phủ rừng năm 2025 đạt 42,03% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Con đường ấy có sự đồng hành của cộng đồng quốc tế: trong khuôn khổ Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), đến giữa năm 2025, Việt Nam đã huy động được hơn 7 tỷ USD và xác định 24 dự án phù hợp. Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 04/8/2026 của Chính phủ tiếp tục đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030: tỉ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp tối thiểu 26,1%, giảm tối thiểu 9% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường, chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tối thiểu 2% tổng chi hằng năm (Chính phủ, 2026). Quan trọng hơn, chuyển đổi xanh là con đường bắt buộc để hàng hóa Việt Nam vượt qua các rào cản xanh của thị trường lớn. Ở Tây Nguyên, chỉ riêng một doanh nghiệp cà phê tại Đắk Lắk đã liên kết với khoảng 45.000 hộ nông dân, xây dựng khoảng 50.000 ha vùng nguyên liệu có tọa độ địa lý, truy xuất được nguồn gốc để đáp ứng EUDR, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 7,64 tỷ USD chỉ tính đến giữa tháng 11/2025 theo số liệu của cơ quan hải quan. Ai nói chuyển đổi xanh “tự gây khó cho nền kinh tế” đã cố tình không thấy rằng, nếu không xanh hóa, chính người nông dân sẽ bị loại khỏi thị trường.
Bảng 2. Một số chỉ số về chuyển đổi xanh ở Việt Nam và vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên
 

bang-2-1793931953.png

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Về luận điệu “đàn áp nhà hoạt động môi trường”, cần nhắc lại một nguyên tắc nền tảng của nhà nước pháp quyền: mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật. Những cá nhân bị xét xử là vì hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự, không phải vì quan điểm bảo vệ môi trường. Danh nghĩa “nhà hoạt động” không tạo ra quyền miễn trừ trách nhiệm pháp lý; việc biến một vụ án cụ thể thành “bằng chứng” về toàn bộ chính sách khí hậu của một quốc gia là sự đánh tráo vấn đề. Cũng cần thấy rằng Nhà nước không hề hạn chế mà đang mở rộng sự tham gia của xã hội vào bảo vệ môi trường: Kết luận số 75-KL/TW và Nghị quyết số 208/NQ-CP đặt nhiệm vụ đầu tiên là tuyên truyền, giáo dục, huy động sự tham gia của toàn xã hội, phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc (Chính phủ, 2026). Điều mà pháp luật kiên quyết ngăn chặn là việc lợi dụng danh nghĩa môi trường để trục lợi, hoặc câu kết với thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước.
Ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, các luận điệu về môi trường còn được “cài” thêm vấn đề dân tộc, đất đai. Những luận điệu “đất Tây Nguyên là của người Thượng” từng là ngòi nổ cho vụ khủng bố tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ngày 11/6/2023 làm 9 người thiệt mạng. Trên nền đó, các dự án năng lượng, khoáng sản dễ bị xuyên tạc thành “bán tài nguyên”, “cướp đất”; thiên tai bị lợi dụng để quy kết chính quyền “bỏ mặc dân”. Sự thật trong đợt mưa lũ lịch sử tháng 11/2025 đã bác bỏ điều đó: dù 102 người chết và mất tích, thiệt hại sơ bộ khoảng 13.078 tỷ đồng theo báo cáo của các cơ quan chức năng, ngay ngày 21/11/2025 Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 99-TB/TW chỉ đạo khắc phục hậu quả; Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ khẩn cấp 700 tỷ đồng cho bốn tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk; 4.000 tấn gạo dự trữ quốc gia được xuất cấp; cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc. Bất chấp thiên tai, năm 2025 Gia Lai vẫn tăng trưởng 7,2%, Quảng Ngãi tăng 10,02%, Đà Nẵng tăng 9,18% theo số liệu thống kê của các địa phương. Đồng thời, những hạn chế có thật như vận hành liên hồ chứa, chồng lấn quy hoạch năng lượng với quy hoạch khoáng sản cũng được chính quyền địa phương thẳng thắn báo cáo và kiến nghị xử lý (Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, 2026). Thẳng thắn nhìn nhận và sửa chữa là cách tốt nhất tước đi “chất liệu” của các luận điệu xuyên tạc.
2.3. Phản bác luận điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với vận mệnh quốc gia trong kỷ nguyên mới
Mũi tấn công sâu xa nhất nhắm thẳng vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng chế độ một đảng lãnh đạo là “rào cản của đổi mới sáng tạo”, không đủ năng lực thích ứng với nền kinh tế tri thức; chúng lợi dụng những điểm nghẽn cục bộ về kỹ thuật, nguồn vốn, giải tỏa công suất năng lượng tái tạo để quy chụp cho “sự bế tắc của thể chế”. Thực chất, đây là lối suy luận lấy cái bộ phận thay cho cái toàn thể, lấy khó khăn của quá trình quá độ để phủ định chính con đường.
Lý luận và thực tiễn đều chỉ ra điều ngược lại. Chuyển đổi kép là một quá trình đòi hỏi tầm nhìn 20 - 30 năm, khối lượng đầu tư lớn vào hạ tầng, nhân lực và thể chế. Những quá trình như vậy cần sự ổn định chính trị và một trung tâm lãnh đạo đủ mạnh để giữ hướng đi nhất quán, không bị đứt gãy theo chu kỳ bầu cử hay bị thao túng bởi các nhóm lợi ích ngắn hạn. Chính sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng đã cho phép Việt Nam ban hành liên tiếp các nghị quyết đột phá về khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân, năng lượng, môi trường trong thời gian rất ngắn và đưa ngay vào cuộc sống.
Kết quả là những con số khó có thể phủ nhận. Năm 2025, GDP của Việt Nam tăng 8,02%, quy mô vượt 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa đất nước vào nhóm thu nhập trung bình cao (Cục Thống kê, 2026). Trên bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, Việt Nam đứng thứ 44/139 năm 2025 và vươn lên thứ 43/139 năm 2026, đồng thời dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Công suất điện mặt trời và điện gió của Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu khu vực. Một thể chế “bế tắc” không thể tạo ra những chuyển biến như vậy. Điều cần nói là các điểm nghẽn vẫn còn, nhưng chính Đảng là chủ thể chỉ ra chúng trong các văn kiện và lãnh đạo tháo gỡ, chứ không phải những kẻ đứng ngoài chỉ biết phủ nhận.
3. Hệ thống giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo đảm thắng lợi cho chuyển đổi kép
3.1. Nhóm giải pháp “xây” - củng cố sức mạnh nội tại và niềm tin xã hội

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài. Trên lĩnh vực chuyển đổi kép, “xây” trước hết là hoàn thiện đồng bộ thể chế: sớm ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo; tháo gỡ rào cản pháp lý cho kinh tế số, tài chính xanh, thị trường tín chỉ carbon; bảo đảm quy trình đầu tư các dự án năng lượng, hạ tầng số công khai, minh bạch, ngăn chặn tiêu cực, thất thoát. Mỗi kẽ hở thể chế được bịt lại là một “chất liệu” bị tước khỏi tay các thế lực xuyên tạc.
“Xây” còn là bảo đảm công bằng trong chuyển đổi. Chuyển đổi kép tất yếu tạo ra người được và người chịu tác động: lao động trong các ngành truyền thống, nông dân phải đáp ứng tiêu chuẩn xanh, cộng đồng sống quanh các dự án năng lượng. Cần có chính sách đào tạo lại kỹ năng số, kỹ năng xanh cho người lao động; cơ chế an sinh thỏa đáng cho các nhóm chịu tác động trong chuyển dịch năng lượng; thực hiện nhất quán phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước đã giảm từ 4,4% xuống 1,3% theo báo cáo của Chính phủ; ở Lâm Đồng, tỉ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm 2,12 điểm phần trăm trong năm 2025, còn 8,75% (Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, 2026). Duy trì xu hướng ấy trong quá trình chuyển đổi chính là cách thuyết phục nhất để giữ niềm tin của nhân dân.
Cùng với đó, cần từng bước làm chủ hạ tầng và công nghệ cốt lõi: xây dựng hạ tầng số tự chủ, phát triển các nền tảng số trong nước, phát triển trí tuệ nhân tạo đi đôi với đạo đức công nghệ và hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Không làm chủ được công nghệ thì cũng khó làm chủ được không gian thông tin, và khi đó cuộc đấu tranh tư tưởng sẽ luôn ở thế bị động.
3.2. Nhóm giải pháp “chống” - tấn công sắc bén, vô hiệu hóa các luồng thông tin độc hại
Trước hết, cần hiện đại hóa phương thức đấu tranh bằng chính công nghệ số. Ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để rà quét, cảnh báo sớm các chiến dịch truyền thông bẩn, nhận diện video deepfake; xây dựng kho dữ liệu, luận cứ chuẩn về các chính sách số, xanh để dùng chung cho báo chí, báo cáo viên, giảng viên. Sản phẩm phản bác cần ngắn gọn, trực quan, đồ họa hóa dữ liệu, phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của người trẻ trên mạng xã hội, đúng như yêu cầu “tăng cường kiểm soát thông tin trên không gian mạng, gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” mà Văn kiện Đại hội XIV đã đặt ra (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 173).
Thứ hai, phải chủ động thế trận thông tin. Báo chí chính thống và hệ thống thông tin đối ngoại cần đi trước một bước, kịp thời giải thích lộ trình, bước đi và kết quả thực tế của số hóa, xanh hóa nền kinh tế. Mỗi chính sách lớn khi ban hành nên đi kèm một “gói” thông tin giải thích được chuẩn bị sẵn; mỗi sự cố thiên tai, môi trường cần có kênh phản hồi nhanh của chính quyền để thông tin đúng đến trước tin giả. Với Tây Nguyên, cần truyền thông bằng tiếng của người dân tộc thiểu số, thông qua già làng, người có uy tín, để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” ngay tại từng buôn làng. Đồng thời, cần phân biệt rõ ý kiến phản biện mang tính xây dựng với quan điểm sai trái, thù địch; tôn trọng và tiếp thu góp ý của nhà khoa học, doanh nghiệp, cộng đồng để không đẩy những người có thiện chí sang phía bên kia.
Thứ ba, siết chặt kỷ cương, thượng tôn pháp luật. Cần xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân cố tình bóp méo chủ trương, lan truyền thông tin sai lệch gây hoang mang dư luận hoặc xâm hại an ninh kinh tế, môi trường; đồng thời yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo Luật An ninh mạng và Luật Trí tuệ nhân tạo. Xử lý nghiêm không mâu thuẫn với tự do ngôn luận, mà chính là bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin trung thực của số đông.
Kết luận
Chuyển đổi kép không đơn thuần là một cuộc cải cách kinh tế - xã hội, mà là cuộc cách mạng toàn diện về phương thức sản xuất, gắn liền với sự kiên định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chính vì tầm vóc ấy, nó trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, từ việc xuyên tạc chuyển đổi số, chủ quyền không gian mạng, công kích cam kết khí hậu,… cho đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn phát triển của đất nước và của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đã cho thấy những luận điệu ấy không đứng vững trước sự thật.
Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì vậy, chính là giữ vững ngọn cờ dẫn dắt, giữ vững điểm tựa chính trị để quá trình chuyển đổi kép đi đúng hướng, phục vụ đúng mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Khi “xây” được làm thật tốt, “chống” sẽ có sức nặng; và khi mỗi người dân cảm nhận được thành quả của số hóa, xanh hóa trong đời sống của mình, chính họ sẽ là bức tường vững chắc nhất trước mọi luận điệu sai trái, tạo bệ phóng cho đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

TS. Võ Văn Lợi
Học viện Chính trị khu vực III
 

Tài liệu tham khảo 
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2026). Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
2. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
4. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026). Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025.
6. Chính phủ. (2024). Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
7. Chính phủ. (2026). Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 04/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW. https://luatvietnam.vn/tai-nguyen/nghi-quyet-208-nq-cp-2026-chuong-trinh-hanh-dong-bao-ve-moi-truong-va-ung-pho-bien-doi-khi-hau-442953-d1.html.
8. Cục Điện lực. (2026). Báo cáo tình hình thực hiện Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 năm 2025. Bộ Công Thương. 
9. Cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Bộ Tài chính.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
11. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 4). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
12.  Mác, C., & Ăngghen, Ph. (1994). Toàn tập (Tập 20). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
13. Mác, C., & Ăngghen, Ph. (2000). Toàn tập (Tập 46, Phần II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
14. Quốc hội. (2025a). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15.
15. Quốc hội. (2025b). Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15.
16. Quốc hội. (2025c). Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15.
17. Quốc hội. (2025d). Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15.
18.  Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
19. Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.
20. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp năm 2026 (Tài liệu phục vụ họp tháng 01/2026).https://lamdong.gov.vn/sites/tonghop/tai-lieu-hop-vpubnd/Shared%20Documents/2025/(7.1.2026)%20BC%20PHUC%20VU%20HOP%20KTXH%202025.pdf.
22. Văn phòng Chính phủ. (2024). Thông báo số 530/TB-VPCP ngày 22/11/2024 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ về Đề án 06.

Đặt mua Tạp chí Môi trường