Hiện trạng hệ sinh thái, tài nguyên rừng Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé nằm tại khu vực ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc, có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh - quốc phòng. Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp được điều tra, xác định hiện trạng là 46.577,19 ha, phân bố trên địa bàn ba xã Sín Thầu, Mường Nhé và Nậm Kè theo địa giới hành chính mới của tỉnh Điện Biên. Vùng đệm của Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có diện tích 45.617,84 ha, bao gồm 28 bản vùng đệm thuộc ba xã nêu trên, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm áp lực trực tiếp lên khu rừng đặc dụng.

Kết quả điều tra, khảo sát đã ghi nhận 1.086 loài thực vật bậc cao có mạch và 459 loài động vật, trong đó có 33 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; 119 loài thực vật và 113 loài động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm theo Danh lục Đỏ IUCN (2025), Sách Đỏ Việt Nam (2024) và Thông tư số 85/2025/TT - BNNMT. Nhiều loài có giá trị bảo tồn cao, mang tính đại diện của khu hệ Tây Bắc như Vượn đen má trắng, Vượn đen tuyền Tây Bắc, Cu li lớn, Cu li nhỏ, Tê tê vàng, Pơ mu, Lan kim tuyến, Trầm hương, Chò chỉ, Chò nâu, Thông nàng... khẳng định giá trị nổi bật của khu vực về đa dạng sinh học ở cấp quốc gia và khu vực.
Từ khóa: Khu dự trữ, đa dạng sinh học, hệ sinh thái, thực vật, động vật.

Current Status of Ecosystems and Forest Resources in Muong Nhe Nature Reserve, Dien Bien Province

Abstract 
The Muong Nhe Nature Reserve is located at the tri-border area of Vietnam -Laos - China, occupying a strategically significant position in terms of ecology, biodiversity conservation, and national defense – security. The total surveyed and assessed area of forest and forestry land is 46,577.19 ha, distributed across the three communes of Sin Thau, Muong Nhe, and Nam Ke according to the new administrative boundaries of Dien Bien Province. The buffer zone of Muong Nhe National Park covers 45,617.84 ha and includes 28 villages within the aforementioned communes, playing an essential role in reducing direct anthropogenic pressure on the special-use forest. Survey and inventory results recorded 1,086 species of vascular plants and 459 animal species, including 33 plant species endemic to Vietnam. A total of 119 plant species and 113 animal species are classified as threatened, rare, or endangered according to the IUCN Red List (2025), the Vietnam Red Data Book (2024), and Circular No. 27/2025/TT-BNNMT. Several taxa of high conservation value, representative of the Northwestern faunal and floral assemblages, were documented, such as the white-cheeked gibbon, the northwestern black crested gibbon, the Bengal slow loris, the pygmy slow loris, the Chinese pangolin, Fokienia hodginsii, Anoectochilus spp., Aquilaria spp., Parashorea chinensis, and Madhuca pasquieri. These findings confirm the outstanding biodiversity significance of the area at both national and regional levels.
Keywword: Nature Reserve, Biodiversity conservation, Tropical forest ecosystem, Floral composition, Faunal composition.
1. Đặt vấn đề
Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé nằm trên địa bàn tỉnh Điện Biên, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 700 km về phía Tây Bắc và cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ khoảng 220 km. Đây là một trong những khu dự trữ thiên nhiên có diện tích lớn của Việt Nam, với tổng diện tích tự nhiên 46.577,19 ha. Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 24.238,15 ha; phân khu phục hồi sinh thái 22.208,23 ha; phân khu dịch vụ - hành chính 284,13 ha; cùng với vùng đệm nằm trên địa bàn các xã Sín Thầu, Mường Nhé và Nậm Kè.
Theo các kết quả nghiên cứu và điều tra khoa học, Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé là nơi phân bố của nhiều hệ sinh thái rừng đặc trưng vùng núi cao Tây Bắc, với hệ động thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu và có giá trị bảo tồn cao. Một số loài tiêu biểu được ghi nhận như: Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys), Vượn đen tuyền Tây Bắc (Nomascus concolor), Tê tê vàng (Manis pentadactyla), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trầm hương (Aquilaria crassna), Sơn tuế (Cephalotaxus mannii), cùng nhiều loài động, thực vật và côn trùng quý hiếm khác.

image002-1779186927.jpg
Quang cảnh Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Thực hiện Quyết định số 1352/QĐ-TTg ngày 08/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 895/QĐ-TTg ngày 24/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé đã được quy hoạch chuyển hạng thành Vườn quốc gia Mường Nhé. Trên cơ sở đó, dự án “Thành lập Vườn quốc gia Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trên cơ sở chuyển hạng Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé” đã và đang được triển khai thực hiện.
2. Hiện trạng hệ sinh thái và tài nguyên rừng
2.1. Hiện trạng hệ sinh thái và cấu trúc rừng
Căn cứ theo hệ thống phân loại hệ sinh thái rừng Việt Nam và kết quả thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá thực trạng hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học; đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững” được phê duyệt tại Quyết định số 3319/QĐ-UBND ngày 24/12/2021 của UBND tỉnh Điện Biên, Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé hiện có hệ sinh thái rừng chính là rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi, trong đó gồm các loại hình chính là: rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, cùng với một số diện tích nhỏ trảng cỏ, cây bụi và quần xã thực vật thủy sinh. 

image003-1779186956.jpg
Lực lượng bảo vệ rừng của Ban quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé

Toàn bộ diện tích rừng tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé là 36.348,09 ha, chia theo nguồn gốc hình thành là rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Thông tư số 16/2025/TT-BNNMT. Đặc điểm của hệ sinh thái rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi này là hình thành sau khi rừng nguyên sinh bị phá hủy hoặc suy thoái do các yếu tố tự nhiên như cháy rừng, lũ lụt, sạt lở đất hoặc hoạt động con người như khai thác gỗ, canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc… Quá trình phục hồi của rừng thứ sinh tự nhiên diễn ra qua các giai đoạn diễn thế sinh thái, hệ thống dần lấy lại cấu trúc, chức năng và đa dạng sinh học gần với rừng nguyên sinh. Tổng thể, hệ sinh thái rừng tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có cấu trúc phân tầng đơn giản, mật độ cây thấp, chủ yếu là các cây bản địa đặc hữu, trong đó chia rõ theo từng đặc điểm địa hình, độ cao.

image004-1779187032.jpg
Hình ảnh đàn Gà Lôi trong Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé

Khu vực Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé cũng có những đặc điểm hệ sinh thái đặc trưng của hệ sinh thái rừng tiểu vùng sông Đà theo Báo cáo nghiên cứu phân vùng sinh thái lâm nghiệp tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự, 2010). Trong đó, điều kiện khí hậu chính là nhiệt đới ẩm gió mùa, với lượng mưa dồi dào và độ ẩm cao, hỗ trợ rừng mưa ẩm nhiệt đới. Khu vực này chịu ảnh hưởng của địa hình cao, tạo sự phân hóa khí hậu giữa các địa hình, phân chia theo từng đai cao. Mức độ đa dạng sinh học cũng có nhiều điểm tương đồng với nhiều loài động thực vật đặc hữu khu vực Tây bắc Việt Nam và bắc Lào. Tuy nhiên, khu vực Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có địa hình địa mạo đặc trưng núi đất, khác biệt với địa hình núi đá Karst đặc trưng của khu vực thượng nguồn sông Đà, điều này cũng góp phần tạo nên những giá trị đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên cho Mường Nhé.   
Kết quả phân loại thảm thực vật theo độ cao, điều kiện sinh thái và cấu trúc rừng cho thấy khu vực hình thành hai kiểu hệ sinh thái chủ đạo tương ứng với các đai cao khác nhau. Cơ cấu phân bố diện tích phản ánh rõ đặc điểm địa hình núi cao, khí hậu ẩm á nhiệt đới và quá trình diễn thế rừng tự nhiên của khu vực.
(1) Đai nhiệt đới với độ cao (<700 m); 
(2) Đai á nhiệt đới ở độ cao từ (700 - 1.600 m).
Kiểu hệ sinh thái này giữ vai trò cốt lõi đối với mục tiêu bảo tồn, là nơi tập trung phần lớn các loài động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của khu vực. Việc duy trì và nâng cao mức độ quản lý, bảo vệ đối với sinh cảnh này có ý nghĩa quyết định trong đề xuất chuyển hạng lên Vườn Quốc gia.
(3) Đai ôn đới núi vừa (> 1. 600 m).

image005-1779187068.jpg
Hình ảnh cá thể Gấu ngựa trong Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé

Đai ôn đới núi vừa được xác định ở độ cao trên 1600 m đến độ cao nhất của khu vực mốc số 0 – điểm cực Tây Tổ quốc, độ cao khoảng 1864 m. và một số đỉnh núi cao giáp với biên giới Viêt Nam - Lào.  Nhiệt độ hạ thấp cùng lượng mưa tăng cao hơn vùng thấp, mây mù xuất hiện thường xuyên tạo nên không khí ẩm quanh năm. Trên bề mặt đất, lớp thảm mục và mùn dày có màu đen. Tại đai này chỉ xác định có kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim ẩm ôn đới.4) Quần xã thực vật thủy sinh: Có diện tích 158,12 ha (0,34%), phân bố rải rác ven suối, khe ẩm và các vùng trũng thấp trong rừng, tập trung nhiều tại xã Mường Nhé, tiếp đến là Sín Thầu và Nậm Kè. Mặc dù diện tích không lớn, đây là sinh cảnh có vai trò quan trọng trong điều hòa thủy văn, duy trì chu trình dinh dưỡng, đồng thời là môi trường sống thiết yếu của các nhóm loài lưỡng cư, côn trùng thủy sinh và thực vật ưa ẩm.
Cấu trúc hệ sinh thái rừng của Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé chịu sự chi phối mạnh của độ cao và điều kiện khí hậu á nhiệt đới ẩm, trong đó rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp là sinh cảnh chủ đạo, chiếm trên 96% diện tích, còn duy trì được cấu trúc rừng tương đối hoàn chỉnh và tính ổn định cao. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất chuyển hạng theo hướng nâng cao mức độ bảo vệ các hệ sinh thái rừng núi cao đặc thù của Mường Nhé.
2.2. Đa dạng hệ thực vật, giá trị bảo tồn
Đa dạng các taxon thực vật
Kết quả điều tra, nghiên cứu, giám định mẫu tại thực địa và kết hợp kế thừa số liệu chúng tôi đã ghi nhận được tại Khu DTTN Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, có 1.086 loài thực vật bậc cao có mạnh thuộc 640 chi, 178 họ trong 5 ngành: Thông đất; Cỏ tháp bút; Dương xỉ; Thông và Ngọc Lan.
Bảng 1: Đa dạng các taxon tại Khu DTTN Mường Nhé

bang-1-1779186532.png

Trong 5 ngành thực vật có mặt tại Khu DTTN Mường Nhé thì Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 1.007 loài chiếm 92,72 % tổng số loài ghi nhận tại khu vực nghiên cứu, tiếp đến Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 64 loài chiếm 5,89 % và các ngành còn lại chỉ chiếm 1,42% tổng số loài ghi nhận.
Đa dạng về dạng sống của hệ thực vật
Phân loại dạng sống của các loài thực vật khu vực điều tra được sắp xếp theo cuốn Tên cây rừng Việt Nam (Bộ NN&PTNT, 2000). Kết quả được tổng hợp tại bảng 2.
Bảng 2: Tổng hợp số lượng cây của các dạng sống

bang-2-1779186584.png

Từ bảng 2, ta thấy qua kết quả điều tra tổng số 1.086 loài thực vật có tại Khu DTTN Mường Nhé được chia thành 14 dạng sống (Bảng 2). Trong đó Cỏ đứng có số lượng loài lớn nhất với 263 loài chiếm 24,17 %; cây gỗ nhỏ có 165 loài chiếm 15,17%, tiếp theo đó là nhóm gỗ lớn, nhóm cây bụi, nhóm cỏ leo, lần lượt là 13,24 % (gỗ lớn), 12,89 (bụi), 6,99% (cỏ leo) và các dạng sống khác chiếm 16,73%.
Đa dạng loài và công dụng các loài lâm sản ngoài gỗ
Quá quá trình điều tra và kế thừa số liệu các công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi xác định tại khu DTTN Mường Nhé có 976 loài thực vật có mạch cho LSNG thuộc 606 chi, 166 họ trong 5 ngành gồm: Thông đất, Tháp bút, Dương xỉ, Thông và Ngọc lan.
Dựa vào danh lục cây lâm sản ngoài gỗ của khu DTTN, chúng tôi tổng hợp số loài theo từng công dụng và bộ phận sử dụng được tổng hợp tại bảng 3 và bảng 4 như sau:
Bảng 3: Tỉ lệ cây lâm sản ngoài gỗ theo từng công dụng

bang-3-1779186680.png

Bảng 4: Đa dạng về bộ phận sử dụng của LSNG

bang-4-1779186691.png

Đa dạng giá trị bảo tồn của hệ thực vật
Kết quả điều tra, xác định tại thực tế đã thống kê được hệ thực vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có 52 họ đơn loài, tương ứng với 52 loài. Những họ đơn loài này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác bảo tồn, vì việc mất đi loài đó đồng nghĩa với việc mất đi taxon ở bậc cao hơn. Các họ đơn loài tại đã và đang phải chịu tác động mạnh, đặc biệt là sự tác động của con người từ việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thực vật làm suy giảm sự đa dạng loài trong các họ thực vật. Trong nhóm này cần đặc biệt chú ý tới các loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2024 hoặc Thông tư số 85/2025/TT - BNNMT.    
Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé là nơi phân bố của 33 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam. Đây là những loài chỉ phân bố duy nhất ở Viêt Nam, công tác bảo tồn các loài đặc hữu hẹp có ý nghĩa rất lớn trong khoa học và thực tiễn. Với số loài đặc hữu của Việt Nam khá cao chứng tỏ hệ thực vật Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có giá trị bảo tồn cao.
Qua điều tra tại thực địa và kết hợp kế thừa các tài liệu khoa học, đã xác định hệ thực vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có 119 loài thực vật quý hiếm ( 33 loài có tên trong sách đỏ IUCN 2025, 51 loài có tên Sác đỏ Việt nam, 54 loài nằm trong danh lục Thông tư số 85/2025/TT – BNNMT, 39 loài thuộc phụ lục CITES). Như vậy, hiện nay Khu Dự trữ thiên nhiên Mường Nhé vẫn đang bảo tồn được rất nhiều các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm, loài có giá trị bảo tồn cao.
2.3. Đa dạng hệ động vật
Về nhóm thú:
Qua quá trình điều tra, thống kê được 80 loài thú thuộc 24 họ và 8 bộ. Trong đó, có 20 loài ghi nhận được trong môi trường tự nhiên (gồm quan sát thấy, nghe thấy tiếng kêu, bẫy bắt được và phân tích dấu vết thú để lại trên nền rừng); 14 loài ghi nhận qua phân tích mẫu vật trong dân; 25 loài chỉ ghi nhận qua thông tin phỏng vấn và tham khảo tài liệu; 28 loài chỉ ghi nhận qua kế thừa tài liệu (chủ yếu là các loài Dơi). Trong 18 loài thú ghi nhận trong tự nhiên. 
Các loài nguy cấp, quý, hiếm: 37 loài nguy cấp, quý, hiếm trong đó 23 loài có tên trong Sách đỏ IUCN 2025; 26 loài có tên Danh lục đỏ Việt Nam 2024; 37 loài có tên tại phụ lục Thông tư số 85/2025/TT – BNNMT; 18 loài được ưu tiên bảo vệ.
Nhóm chim: 
Ghi nhận được 17 bộ, 59 họ, 260 loài chim. Trong đó, có 102 loài ghi nhận được trong môi trường tự nhiên (bao gồm nhìn thấy trực tiếp và nghe thấy tiếng hót trên tuyến khảo sát; dấu vết chim để lại trên nền rừng và phân tích mẫu chim mắc bẫy lưới); 14 loài ghi nhận qua phân tích mẫu vật trong dân; 137 loài chỉ ghi nhận qua phỏng vấn và tham khảo tài liệu; 11 loài chỉ ghi nhận qua kế thừa tài liệu; 1 loài chỉ ghi nhận qua phỏng vấn (loài Cò nhạn).

image006-1779187105.jpg
Hình ảnh loài Vượn đen má trắng trong Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé

Các loài chim nguy cấp, quý, hiếm: 12 loài có tên trong Danh lục Đỏ Việt Nam (2024). Trong đó, 1 loài ở mức CR (Rất nguy cấp); 1 loài ở mức EN (nguy cấp); 6 loài ở mức VU (sẽ nguy cấp) và 4 loài ít nguy cấp LR. 11 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2025) trong đó có 1 loài ở bậc CR (Rất nguy cấp); 2 loài ở bậc EN (Nguy cấp); 3 loài ở mức VU (sẽ nguy cấp) và 5 loài ở mức NT (Sắp bị đe dọa). 43 loài có tên tại Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT. Trong đó, 8 loài nằm trong nhóm IB loài nguy cấp quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ; 35 loài nằm trong nhóm IIB loài nguy cấp, quý, hiếm.
Có 11 loài có tên trong Thông báo số 25/TB-CTVN 2023 về việc công bố danh lục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc phụ lục công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES); 03 loài nằm trong phụ lục I, 8 loài nằm trong phụ lục II.
Nhóm Lưỡng cư - bò sát: 
Ghi nhận được 65 loài Bò sát thuộc 18 họ, 2 bộ và 54 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 2 bộ trong Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé. Trong 119 loài Bò sát - Ếch nhái có 17 loài ghi nhận được trong môi trường tự nhiên (bao gồm nhìn thấy trực tiếp, nghe thấy tiếng kêu và bắt được mẫu vật của loài trong tự nhiên); 07 loài ghi nhận qua phân tích mẫu vật trong dân; 10 loài chỉ ghi nhận qua phỏng vấn và tham khảo tài liệu; 84 loài chỉ ghi nhận qua kế thừa tài liệu. 
Trong đó có 13 loài lưỡng cư – bò sát nguy cấp, quý hiếm:8 loài nằm trong Danh lục đỏ IUCN 2025; 11 loài có tên tại Danh lục đỏ Việt Nam 2024; 4 loài được ưu tiên bảo vệ; 13 loài có tên phụ lục Thông tư 85/2025/TT – BNNMT.
Côn trùng:
Qua điều tra, đánh giá và kế thừa các tài liệu, Khu DTTN Mường Nhé có 300 loài côn trùng trong đó có 02 loài là Bướm phượng cánh rời và Bướm phượng cánh liền có tên trong Danh lục đỏ Việt Nam 2024, Thông tư số 85/2025/TT – BNNMT, Phụ lục II CITES.
2.4. Đánh giá chung
Trong giai đoạn 2020 đến nay, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng tại Khu Dự trữ thiên nhiên Mường Nhé đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, thể hiện sự chuyển biến tích cực cả về tổ chức bộ máy, phương thức quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ và huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé diện tích có rừng trên 36.000 ha, nằm ở vị trí đặc biệt quan trọng về sinh thái và an ninh biên giới quốc gia, với hệ sinh thái rừng phong phú, đa dạng, đại diện cho vùng núi cao Tây Bắc. Qua các kết quả điều tra, khu vực ghi nhận 1086 loài thực vật bậc cao, 80 loài thú, 260 loài chim, 119 loài bò sát – ếch nhái và trên 300 loài côn trùng, trong đó nhiều loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục IUCN.
Công tác quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học được Ban Quản lý xác định là nhiệm vụ trọng tâm, triển khai đồng bộ và có chiều sâu. Với việc kiện toàn bộ máy tổ chức, củng cố lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, phát huy vai trò người dân địa phương trong bảo vệ tài nguyên rừng. Đồng thời, tổ chức giao khoán bảo vệ rừng đạt hiệu quả với diện tích khoán chiếm 60-80% tổng diện tích rừng, gắn trách nhiệm cộng đồng với quyền lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (phần mềm SMART, GPS, Zalo, tuyến tuần tra số hóa) để theo dõi, giám sát và xử lý vi phạm kịp thời, minh bạch hóa dữ liệu quản lý. Đơn vị đã phối hợp với các viện, trường, tổ chức khoa học trong và ngoài nước (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kansas - Hoa Kỳ, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga...) thực hiện các điều tra, nghiên cứu, giám sát loài động thực vật quý hiếm, góp phần bổ sung cơ sở khoa học phục vụ quản lý và bảo tồn lâu dài.
Công tác quản lý lâm sản ngoài gỗ, phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng, và phát triển vùng đệm gắn với sinh kế bền vững được Ban Quản lý triển khai đồng bộ, gắn kết giữa bảo vệ, phục hồi rừng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Các hoạt động bảo tồn được lồng ghép hiệu quả với chương trình hỗ trợ sinh kế vùng đệm, giúp giảm áp lực lên tài nguyên rừng, nâng cao nhận thức và vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng vẫn còn một số khó khăn, hạn chế sau:
Ranh giới và phân khu chức năng: Một số diện tích đất canh tác, ruộng nương của người dân hình thành từ trước khi thành lập khu dự trữ thiên nhiên vẫn nằm trong ranh giới rừng đặc dụng, gây khó khăn trong quản lý ranh giới và hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân. Phân khu chức năng hiện chưa thật sự phù hợp với thực tế sử dụng đất và định hướng phát triển mới, cần bổ sung thêm diện tích phân khu dịch vụ hành chính để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, nghiên cứu và giáo dục môi trường.
Tổ chức quản lý và lực lượng bảo vệ rừng: Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng còn mỏng, thiếu trang thiết bị, phương tiện và cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ tuần tra, giám sát…
Nguồn lực đầu tư và công nghệ: Nguồn kinh phí đầu tư cho quản lý và bảo tồn còn hạn chế, thiết bị giám sát hiện đại (flycam, camera bẫy ảnh, thiết bị định vị) chưa được trang bị đầy đủ. Một số khu vực biên giới bị hạn chế sử dụng thiết bị bay theo quy định an ninh quốc phòng, gây khó khăn cho giám sát từ xa.
Công tác nghiên cứu, bảo tồn chuyên sâu: Mới dừng ở mức điều tra, chưa hình thành chương trình giám sát dài hạn đối với các loài nguy cấp, quý hiếm. Thiếu cơ chế thu hút nguồn lực xã hội hóa và hợp tác quốc tế phục vụ nghiên cứu, phục hồi sinh cảnh và bảo tồn loài.
Hoạt động phát triển vùng đệm và du lịch sinh thái: Hạ tầng vùng đệm và du lịch sinh thái chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, giao thông khó khăn, dịch vụ du lịch - nghiên cứu - giáo dục môi trường còn hạn chế. Người dân vẫn phụ thuộc sinh kế vào rừng, đặc biệt là khai thác lâm sản ngoài gỗ, săn bắt nhỏ lẻ…
Kết luận
Với vị trí tiếp giáp trực tiếp Vườn quốc gia Phou Den Din (CHDCND Lào), Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé hình thành không gian sinh thái xuyên biên giới có ý nghĩa đặc biệt trong duy trì tính liên tục của các hệ sinh thái và dòng chảy đa dạng sinh học khu vực Tây Bắc, đồng thời là sinh cảnh quan trọng cho nhiều loài cư trú lâu dài và các loài chim di cư. Các kết quả điều tra, nghiên cứu trong thời gian gần đây đã bổ sung nhiều dữ liệu khoa học có giá trị, tiếp tục khẳng định vai trò của Mường Nhé là khu vực trọng điểm về nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường.
Từ các kết quả đánh giá toàn diện về điều kiện tự nhiên, hiện trạng rừng, tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và các yếu tố dân sinh, kinh tế - xã hội, chuyên đề đã cung cấp cơ sở khoa học để đối chiếu, đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí Vườn quốc gia theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ. Kết quả chuyên đề là căn cứ quan trọng, có tính thuyết phục cao phục vụ việc chuyển hạng Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé thành Vườn quốc gia Mường Nhé, góp phần bảo tồn lâu dài các giá trị tự nhiên, đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực trong giai đoạn tới.

Diệp Văn Chính1Đặng Trọng Hải2

1Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé

2Trung tâm Điều tra, Quan trắc Đa dạng sinh học

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2026)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê, Trung Dũng (2016), Nghiên cứu Lưỡng cư, Bò sát ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Khoa Sư Phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà nội, Hà Nội.
2. Lê, Trung Dũng và các cộng sự. (2018), Lưỡng cư và bò sát ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 140.
3. Biju, S. D. và các cộng sự. (2020), New insights on the systematics and reproductive behaviour in tree frogs of the genus Feihyla, with description of a new related genus from Asia (Anura, Rhacophoridae), Zootaxa, Vol. 4878, 1-55.
4. Bourret, R. (1941), "Les tortues de l'Indochine: avec une note sur la peche et l'elevage des tortues de mer par F. Le Poulain", Mémoires de l'Institut Oceanographique de l'Indochine. 38, tr. 235, 47 pls-235, 47 pls.
5. Bourret, Rene (1942), Les Batraciens de L'Indochine, Copeia, Vol. 1950, Institut Océanographique de l’Indochine, Ha Noi, 243-243.
6. Bourret, René (2009), Les Lezards de L'Indochine / The Lizards of Indochina, Edition Chimaira, 624-624.
7. Đào, Văn Tiến (1977), "Về khóa định loại ếch nhái Việt Nam", Tạp chí Sinh vật - Địa học, Hà Nội. 25(2), tr. 33-40.
8. Đào, Văn Tiến (1981), "Về khóa định loại thằn lằn Việt Nam", Tạp chí Sinh vật học. 3(4), tr. 1-6.
9. Frost, D. R. (2025), "Amphibian Species of the World: an Online Reference. Version 6.0. Electronic Database accessible at http://research.amnh.org/herpetology/amphibia/index.html, (accessed on 2025 03 20)", American Museum of Natural History.
10. H. H. K., Brown, H. K., Tyler và T. A., Mousseau (2004), "Orajel® as an amphibian anesthetic: Refining the technique", Herpetological Review. 35, tr. 245-246.
11. Inger, Robert, Darevskii, I S và Orlov, Nikolai (1999), Frogs of Vietnam: a report on new collections, Fieldiana, Zoology, new ser., no. 92, Field Museum of Natural History, Chicago.
12. IUCN (2025), The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2024-2. Retrieved from https://www.iucnredlist.org/ on June 30, 2025, chủ biên.
13. Jiang, Ke và các cộng sự. (2020), "Taxonomic revision of raorchestes menglaensis (Kou, 1990) (Amphibia: Anura), with descriptions of two new species from Yunnan, China", Asian Herpetological Research. 11(4), tr. 263-281.
14. Le, Trung Dung và các cộng sự. (2015), "Review of the Genus Sinonatrix in Vietnam with a New Country Record of Sinonatrix yunnanensis Rao et Yang, 1998", Russian Journal of Herpetology. 22(2), tr. 84-88.
15. Liu, Shuo và các cộng sự. (2022), "Two New Species of Acanthosaura Gray, 1831 (Reptilia: Agamidae) from Yunnan Province, China", Russian Journal of Herpetology. 29(2), tr. 93-109.
16. Nguyễn, Đức Tú, Lê, Trọng Trải và Lê, Văn Chấn (2001), Khảo sát nhanh Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Lai Châu, Việt Nam, BirdLife International Vietnam Programm, Hà Nội.
17. Nguyễn, Văn Sáng (1991), Kết quả khảo sát khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Lai Châu, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội.
18. Nguyễn, Văn Sáng (2007), Động vật chí Việt Nam (Phân bộ Rắn), tập 14, Nx.Nguyen, Van Sang, Ho, Chi Thang và Nguyen, Quang Truong (2009), Herpetofauna of Vietnam, Chimaira, Frankfurt am Main.
19. Ohler, Annemarie và các cộng sự. (2011), "Sorting out Lalos: description of new species and additional taxonomic data on megophryid frogs from northern Indochina (genus Leptolalax, Megophryidae, Anura)", Zootaxa. 3147, tr. 1–83-1–83.
20.  Smith, M. A. (1943), Serpentes.-The fauna of British India, Ceylon and Burma, including the whole of the Indo-Chinese sub-region, Reptilia and Amphibia, 3: xii+ 583 pp, chủ biên, London (Taylor and Francis).

Đặt mua Tạp chí Môi trường