Những phát hiện mới về đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

Vườn Quốc gia (VQG) Vũ Quang nằm ở phía Tây tỉnh Hà Tĩnh, thuộc dãy Trường Sơn Bắc, với diện tích 57.028,9 ha, sở hữu hệ sinh thái rừng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, địa hình phức tạp, khí hậu ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài động thực vật.

Tóm tắt 
Vườn Quốc gia Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) được xem là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học của dãy Trường Sơn. Các kết quả cập nhật gần đây về khu hệ lưỡng cư và bò sát, dựa trên các đợt khảo sát thực hiện trong giai đoạn 2024-2026, đã bổ sung thêm sáu loài rắn mới ghi nhận cho khu vực, qua đó nâng tổng số loài rắn lên 50 loài. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận và mô tả hai loài mới cho khoa học là Amolops minhlei và Scincella vuquangensis. Những phát hiện này cho thấy mức độ đặc hữu cao và tiềm năng nghiên cứu lớn của hệ sinh thái rừng thường xanh tại đây. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất cần tăng cường hoạt động khảo sát, đẩy mạnh công tác bảo tồn và thúc đẩy hợp tác nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Vũ Quang.
Từ khóa: Đa dạng sinh học, loài mới, bò sát, lưỡng cư, Vườn Quốc gia Vũ Quang, bảo tồn.

New discoveries on Biodiversity in Vu Quang National Park, Ha Tinh Province


Abstract
Vu Quang National Park (Ha Tinh Province) is one of the key biodiversity centers of the Annamite Range. The most recent findings on amphibian and reptile diversity, updated from surveys conducted between 2024-2026, documented six snake species newly recorded for the area, thereby increasing the total number of snake species to 50. The study also discovered and described two species new to science,  Amolops minhlei and Scincella vuquangensis. These findings highlight the high level of endemism as well as the significant research potential of the evergreen forest ecosystem in this region. Based on these results, the paper recommends strengthening survey efforts, conservation actions, and research collaboration to effectively enhance the biodiversity value of Vu Quang National Park.
Key words: Biodiversity, new species, reptiles, amphibians, Vu Quang National Park, conservation.
JEL Classifications: Q56, Q57, Q58, O13.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vườn Quốc gia (VQG) Vũ Quang nằm ở phía Tây tỉnh Hà Tĩnh, thuộc dãy Trường Sơn Bắc, với diện tích 57.028,9 ha, sở hữu hệ sinh thái rừng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, địa hình phức tạp, khí hậu ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài động thực vật. Nằm trong một vùng sinh thái có mức độ ưu tiên toàn cầu, được xác định là hết sức quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới. Là nơi cư trú cuối cùng của một số loài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho công tác bảo tồn cũng như số lượng loài được ưu tiên bảo vệ, đây là một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam. Trong những nằm gần đây, hơn 15 loài mới đã được phát hiện tại VQG Vũ Quang và đã được công bố trên các tạp chí khoa học của thế giới.
Năm 2025-2026, trong khuôn khổ hợp tác với các viện nghiên cứu và các trường đại học về nghiên cứu khoa học, VQG Vũ Quang tiếp tục phát hiện mới và ghi nhận các loài động vật quan trọng có ý nghĩa lớn về đa dạng sinh học, đặc biệt trong nhóm bò sát và lưỡng cư. Nổi bật là việc bổ sung nhiều loài rắn mới cho khu hệ Hà Tĩnh; phát hiện và mô tả loài ếch mới Amolops minhlei; phát hiện và mô tả loài thằn lằn mới Scincella vuquangensis. Những kết quả này khẳng định vai trò của  VQG  Vũ Quang như một trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của dãy Trường Sơn.
2. PHÁT HIỆN MỚI VÀ GHI NHẬN CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT QUAN TRỌNG 
2.1. Ghi nhận mới và cập nhật danh mục các loài rắn tại tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam 
Các nghiên cứu trước đây ghi nhận tổng cộng 44 loài rắn tại tỉnh Hà Tĩnh, trong đó có hai loài mới được mô tả gần đây là Achalinus quangi và Lycodon duytan. Trong các đợt khảo sát thực địa tại VQG Vũ Quang vào tháng 4 năm 2025, nhóm tác giả đã ghi nhận 25 loài rắn, trong số này có 6 loài được ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Tĩnh. Như vậy, tổng số các loài rắn được ghi nhận tại Hà Tĩnh hiện nay là 50 loài.


Bảng 1. Danh lục các loài rắn tại Hà Tĩnh

Name

Previous record

IUCN 2025

CITES 2025

RBVN 2024

Decree

84/2021

Typhlopidae

   

 

 

 

Indotyphlops braminus (Daudin, 1803)

1,2

 

 

 

 

Pythonidae

   

 

 

 

 Malayopython reticulatus (Schneider, 1801)

1,2

 

II

CR

IIB

Xenopeltidae

   

 

 

 

Xenopeltis unicolor (Boie, 1827)

1,2

 

 

 

 

Colubridae

 

 

 

 

 

Ahaetulla fusca (David, Nadolski, Ganesh, Adhikari & Srikanthan, 2022)

2

 

 

 

 

Ahaetulla prasina (Boie, 1827)

2,5

 

 

 

 

Amphiesma stolatum (Linnaeus, 1758)

1

 

 

 

 

Boiga kraepelini (Stejneger, 1902)

1,2

 

 

 

 

Boiga guangxiensis (Wen, 1998)*

5

 

 

 

 

Calamaria pavimentata (Duméril, Bibron & Duméril, 1854)

1,2

 

 

 

 

Chrysopelea ornata (Shaw, 1802)

2

 

 

 

 

Coelognathus radiatus (Boie, 1827)

2,4,5

 

 

NT

 

Dendrelaphis ngansonensis (Bourret, 1935)

1,2,5

 

 

 

 

Gonyosoma boulengeri (Mocquard, 1897)

2

 

 

 

 

Gonyosoma coeruleum Liu, Hou, Lwin, Wang & Rao, 2021*

5

 

 

 

 

Euprepiophis mandarinus (Cantor, 1842)

1,5

 

 

NT

 

Elaphe taeniura (Cope, 1861)

2

VU

 

VU

 

Fowlea flavipunctata (Hallowell,1860)

2,5

 

 

 

 

Hebius boulengeri (Gressitt, 1937)*

5

 

 

 

 

Hebius leucomystax (David, Bain, Nguyen, Orlov, Vogel, Vu & Ziegler, 2007)

2

 

 

 

 

Ptyas multicincta (Roux, 1907)

2

 

 

 

 

Lycodon duytan Nguyen, Poyarkov & Vogel, 2025

 

 

 

 

 

Lycodon futsingensis (Pope, 1928)

2

 

 

 

 

Lycodon paucifasciatus (Rendahl, 1943)

2

VU

 

 

 

Oligodon cinereus (Günther, 1864)

2

 

 

 

 

Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839)

2

 

 

NT

 

Rhabdophis chrysargos (Schlegel,1837)

1,2

 

 

 

 

Rhabdophis nigrocinctus (Blyth, 1856)*

5

 

 

 

 

Rhabdophis siamensis (Mell, 1931)

1,2

 

 

 

 

Ptyas korros (Schlegel, 1837)

2,4,5

NT

 

VU

 

Ptyas mucosa (Linnaeus, 1758)

2

 

II

EN

IIB

Sibynophis collaris (Gray, 1853)

1,5

 

 

 

 

Trimerodytes aequifasciatus (Barbour, 1908)

1,5

 

 

 

 

Trimerodytes percarinatus (Boulenger, 1899)

1,5

 

 

 

 

Elapidae

 

 

 

 

 

Bungarus candidus (Linnaeus, 1758)

1,2

 

 

NT

 

Bungarus fasciatus (Schneider, 1801)

1,2,4,5

 

 

NT

 

Bungarus multicinctus (Blyth, 1861)

2

 

 

VU

 

Bungarus slowinskii (Kuch, Kizirian, Nguyen, Lawson, Donnelly & Mebr, 2005)*

5

VU

 

 

VU

 

Naja atra (Cantor, 1842)

1,2,4,5

VU

II

VU

IIB

Naja kaouthia (Lesson, 1831)

4,5

 

II

VU

IIB

Ophiophagus hannah (Cantor, 1836)

1,2,4

VU

II

CR

IB

Homalopsidae

 

 

 

 

 

Myrrophis chinensis (Gray, 1842)

1,2

 

 

 

 

Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)

2

 

 

 

 

Pareatidae

 

 

 

 

 

Pareas formosensis (van Denburgh,1909)

1,2

 

 

 

 

Pareas margaritophorus (Jan,1866)

1,2

 

 

 

 

Psammodynastidae

 

 

 

 

 

Psammodynastes pulverulentus (Boie,1827)

2

 

 

 

 

Pseudoxenodontidae

 

 

 

 

 

Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922)*

5

 

 

 

 

Viperidae

 

 

 

 

 

Protobothrops mucrosquamatus (Cantor, 1839)

1,2

 

 

 

 

Trimeresurus albolabris (Gray, 1842)

2

 

 

 

 

Trimeresurus vogeli (David, Vidal & Pauwels, 2001)

2

 

 

 

 

Xenodermidae

 

 

 

 

 

Achalinus quangi Pham, Pham, Le, Ngo, Ong, Ziegler & Nguyen, 2023

3

 

 

 

 

Bảng 2. Hình ảnh các loài rắn ghi nhận lần đầu tiên tại Hà Tĩnh

1m-1779252923.jpg
Ảnh 1: Gonyosoma coeruleum
2m-1779252926.jpg
Ảnh 2: Pseudoxenodun banbusicola
3m-1779252928.jpg
Ảnh 3: Boiga guangxiensis
4m-1779253151.jpg
Ảnh 4: Bungarus slowinskii
5m-1779252934.jpg
Ảnh 5: Hebius boulengeri
6m-1779252937.jpg
Ảnh 6: Rhabdophis nigrocinctus

(Nguồn: Biodiversity Data journal 14: e177493)

Kết quả ghi nhận bổ sung 6 loài rắn mới cho khu hệ rắn Hà Tĩnh có ý nghĩa quan trọng trong việc cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học của khu vực. Việc nâng tổng số loài rắn lên 50 loài cho thấy mức độ đa dạng cao và sự phong phú về thành phần loài của hệ sinh thái rừng Vũ Quang nói riêng và Hà Tĩnh nói chung. Đáng chú ý, trong danh lục có nhiều loài thuộc diện nguy cấp (VU, EN, CR) theo IUCN và Sách đỏ Việt Nam, cho thấy khu vực này có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo tồn các loài bò sát quý hiếm. Kết quả này cũng phản ánh rằng công tác điều tra trước đây vẫn chưa đầy đủ, và vẫn còn tiềm năng lớn để phát hiện thêm các loài mới hoặc ghi nhận mới trong tương lai.
2.2. Phát hiện 2 loài động vật mới tại VGQ Vũ Quang
Trong các chuyến nghiên cứu thực địa tại VQG Vũ Quang vào tháng 3/2024 và tháng 4/2025, các nhà khoa học đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội đa thu thập được các mẫu vật thuộc nhóm ếch suối (Amolops) và thằn lằn (Scincella). Qua phân tích các đặc điểm hình thái và phân tích di truyền phân tử, các nhà khoa học đã xác định thêm 2 loài mới cho khoa học, bao gồm loài ếch suối (Amolops minhlei) và loài thằn lằn cổ Vũ Quang (Scincella vuquangensis). Các loài mới được công bố trên tạp chí khoa học Zootaxa.
2.1.1. Loài ếch suối (Amolops minhlei)
Loài ếch suối mới có tên khoa học Amolops minhlei, tên loài mới được đặt theo tên của nhà khoa học Lê Đức Minh (Đại học Quốc gia Hà Nội) để tri ân những đóng góp to lớn của ông về công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học.
Về đặc điểm hình thái, có thể phân biệt với các loài cùng chi bởi các đặc điểm hình thái sau: chiều dài thân (SVL) 31,8-35,8 mm ở con đực, 36,7-45,8 mm ở con cái; đầu dài hơn rộng; không có răng lá mía; mõm dài (SE/SVL 0,16-0,17 ở con đực, 0,16 ở con cái); màng nhĩ rõ ràng, tròn (TD/ED 0,41-0,42 ở con đực, 0,40-0,43 ở con cái); da nhẵn; nếp gấp trên màng nhĩ không rõ ràng; có nếp gấp lưng bên; công thức màng chân I0-0II0-1/2III0-1/2IV1/2-0V; lưng màu xanh ô liu hoặc nâu đỏ với một vài đốm đen; một vệt nâu dọc hai bên lưng kéo dài từ phía sau mắt đến phía trên hậu môn; bề mặt lưng của chi trước và chi sau màu xám nhạt với các vạch ngang màu nâu; cổ họng, ngực và bụng màu trắng; con đực có túi thanh âm bên ngoài và miếng đệm giao phối trên ngón tay I; hai bên sườn màu nâu xám với một đốm tuyến nhỏ màu trắng
Về dữ liệu phân tích phân tử, qua kết quả phân tích giữa loài Amolops minhlei
và so sánh với ngân hàng Gen của các loài khác trong nhóm Amolops thì có sự khác biệt rõ rệt, ít nhất 1,56% và 10,00% dựa trên gen 16S và ND2.
Qua kết quả phân tích, so sánh về hình thái và sinh học phân tử, với những sự khác biệt với các nhóm loài cùng chi, các nhà khoa học khẳng định đây là loài mới cho khoa học.

b7-1779272646.jpg
Ảnh 7: Amolops minhlei (Nguồn: Zootaxa 5760 (2): 225-247)

2.1.2. Loài thằn lằn cổ Vũ Quang (Scincella vuquangensis)
Đây là loài thuộc nhóm bò sát - lưỡng cư (Herpetofauna) thứ hai được công bố tại khu vực này chỉ trong những tháng đầu năm 2026, tiếp tục khẳng định tiềm năng to lớn về đa dạng sinh học của VQG Vũ Quang nói riêng và khu vực Bắc Trung bộ nói chung.
Về đặc điểm hình thái: Loài mới được phân biệt bởi tổ hợp các đặc điểm sau: Kích thước trung bình (SVL tối đa 46,6 mm); Có 2 vảy thái dương chính; Lỗ tai ngoài rõ, không có thùy; Vảy trán trước tách rời nhau; 2 vảy loreal; 6-7 vảy môi trên, 6 vảy môi dưới; 1 cặp vảy cổ; 32 hàng vảy thân; Vảy lưng trơn, 8 hàng; 63-65 vảy cạnh sống lưng; 61-62 vảy bụng; 8-9 phiến dưới ngón IV tay; 13-15 phiến dưới ngón IV chân; Khi ép chi: ngón chân không chạm ngón tay; Màu lưng nâu đồng, có chấm đen rải rác; Có sọc sẫm từ mũi qua mắt kéo dài dọc thân.
Về dữ liệu phân tích phân tử: Kết quả phân tích đoạn gen ty thể COl cho thấy mức sai khác với loài có quan hệ gần nhất (Scincella rufocaudata) lên đến 9,37-9,64%, đây là mức sai khác lớn, đủ để xác định đây là loài mới.

8m-1779253611.jpg
Ảnh 8: Scincella vuquangensis (Nguồn: Zootaxa 5785 (1): 143-169)

Với việc phát hiện và mô tả hai loài mới Amolops minhlei và Scincella vuquangensis là minh chứng rõ nét cho giá trị đa dạng sinh học đặc hữu của VQG Vũ Quang. Các bằng chứng về hình thái và di truyền phân tử đều cho thấy sự khác biệt rõ ràng so với các loài gần nhất, đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy cao của việc công bố loài mới. Đặc biệt, việc liên tiếp phát hiện các loài mới trong thời gian ngắn cho thấy khu vực này vẫn còn nhiều “khoảng trống” nghiên cứu. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng ưu tiên bảo tồn và thu hút các chương trình nghiên cứu quốc tế trong thời gian tới.
3. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT - KIẾN NGHỊ 
Kết quả nghiên cứu khoa học trên là thành quả của sự phối hợp nghiên cứu giữa Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh học và VQG Vũ Quang. Quá trình khảo sát, thu mẫu và phân tích đã góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị sinh học đặc hữu của hệ sinh thái rừng thường xanh tại địa phương. Việc phát hiện các loài mới không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học mà còn góp phần nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn thiên nhiên. 
Từ các kết quả nghiên cứu, có thể khẳng định VQG Vũ Quang là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao, với nhiều loài đặc hữu và quý hiếm, đặc biệt trong nhóm bò sát và lưỡng cư. Các phát hiện mới không chỉ góp phần làm phong phú thêm danh mục loài của Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các vùng ưu tiên bảo tồn.
Để phát huy hiệu quả các giá trị đa dạng sinh học tại khu vực, cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình điều tra, giám sát đa dạng sinh học theo hướng dài hạn và có hệ thống, đồng thời tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước nhằm ứng dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại (di truyền phân tử, sinh học bảo tồn), từ đó xây dựng cơ sở dữ liệu số về đa dạng sinh học phục vụ quản lý và chia sẻ thông tin. 
Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn tại chỗ gắn với sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương, và có các cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư cho các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao như Vũ Quang.

Tài liệu tham khảo
.1. Anh Van Pham, Quynh Dieu Thi Dao, Anh Dinh Tran, Minh Duc Le, Truong Quang Nguyen: New records and an updated list of snakes from Ha Tinh Province, Vietnam. (Biodiversity Data Journal 14: e177493doi: 10.3897/BDJ.14.e177493.
.2. Anh Van Pham, Chung Van Hoang, Truong Quang Nguyen, Van Thi Hong Nguyen, Thuy Thu Thi Nguyen, Ky Danh Nguyen, Toan Canh Thai, Ngoc Van Hoang & Cuong The Pham: A new species of Amolops (Anura: Ranidae) from Vu Quang National Park-an ASEAN Heritage Park of Vietnam .
3. (https://doi.org/10.11646/zootaxa.5760.2.4 http://zoobank.org/urn:lsid:zoobank.org:pub:B263CDBB-D8B8-4065-A503-B86A8371314C).
4. Anh Van Pham, Anh Minh Hoang Nguyen, Minh Duc Le, Truong Quang Nguyen, Hung Viet Nguyen, Ngoc Van Hoang & Van Thi Hong Nguyen: A new skink of the genus Scincella Mittleman, 1950 (Squamata: Scincidae) from Ha Tinh Province, Vietnam. 
5. (https://doi.org/10.11646/zootaxa.5787.1.7 http://zoobank.org/urn:lsid:zoobank.org:pub:4CEE9DA0-9DAF-46E5-B669-C11F17A5DFF5).

Th.S Thái Cảnh Toàn1

1Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 4/2026)

Đặt mua Tạp chí Môi trường