Trách nhiệm hành chính của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa và mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh, các vấn đề môi trường phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp ngày càng trở nên đáng chú ý. Không ít trường hợp xả thải, xử lý chất thải không đúng quy định hoặc vi phạm các nghĩa vụ về bảo vệ môi trường đã gây ra những tác động tiêu cực đối với hệ sinh thái và đời sống xã hội. Thực tiễn này cho thấy, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn môi trường, việc bảo đảm các quy định pháp luật được thực thi nghiêm túc cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Tóm tắt

Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng có những tác động đáng kể đến môi trường tự nhiên. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng và thực thi các cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, qua đó góp phần duy trì trật tự quản lý nhà nước và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trách nhiệm hành chính được xem là một trong những công cụ quan trọng để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hành chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời xem xét thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam. Từ những phân tích này, bài viết bước đầu đưa ra một số gợi mở nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm hành chính đối với doanh nghiệp trong hoạt động bảo vệ môi trường.

Từ khóa: Trách nhiệm hành chính, doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, vi phạm pháp luật môi trường.

Administrative Responsibility of Enterprises in Environmental Protection - Some Theoretical and Practical Issues


Abstract
In the context of current economic development, the production and business activities of enterprises are increasingly having a significant impact on the natural environment. This necessitates the development and implementation of effective legal mechanisms to ensure enterprises comply with environmental protection regulations, thereby contributing to maintaining state management order and aiming for sustainable development. In the Vietnamese legal system, administrative responsibility is considered one of the important tools for handling violations of environmental laws by enterprises. Based on this, the article focuses on clarifying some theoretical issues regarding the administrative responsibility of enterprises in the field of environmental protection, while also examining the practical application of the law in Vietnam. From this analysis, the article initially offers some suggestions to improve the effectiveness of applying administrative responsibility to enterprises in environmental protection activities.

Keywords: Administrative responsibility, businesses, environmental protection, environmental law violations.

JEL Classifications: Q50, Q51, Q56, Q58.

Đặt vấn đề 
Để cụ thể hóa chiến lược của Đảng, ngày 13/4/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 450/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường cũng từng bước được sửa đổi, hoàn thiện, như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Luật Đất đai năm 2024; Luật Tài nguyên nước năm 2023; Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024; Luật Dầu khí năm 2022; Luật Thủy sản năm 2017... và các nghị định, thông tư hướng dẫn. Bên cạnh đó, trách nhiệm hành chính của các chủ thể trong bảo vệ môi trường được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Nghị định số 55/2021/NĐ-CP ngày 24/5/2021 và Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Dưới khía cạnh pháp lý, doanh nghiệp được bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tuy nhiên, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh, bảo đảm mục tiêu điều chỉnh của pháp luật. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, với nguyên tắc xuyên suốt theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mọi hành vi vi phạm của các chủ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đều bị xem xét áp dụng trách nhiệm pháp lý.

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa và mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh, các vấn đề môi trường phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp ngày càng trở nên đáng chú ý. Không ít trường hợp xả thải, xử lý chất thải không đúng quy định hoặc vi phạm các nghĩa vụ về bảo vệ môi trường đã gây ra những tác động tiêu cực đối với hệ sinh thái và đời sống xã hội. Thực tiễn này cho thấy, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn môi trường, việc bảo đảm các quy định pháp luật được thực thi nghiêm túc cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Từ thực tiễn đó, trách nhiệm hành chính trở thành một trong những cơ chế pháp lý trực tiếp nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường của doanh nghiệp, qua đó góp phần duy trì hiệu quả trong phạm vi quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả áp dụng trách nhiệm hành chính trong thực tế vẫn còn đặt ra một số vấn đề, từ việc phát hiện vi phạm, xác định trách nhiệm đến việc bảo đảm các biện pháp khắc phục hậu quả. Xuất phát từ thực tiễn đó cùng với chủ trương của Đảng, Nhà nước về cùng vấn đề liên quan, bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hành chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời xem xét thực tiễn áp dụng tại Việt Nam nhằm bước đầu gợi mở một số định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực môi trường

1.1. Tổng quan về trách nhiệm hành chính 

Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” được hiểu là “hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật” [1], hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi vi phạm được thể hiện thông qua việc áp dụng các chế tài đối với tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật. Đối với doanh nghiệp vi phạm hành chính, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt hành chính kèm theo các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Trong trường hợp hành vi vi phạm có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự, bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Bên cạnh đó, nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân hoặc tổ chức khác, chủ thể bị thiệt hại có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu giải quyết theo thủ tục dân sự.

Trách nhiệm hành chính được đặt ra trên cơ sở của vi phạm hành chính, tức là hành vi có lỗi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm và theo quy định phải bị xử phạt hành chính. Các biện pháp trách nhiệm hành chính là một dạng của biện pháp cưỡng chế hành chính, song có sự khác biệt với các biện pháp mang tính phòng ngừa và ngăn chặn ở chỗ chúng được áp dụng nhằm xử lý hậu quả của hành vi vi phạm đã xảy ra. Đồng thời, việc áp dụng trách nhiệm hành chính, tương tự như các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn hành chính, chủ yếu do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền thực hiện, không thông qua trình tự xét xử tư pháp.

Khoản 1 Điều 2 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 xác định vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm và theo quy định phải bị xử phạt hành chính. Từ cách định nghĩa này có thể thấy, giữa hành vi vi phạm hành chính và hành vi tội phạm tồn tại những điểm tương đồng cơ bản: đều là hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động; đều được thực hiện trên cơ sở có lỗi của chủ thể; chủ thể thực hiện có thể là cá nhân hoặc tổ chức; đều xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ; và đều kéo theo việc áp dụng các biện pháp chế tài của Nhà nước.

1.2. Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực môi trường

Có thể nói phạm vi khách thể của hành vi vi phạm pháp luật hành chính rộng hơn rất nhiều so với phạm vi khách thể của hành vi phạm tội [2]. Hành vi vi phạm pháp luật hành chính của doanh nghiệp có thể xâm hại đến nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau, bao gồm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế, điều kiện kinh doanh, cấp phép hoạt động cũng như các quy định về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, xét trong tương quan với trách nhiệm hình sự, phạm vi khách thể bị xâm hại có sự thu hẹp nhất định. Cụ thể, các hành vi bị coi là tội phạm chủ yếu xâm phạm đến hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản, đó là quan hệ liên quan đến trật tự quản lý kinh tế và quan hệ liên quan đến môi trường. Điều này cho thấy, không phải mọi hành vi vi phạm của doanh nghiệp đều bị xử lý bằng chế tài hình sự, mà phần lớn được điều chỉnh thông qua cơ chế trách nhiệm hành chính. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sự phân định này có ý nghĩa quan trọng, bởi trách nhiệm hành chính trở thành công cụ pháp lý chủ yếu để xử lý các hành vi vi phạm của doanh nghiệp, đặc biệt trong những trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đối với môi trường. 

Tóm lại, trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực môi trường là một dạng trách nhiệm pháp lý được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông qua việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ nhằm chấm dứt hành vi vi phạm mà còn buộc chủ thể vi phạm thực hiện các nghĩa vụ khắc phục hậu quả môi trường đã gây ra. Trong bối cảnh các vi phạm môi trường diễn ra ngày càng phức tạp, trách nhiệm hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật, góp phần phòng ngừa vi phạm và duy trì trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

2. Thực tiễn áp dụng trách nhiệm hành chính đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam

2.1. Thực trạng vi phạm pháp luật môi trường của doanh nghiệp

Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, doanh nghiệp trở thành một trong những chủ thể có tác động trực tiếp và thường xuyên nhất đến môi trường. Thực tiễn cho thấy, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp diễn ra tương đối phổ biến, với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Các vi phạm điển hình có thể kể đến như xả thải vượt quy chuẩn cho phép, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp xử lý chất thải, vi phạm quy định về đánh giá tác động môi trường, cũng như không tuân thủ nghĩa vụ báo cáo và giám sát môi trường theo quy định của pháp luật. Số vụ vi phạm môi trường đã được xử lý giai đoạn 2012 - 2021 tăng hơn 5,7 lần, từ 2.438 vụ (năm 2012) lên 14.042 vụ (năm 2021) [3]; Trong năm 2023, cơ quan chức năng đã phát hiện 16.641 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 14.873 vụ với tổng số tiền phạt là 282,1 tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm trước [4]. Từ các số liệu này có thể nhận thấy, vi phạm môi trường của doanh nghiệp không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phản ánh những bất cập trong cơ chế kiểm soát và xử lý hiện hành.

Từ thực trạng trên có thể thấy, tình trạng tái phạm của doanh nghiệp sau khi bị xử phạt xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống. Trước hết, pháp luật chưa thiết lập đầy đủ cơ chế kiểm tra, giám sát sau xử phạt, dẫn đến việc xử lý vi phạm dừng lại ở thời điểm ra quyết định mà thiếu sự theo dõi liên tục. Bên cạnh đó, việc chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất về vi phạm môi trường khiến cho quá trình quản lý, tra cứu và kiểm soát lịch sử vi phạm của doanh nghiệp còn rời rạc, thiếu hiệu quả. Ngoài ra, hạn chế về nguồn lực thanh tra, kiểm tra cũng làm giảm khả năng phát hiện kịp thời các hành vi tái phạm. Cuối cùng, việc thiếu cơ chế công khai kết quả hậu kiểm đã làm suy yếu vai trò giám sát của xã hội, từ đó chưa tạo được áp lực đủ mạnh buộc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật môi trường một cách nghiêm ngặt. Đáng chú ý, các hành vi vi phạm này không chỉ mang tính chất đơn lẻ mà trong nhiều trường hợp còn xuất phát từ động cơ kinh tế, khi doanh nghiệp ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận và cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật môi trường. Điều này làm gia tăng nguy cơ vi phạm có tính hệ thống, đặc biệt trong các ngành sản xuất có mức độ tác động lớn đến môi trường. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải áp dụng các công cụ pháp lý hiệu quả hơn, trong đó trách nhiệm hành chính giữ vai trò trung tâm trong việc kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm của doanh nghiệp.

2.2. Thực tiễn áp dụng trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp

Việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường đã bước đầu góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trên thực tế, các biện pháp xử phạt không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà còn tạo ra những chuyển biến nhất định trong nhận thức và hành vi của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp. Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, nhiều doanh nghiệp đã chủ động rà soát, khắc phục các tồn tại, từng bước điều chỉnh hoạt động sản xuất theo hướng tuân thủ pháp luật môi trường. Điều này thể hiện ở việc tăng cường đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải, cải thiện quy trình thu gom, quản lý và xử lý chất thải nhằm đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Theo Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025); Điều 4 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, gồm: Các hình thức xử phạt chính; Các hình thức xử phạt bổ sung; Áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả (gồm 14 biện pháp khắc phục hậu quả) buộc phải khôi phục lại tình trạng môi trường ban đầu hoặc phục hồi môi trường theo quy định. Việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả phải tuân thủ các quy định của pháp luật, bảo đảm triệt để nguyên tắc “mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục”. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kể từ khi Nghị định số 45/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, từ tháng 8/2022 - 10/2024, các cơ quan, người có thẩm quyền đã xử phạt 12.045 vụ việc vi phạm hành chính, với tổng số tiền phạt là 383.546.154.153 đồng, trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) xử phạt là 83.571.802.564 đồng; bộ, ngành khác xử phạt là 754.500.000 đồng, địa phương xử phạt là 302.219.851.589 đồng, số vụ việc đình chỉ hoạt động có thời hạn là 205 trường hợp, 18 trường hợp áp dụng hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép và 14.899 trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả [5]. 

Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng trách nhiệm hành chính đối với các hành vi vi phạm môi trường của doanh nghiệp cho thấy nhiều vấn đề không chỉ nằm ở quy định pháp luật mà còn xuất phát từ chính cách thức hành xử của doanh nghiệp. Với mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp thường đặt lên bàn cân giữa chi phí tuân thủ và chi phí bị xử phạt. Khi chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý môi trường quá lớn, trong khi mức phạt chưa thực sự cao, một số doanh nghiệp có xu hướng chấp nhận vi phạm như một phần chi phí trong hoạt động kinh doanh. Điều này làm cho chế tài hành chính, trong nhiều trường hợp, chưa phát huy được vai trò răn đe như kỳ vọng. Không chỉ dừng lại ở đó, doanh nghiệp còn có khả năng “thích nghi” với hoạt động kiểm tra, giám sát. Thực tế cho thấy có tình trạng vận hành hệ thống xử lý chất thải mang tính đối phó, hoặc chỉ tuân thủ khi có đoàn kiểm tra. Những cách thức này khiến việc phát hiện vi phạm trở nên khó khăn hơn, đồng thời làm giảm hiệu quả của các biện pháp xử lý hành chính.

2.3. Hạn chế của việc áp dụng trách nhiệm hành chính trong vi phạm pháp luật môi trường của doanh nghiệp

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc áp dụng trách nhiệm hành chính đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vẫn còn bộc lộ nhiều yếu điểm, có thể liệt kê một số hạn chế điển hình như sau:

Thứ nhất, chế tài hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa đủ sức răn đe. Cụ thể theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP, Điều 13 và Điều 14 đã có khung chế tài về vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong trường hợp không có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định,về bảo vệ môi trường đối với dự án đầu tư đã triển khai xây dựng nhưng chưa đi vào vận hành hoặc cơ sở đang hoạt động mà không có giấy phép môi trường hoặc đăng ký môi trường theo quy định. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, mức phạt còn thấp so với lợi ích mà doanh nghiệp thu được từ hành vi vi phạm, khiến doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận bị xử phạt thay vì đầu tư chi phí tuân thủ. Khi việc vi phạm trở thành một lựa chọn “có lãi”, thì hiệu quả ngăn ngừa của trách nhiệm hành chính cũng bị giảm đi đáng kể.

Thứ hai, việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù pháp luật đã quy định các biện pháp như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc xử lý ô nhiễm, nhưng trên thực tế, việc thực hiện các biện pháp này không dễ dàng. Chi phí lớn, thời gian kéo dài và thiếu cơ chế giám sát cụ thể khiến nhiều trường hợp việc khắc phục không triệt để, thậm chí chỉ mang tính đối phó. Điều này dẫn đến tình trạng vi phạm đã bị xử lý nhưng hậu quả môi trường vẫn tồn tại, làm giảm ý nghĩa thực chất của việc xử phạt hành chính. 

Thứ ba, sự phối hợp liên ngành trong kiểm soát và xử lý vi phạm môi trường còn thiếu hiệu quả. Việc xử lý vi phạm môi trường của doanh nghiệp không thuộc thẩm quyền của một cơ quan duy nhất mà liên quan đến nhiều chủ thể quản lý khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp này còn mang tính rời rạc, chủ yếu dừng ở từng khâu riêng lẻ mà thiếu một cơ chế liên thông nhất quán. Thông tin về tình trạng vi phạm, quá trình xử lý và việc khắc phục hậu quả chưa được chia sẻ đầy đủ giữa các cơ quan, dẫn đến việc đánh giá hành vi vi phạm của doanh nghiệp chưa toàn diện. Hệ quả là cùng một doanh nghiệp nhưng có thể bị quản lý bởi nhiều bộ phận khác nhau, trong khi không có một cơ chế tổng thể để theo dõi xuyên suốt quá trình tuân thủ. Điều này làm giảm hiệu quả kiểm soát, đồng thời tạo ra khoảng trống để doanh nghiệp kéo dài việc khắc phục hoặc né tránh trách nhiệm. Về lâu dài, sự thiếu gắn kết trong phối hợp liên ngành không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý từng vụ việc cụ thể mà còn làm suy yếu tính thống nhất của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

3. Một số kiến nghị 

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm hành chính theo hướng gắn với thực tiễn hành vi của doanh nghiệp. Từ thực tiễn cho thấy, nhiều hành vi vi phạm của doanh nghiệp vẫn lặp lại sau khi bị xử phạt, một phần do mức phạt hiện hành chưa thực sự tạo ra áp lực đủ lớn so với lợi ích kinh tế mà hành vi vi phạm mang lại. Vì vậy, trong thời gian tới, việc nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 45/2022/NĐ-CP cần đặt trọng tâm vào việc điều chỉnh lại cách thức xác định mức phạt, theo hướng linh hoạt và có tính tương quan với quy mô, năng lực tài chính của doanh nghiệp. Có thể cân nhắc quy định mức phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm gắn với các chỉ số kinh tế nhất định nhằm bảo đảm tính công bằng và ổn định trong áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, cần xem xét điều chỉnh các biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt đối với hành vi xả thải không qua xử lý, theo hướng không chỉ dừng lại ở việc buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp mà còn phải truy thu đầy đủ các nghĩa vụ tài chính liên quan đến bảo vệ môi trường. Cách tiếp cận này không chỉ làm rõ bản chất của hành vi vi phạm là sự né tránh chi phí xử lý chất thải, mà còn góp phần bảo đảm sự tương thích với các quy định hiện hành về xử lý vi phạm hành chính. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập tới một khía cạnh cụ thể là môi trường biển. Hiện nay dưới áp lực của phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo, ô nhiễm môi trường biển đang có xu hướng gia tăng. Do vậy, cần thiết xây dựng riêng một nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Nghị định này nhằm áp dung xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về nhận chìm ở biển (không đúng thành phần vật chất, vượt khối lượng cho phép, không thực hiện biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường trường biển trong quá trình thực hiện nhận chìm…); hành vi khai thác khoáng sản, vận chuyển xăng, dầu, hóa chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển không có kế hoạch, nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; hành vi vi phạm hành lang bảo vệ bờ biển…

Thứ hai, thiết lập cơ chế hậu kiểm bắt buộc trong quá trình xử lý vi phạm. Thực tế cho thấy, xử phạt chỉ là điểm bắt đầu chứ không phải điểm kết thúc của quá trình kiểm soát vi phạm. Nếu thiếu cơ chế theo dõi sau xử phạt, toàn bộ hiệu quả của trách nhiệm hành chính có thể bị vô hiệu hóa bởi hành vi tái phạm. Vì vậy, cần nhìn nhận hậu kiểm như một phần cấu thành của trách nhiệm hành chính, không thể tách rời khỏi quyết định xử phạt. Điều này đòi hỏi phải xây dựng quy trình theo dõi cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, đồng thời thiết lập hệ thống dữ liệu liên thông để ghi nhận và truy vết lịch sử vi phạm của doanh nghiệp. Khi thông tin được tích lũy và kết nối, việc kiểm soát sẽ không còn mang tính đơn phương mà chuyển sang quản lý theo hồ sợ dữ liệu của từng doanh nghiệp. Ngoài ra, cần cụ thể hóa hơn nữa trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác nhận và theo dõi kết quả khắc phục, coi đây là một phần không tách rời của trách nhiệm hành chính. Khi đó, xử phạt không còn là điểm kết thúc mà trở thành một mắt xích trong quá trình buộc doanh nghiệp phải thực sự quay lại trạng thái tuân thủ pháp luật môi trường.

Thứ ba, tác động vào động cơ tuân thủ của doanh nghiệp thông qua minh bạch thông tin và áp lực xã hội. Thực tiễn đã chứng minh, chế tài pháp lý ở nhiều trường hợp chưa đủ mạnh để thay đổi hành vi, nhưng áp lực từ thị trường và xã hội lại có tác động trực tiếp và lâu dài hơn. Do đó, cần tăng cường công khai thông tin về vi phạm môi trường của doanh nghiệp, không chỉ dừng ở quyết định xử phạt mà cả quá trình khắc phục hậu quả. Khi thông tin được minh bạch, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với chi phí pháp lý mà còn với chi phí về uy tín, từ đó buộc phải cân nhắc lại hành vi của mình. Song song với đó, hoạt động tuyên truyền cần chuyển từ phổ biến quy định sang hướng dẫn cách tuân thủ, giúp doanh nghiệp nhận diện rõ rủi ro pháp lý và chi phí dài hạn của việc vi phạm. 

Thứ tư, tăng cường nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường theo hướng bảo đảm tính tương thích và khả năng thực thi đối với doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc tham gia các điều ước quốc tế về môi trường không chỉ dừng lại ở nghĩa vụ chính trị – pháp lý của Nhà nước mà còn đặt ra yêu cầu chuyển hóa các cam kết đó thành chuẩn mực hành vi cụ thể đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, một khoảng cách đáng chú ý hiện nay là nhiều nghĩa vụ quốc tế mới chỉ được ghi nhận ở cấp độ định hướng, chưa được cụ thể hóa đầy đủ trong hệ thống chế tài hành chính để điều chỉnh trực tiếp hành vi vi phạm. Điều này dẫn đến tình trạng “cam kết một đằng, thực thi một nẻo”, làm suy giảm hiệu lực của cả pháp luật trong nước lẫn uy tín quốc gia trong thực hiện điều ước. Vì vậy, trong thời gian tới, cần rà soát các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt trong các lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và phát thải, để nội luật hóa một cách có chọn lọc vào quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Việc nội luật hóa không nên dừng ở việc sao chép đơn thuần mà cần chuyển hóa thành các tiêu chí cụ thể, có thể kiểm tra, đo lường và áp dụng trực tiếp đối với doanh nghiệp. Đồng thời, cần thiết kế các cơ chế chế tài phù hợp với chuẩn mực quốc tế, bảo đảm rằng việc vi phạm không chỉ bị xử lý trong phạm vi nội địa mà còn được nhìn nhận trong mối liên hệ với các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Khi đó, trách nhiệm hành chính không chỉ là công cụ quản lý trong nước, mà còn trở thành cầu nối bảo đảm việc thực thi điều ước quốc tế một cách thực chất và nhất quán.

KẾT LUẬN

Từ những phân tích trên, có thể thấy trách nhiệm hành chính đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không chỉ là công cụ xử lý vi phạm, mà còn là cơ chế định hình hành vi trong một trật tự pháp lý hướng tới phát triển bền vững. Khi các quy định được hoàn thiện theo hướng gắn với thực tiễn, được bảo đảm thực thi thông qua cơ chế hậu kiểm hiệu quả và đặt trong mối liên hệ với các cam kết quốc tế, trách nhiệm hành chính sẽ không còn mang tính đối phó mà trở thành áp lực thường trực buộc doanh nghiệp phải tuân thủ. Đây cũng chính là điều kiện để pháp luật môi trường vượt ra khỏi khuôn khổ hình thức, thực sự trở thành công cụ điều chỉnh hành vi, cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường trong bối cảnh hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017). Giáo trình Luật Hành chính. H. NXB Công an nhân dân, tr. 346.
2. Nguyễn Thị Anh Thư, Ranh giới giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự của Pháp nhân thương mại, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 2(111).2017, Quyển 2, tr.169.
3. Tổng quan số liệu thống kê môi trường Việt Nam giai đoạn 2014 - 2021. https://consosukien.vn, ngày 15/03/2026
4. Năm 2023, phát hiện 16.641 vụ vi phạm môi trường. https://moitruong.net.vn, ngày 15/03/2026
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), Báo cáo tổng kết thi hành Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 7/7/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, ngày 14/3/2025.

 Hoàng Lê Minh1

1Đại học Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2026)

Đặt mua Tạp chí Môi trường