Thực tế hiện nay, khi loại cây trồng chủ lực trên đất lâm nghiệp mà bao năm qua mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho bà con nông dân là cây keo, cần được xem xét chuyển đổi phù hợp sang rừng gỗ lớn và cây bản địa tại những khu vực có điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và chức năng phòng hộ. Bên cạnh đó, việc xác định loại cây trồng có giá trị kinh tế cao cũng chỉ giới hạn ở một số mô hình, ở vài địa điểm nhỏ lẻ, chưa sâu rộng. Trong khi đó, việc chuyển đổi qua phát triển loại cây trồng khác có hiệu quả phù hợp là một quá trình không phải là chuyện ngày một ngày hai, trong khi có những tiềm năng từ những loại cây đã có sẵn trong thiên nhiên, có giá trị kinh tế như các loại cây dược liệu và cả các loại rau rừng lại khá phong phú. Đây cũng là những loại cây trồng rất cần thiết cho xu hướng chăm sóc sức khỏe hiện nay cũng như rất thiết thực đối với đời sống thường ngày của nhiều người.

Nói về cây dược liệu “điển hình” của Đà Nẵng không thể không nhắc đến hai loại cây dược liệu quý, đó là quế và sâm Ngọc Linh. Quế ở vùng Quảng Nam (cũ), đặc biệt là vùng Trà My, nơi được mệnh danh là “Cao Sơn ngọc quế” vốn nổi tiếng từ bao đời nay. Nó gắn liền với đời sống văn hóa, kinh tế của người dân vùng “sơn cước” này. Quế được trồng nhiều ở các huyện cũ trước đây thuộc Quảng Nam như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Phước Sơn. Cây quế không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị về dược liệu và bảo vệ rừng.
Loại cây dược liệu quý thứ hai của Đà Nẵng không thể không nhắc đến cây sâm Ngọc Linh. Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Quảng Nam có Trung tâm Phát triển Sâm Ngọc Linh và Dược liệu. Sau sắp xếp, Trung tâm tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu trên địa bàn. Về loại cây dược liệu này, sâm Ngọc Linh được đánh giá là loài dược liệu quý, có giá trị kinh tế và tiềm năng nghiên cứu, phát triển.
Việc sử dụng các nguyên liệu thảo dược tự nhiên đang được quan tâm trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm chăm sóc sức khỏe, đang thành xu thế chung không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Nếu như ở vùng đồng bằng vốn có nhiều cây thuốc, thì ở những khu rừng tự nhiên tại Đà Nẵng có nhiều loài thực vật được sử dụng làm dược liệu. Đơn cử như những cánh rừng tự nhiên phía Tây thành phố khá phong phú và đa dạng các loại cây thuốc mọc hoang dã ở khắp nơi như ba kích, sâm cau, mật nhân, hà thủ ô, giảo cổ lam, dây thìa canh...là những loài có tiềm năng làm nguyên liệu dược liệu, nhưng việc sử dụng cần dựa trên cơ sở khoa học và quy định chuyên môn. Ngoài ra, còn có các loại cây thuốc khác khá thông dụng cũng không phải khó tìm như cây bướm bạc, chè dung, chè vằng, cà gai leo, khổ qua rừng...
Nắm bắt xu thế này, thời gian qua, thành phố Đà Nẵng đã triển khai một số mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn và phát triển cây dược liệu, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp dược địa phương tăng cường sản xuất, phát triển thị phần trong và ngoài nước. Đây cũng là cơ hội để góp phần hỗ trợ nông dân giải bài toán về chuyển đổi cây trồng thiết thực và hiệu quả, đặc biệt là tại những xã miền núi, nơi có dư địa khá lớn về đất đồi rừng, phù hợp với việc trồng những loại cây có đặc tính sinh học phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, mà cây dược liệu là một ví dụ điển hình.
Cũng cần biết rằng, các loại cây dược liệu tuy mọc hoang dã nhưng nếu không có các biện pháp bảo tồn, quản lý, để khai thác tràn lan, không tạo điều kiện để cây sinh trưởng, phát triển thì cũng đến lúc suy giảm nguồn tài nguyên. Do đó, việc bảo tồn, quy hoạch, nhân rộng diện tích có quản lý các loại cây dược liệu là một việc cần được quan tâm đầu tư. Được biết, từ năm 2017, UBND thành phố Đà Nẵng (cũ) đã ban hành Quyết định số 1936/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 phê duyệt 7 địa điểm quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn, với tổng diện tích 440 ha, trong đó có hai vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có định hướng trồng rau, hoa, cây dược liệu tại Hòa Ninh (40 ha) và Hòa Phú (50 ha). Bên cạnh đó, thành phố cũng đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ mới vào thực tế bảo tồn, phát triển cây dược liệu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu và sản xuất dược phẩm, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao giúp bảo vệ sức khỏe cho người dân.
Ngoài bảo tồn và phát triển cây dược liệu, có một loại thực vật hoang dại nhưng ngày càng có mặt thường xuyên trong các bữa ăn, bữa tiệc hàng ngày, thậm chí được coi là món ăn đặc sản, đó là các loại rau rừng, những loại vốn mọc hoang dã trên rừng, ven sông, suối nhưng được sử dụng trong ẩm thực địa phương. Có thể kể đến như rau dớn, rau lủi... Đặc biệt là các loại rau ăn kèm với món ăn truyền thống xứ Quảng. Đơn cử như món gỏi cá truyền thống, các loại rau ăn kèm đang mọc tản mát khắp nơi ngoài tự nhiên mà chủ yếu là ở vùng đồi rừng, chủng loại rất phong phú như: sung, mơ lông, đinh lăng, xoài, cốc rừng, lá cách, bứa, lá trâm, lá dừng, dành ngạnh... Tuy vậy, các loại rau rừng nêu trên có thể cần nghiên cứu tổ chức canh tác phù hợp để chủ động nguồn cung, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên. Việc canh tác tập trung rau rừng sẽ giúp cho các món ăn đặc sản của Đà Nẵng, chẳng hạn như món gỏi cá, món ăn đã thành thương hiệu của vùng Nam Ô và cả Đà Nẵng thêm phần hấp dẫn. Chủ động được nguồn nguyên liệu nhất là canh tác tập trung theo hướng hữu cơ, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, sẽ góp phần nâng cao chất lượng của các loại rau rừng. Đây là việc nên làm để góp phần cho các món ăn mang hương vị quê nhà thêm hấp dẫn...
Phát triển và bảo tồn các loại cây dược liệu và rau rừng theo quy hoạch, định hướng cụ thể là vấn đề cần được quan tâm, với sự phối hợp của các cơ quan quản lý về nông nghiệp và môi trường, y tế, công thương. Qua đó, góp phần bảo tồn và bảo vệ rừng, gìn giữ tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc, làm thực phẩm; đồng thời nâng cao chất lượng đời sống, phát triển kinh tế hộ gia đình, đặc biệt tại khu vực trung du, miền núi của thành phố Đà Nẵng.