Một số thách thức trong công tác quản lý các hệ sinh thái đất ngập nước Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Ninh Bình và đề xuất một số giải pháp

Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thủy là VQG đầu tiên của Đông Nam Á tham gia vào Công ước Quốc tế RAMSAR. VQG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cảnh quan và nguồn gen quý hiếm, bảo vệ các giá trị lịch sử văn hóa, đồng thời phát huy các giá trị phong phú của hệ sinh thái (HST) đất ngập nước (ĐNN), góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương. Vườn cũng là ga chim quan trọng của nhiều dòng chim di trú quốc tế.

Hàng năm vào mùa đông (tháng 11- 12) chim di trú từ Xiberi, Hàn Quốc, Bắc Trung Quốc di cư tránh rét xuống phía Nam và dừng chân ở VQG chuẩn bị cho cuộc hành trình tiếp theo. Vào tháng 3 và 4 năm sau, chim lại từ phía Nam (Ôxtrâylia, Malaixia, Inđônêxia) quay về nơi sinh sản và cũng dừng nghỉ ở VQG. Nhiều loài chim quý hiếm như: Cò thìa, mòng bể mỏ ngắn, rẽ mỏ thìa…nằm trong sách đỏ quốc tế thường xuyên được ghi nhận ở đây. 
Những năm gần đây, công tác quản lý môi trường HST ĐNN của VQG đã đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên, công tác bảo tồn VQG Xuân Thủy vẫn gặp những khó khăn trong việc cân bằng giữa bảo tồn và khai thác tài nguyên ĐNN. Bài viết phân tích những thách thức trong quá trình quản lý các HST ĐNN ở VQG Xuân Thủy, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý các HST ĐNN của VQG. 
1. Khái quát các hệ sinh thái đất ngập nước khu vực VQG Xuân Thủy
VQG Xuân Thủy được thành lập theo Quyết định số 01/2003/QĐ-TTg ngày 2/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Tổng diện tích tự nhiên được giao quản lý của VQG Xuân Thủy là 7.100 ha; ngày 28/7/2008 UBND tỉnh Nam Định ban hành các quyết định số 1440/QĐ-UBND và 1441/QĐ-UBND về cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tạm giao tổng diện tích 10,08 ha cho VQG Xuân Thủy quản lý, nâng tổng diện tích VQG Xuân Thủy lên 7.110,08 ha.  
VQG Xuân Thủy nằm cách Hà Nội 160 km về phía Đông Nam, thuộc các xã Giao Minh, Giao Hòa, Giao Phúc tỉnh Ninh Bình và được chia thành hai vùng: vùng đệm và vùng lõi. Vùng đệm bao gồm một phần Cồn Ngạn, khu vực Bãi Trong và 3 xã vùng đệm. Vùng lõi bao gồm phần còn lại của Cồn Ngạn, toàn bộ diện tích Cồn Lu và Cồn Xanh (Cồn Mờ), có toạ địa lý: Từ 20o12’đến 20o16’ vĩ độ Bắc; Từ 106o27’ đến 106o36’ kinh độ Đông. Vùng lõi của VQG Xuân Thủy có diện tích đất nổi khi triều kiệt 3.100 ha và đất còn ngập nước là 4.000 ha. Vùng đệm có diện tích 8.000 ha, bao gồm phần diện tích còn lại của Cồn Ngạn, diện tích của Bãi Trong và diện tích của 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải.
Với những giá trị nổi bật về đa dạng sinh học (ĐDSH) và văn hóa mở đất của cư dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Tháng 10/2004, UNESCO công nhận VQG Xuân Thủy là vùng lõi số một của Khu dự trữ sinh quyển ven biển Bắc bộ, điều đó khẳng định vị thế quốc tế đặc biệt của VQG Xuân Thủy.

image001-1779420998.png
Hình 1. Vị trí của VQG Xuân Thủy (Nguồn: Google Earth)

Sau đây là các HST ĐNN tiêu biểu tại VQG Xuân Thủy:
1.1. Bãi triều lầy có rừng ngập mặn
Bãi triều lầy có rừng ngập mặn (RNM) với diện tích được xác định năm 2022 là 946,09 ha. Đặc trưng cơ bản của kiểu HST này là bãi triều có thảm RNM phát triển mạnh trên nền bùn nhuyễn, bùn cát. Sinh cảnh này thường ở khu triều giữa và triều cao, nơi có thời gian ngập nước khi triều cường trong ngày. Tại VQG Xuân Thủy, HST bãi triều lầy có rừng ngập mặn chủ yếu phân bố ở Cồn Lu và một phần ở Cồn Ngạn giáp với sông Trà.
Bãi triều lầy có RNM có hệ thực vật ngập mặn phát triển với các loài cây chủ yếu như: Sú (Aegiceras corniculatum (L.) Blanco), Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.), Trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong) và Đâng (Rhizophora stylosa Griff.)... 
RNM là môi trường thuận lợi cho quần xã động vật đáy trú ngụ, sinh sản và phát triển; bao gồm một số loài Giun nhiều tơ; các loài cua chủ yếu thuộc các họ Ocypodidae, Grapsidae; các loài Tôm gõ mõ (Alpheidae); các loài ốc thuộc họ Potamididae, Ellobiidae, Nassaridae, Littoridae, Neritidae, Assimineidae; các loài hai mảnh vỏ, đa số thuộc các họ Ostreidae, Veneridae, Psammobidae, Glaucomyidae, Tellinidae;... Đây cũng là môi trường sống của nhiều loài chim nước và một số loài chim định cư.
1.2. Bãi triều lầy không có rừng ngập mặn
Bãi triều lầy không có RNM thường bằng phẳng, ngập nước thường xuyên vào những ngày nước cường, chỉ được phơi cạn vào kỳ nước kém. Nền đáy là cát bột, bùn cát, bùn sét tùy theo điều kiện động lực mạnh hoặc yếu của quá trình tương tác sông và biển. Do không có thực vật che phủ, trao đổi nước tốt nên là môi trường phát triển cho nhiều loài động vật đáy như: Hàu (Crassostrea spp.), ốc dạ (Cerithideopsilla cingulata), ốc sắt (Cerithideopsis largillierti), ốc bùn (Nassarius jacksonianus, N. foveolatus), giáp xác có sẳng (Macrophthalmus spp.), còng đỏ (Uca arcuata), còng vuông (U. borealis); giun nhiều tơ (Polychaeta)…
HST bãi triều không có RNM nằm ở phía Tây - Nam Cồn Lu thuộc phân khu phục hồi sinh thái của VQG Xuân Thủy. Bãi triều không có RNM là nơi kiếm ăn của hầu hết các loài chim nước, đặc biệt đây là nơi kiếm ăn của một số loài chim nguy cấp, quý, hiếm.
Phần lớn diện tích bãi triều không có RNM đang được cộng đồng địa phương tận dụng để phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là nuôi ngao thương phẩm. Hoạt động này đã và đang tạo sinh kế ổn định và mang lại nguồn thu nhập lớn cho cộng đồng địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) tại khu vực.
1.3. Đầm nuôi trồng thủy sản
Đầm nuôi thủy sản ở khu vực VQG Xuân Thủy chủ yếu tập trung ở Cồn Ngạn. Đối tượng nuôi trồng chủ yếu là tôm, cá, cua và rau câu kết hợp; nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến (nguồn nước cấp, thoát theo chế độ thuỷ triều qua các cửa cống, bổ sung con giống). Các đầm nuôi tôm quảng canh cải tiến thường giữ nước thường xuyên nên thảm thực vật RNM trong các đầm này thường ít đa dạng về thành phần loài; cây có chiều cao thấp, sinh trưởng và phát triển kém so với thảm thực vật RNM ngoài vùng lõi VQG Xuân Thủy.
HST đầm nuôi trồng thủy sản tại khu vực VQG Xuân Thủy là nơi trú ngụ, kiếm ăn của các loài chim nước, đặc biệt là các loài chim nước nguy cấp, quý, hiếm như: Cò mỏ thìa, vịt đầu đen, giang sen, choắt chân màng lớn, choắt mỏ thẳng đuôi đen....
1.4. Vùng nước cửa sông
Vùng nước cửa sông Ba Lạt được xác định từ điểm đầu của xã Giao Thiện tới vùng nước ven bờ ngoài của Cồn Lu tới độ sâu 6m khi triều kiệt, kéo dài sang phía Tây nam tới cuối bãi triều nuôi ngao ở Cồn Lu. Diện tích vùng nước cửa sông trong vùng lõi được xác định trong năm 2022 là 3.173 ha.
Vùng nước cửa sông Ba Lạt có nhóm sinh vật nổi phát triển trong tầng nước. Quần xã động vật đáy bao gồm giáp xác có họ tôm he (Penaeidae), họ cua bơi (Portunidae), một số loài thuộc họ tôm càng sông (Palaemonidae), họ cua rạm (Varunidae); thân mềm có ốc gạo (Assiminea spp.), ốc mút (Cerithideopsilla cingulata, Cerithidea rhizoporarum), hàu cửa sông (Crassostrea ariakensis), hến vỏ mỏng (Corbicula luteola)... Khu hệ cá vùng nước cửa sông rất đa dạng về thành phần loài.
2. Những thách thức trong quản lý hệ sinh thái đất ngập nước VQG Xuân Thủy
2.1. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật
Theo Ban quản lý VQG, tình hình khai thác hải sản bằng phương tiện hủy diệt đã giảm xuống nhưng vẫn diễn ra với một số loại ngư cụ như lờ bát quái, đăng đáy, kích điện hoặc dùng chất độc. Hiện tượng đăng đáy được giăng ở nhiều vị trí và tập trung dày đặc ở các lòng sông, lạch nước đã ảnh hưởng lớn đến cảnh quan và môi trường ở khu vực. Chúng vừa góp phần khai thác cạn kiệt nguồn lợi thủy sản vừa gây nhiễu loạn đối với động vật hoang dã cần phải có các biện pháp nghiêm cấm và hủy bỏ. 
Khai thác thủ công vào các nguồn lợi tự nhiên ở khu vực: Là một hoạt động phổ biến. Do sức hấp dẫn của thị trường các mặt hàng thủy sản, nên đã lôi kéo hầu hết các lao động nông nhàn trong các xã vùng đệm và một số xã lân cận vào hoạt động này. Trung bình một ngày có tới 500 người, vào thời điểm nông nhàn và mùa vụ khai thác ngao giống và cua bể giống, con số này còn cao hơn nhiều (khoảng một vài ngàn người). Các sản phẩm tự nhiên chủ yếu gồm: cua bể, cá bớp, don, dắt, ngao giống, tôm rảo, cá các loại… Hình thức khai thác gồm: Kéo chài, thả lưới, câu, mò móc, cuốc… đã đem lại thu nhập đáng kể cho các hộ dân. 
Tình hình an ninh cũng khá phức tạp, đã phát sinh nhiều mâu thuẫn khá gay gắt giữa các đối tượng nuôi với nhau với người khai thác tự do và với các cấp quản lý. Nếu không có cơ chế quản lý thích hợp sẽ làm mất đi sinh cảnh quan trọng của chim di trú ở khu vực, đồng thời làm tiêu tan một nghề nuôi trồng và khai thác ngao vạng giàu tiềm năng ở khu vực. 
2.2. Ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sinh kế
Theo Báo cáo của VQG Xuân Thủy, 2025, kết quả phân tích chất lượng nước ở sông Trà bước đầu cho thấy, khúc sông ở đây có hàm lượng DO thấp dưới mức cho phép,  hàm lượng BOD và COD cao hơn mức cho phép; chỉ số BOD, COD, nitơ tổng hợp, phốt pho tổng hợp trong đầm tôm luôn cao hơn bên ngoài.

hinh-2-1779421280.png
Hình 2. Bản đồ nồng độ BOD và COD khu vực VQG Xuân Thủy (Nguồn: Vườn Quốc gia Xuân Thủy, 2025)

Ngoài ra, trong  quá trình nuôi ngao, chất thải hữu cơ từ quá trình bài tiết của ngao nuôi với  mật độ lớn; các hoạt động đào, san  lấp bãi, phun cát bởi các máy xúc,  máy bơm và tàu thuyền máy đã gây ô  nhiễm dầu cho môi trường nước/trầm  tích. 
Năm 2010, theo kết quả quan trắc của Dự án CORIN Asia và Sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định cũ (2010), khu vực VQG Xuân Thủy đã bắt đầu có xuất hiện dầu mỡ khoáng, tập trung chủ yếu ở sông Vọp và Sông Hồng. Kết quả phân tích hàm lượng dầu mỡ khoáng tại khu vực nuôi ngao ở Cồn Lu có nơi lên đến 0,06 mg/l, thậm chí 0,09 mg/l (vùng màu đỏ, nâu đỏ ở bản đồ dưới), nơi có nhiều hoạt động tàu máy chở cát và phun cát lên bãi nuôi, cũng như hoạt động của các máy xúc cải tạo bãi. Nồng độ dầu mỡ khoáng tại khu vực VQG Xuân Thủy năm 2010 trung bình tới 0.045mg/l. Đây là một yếu tố cảnh báo môi trường đối với cả khu vực nuôi ngao ở bãi triều thuộc VQG Xuân Thủy.

image004-1779421370.png
Hình 3. Nồng độ dầu mỡ khoáng trong nước mặt khu vực VQG Xuân Thuỷ năm 2010 (Nguồn: VQG Xuân Thủy, 2014)

2.3. Biến đổi khí hậu và thiên tai
Đánh giá định tính các tác động tiềm năng của nước biển dâng đến hệ thống tự nhiên và hệ thống KT-XH tại VQG Xuân Thủy có thể thể hiện bằng Bảng ma trận sau:
Bảng 1. Ma trận tác động của nước biển dâng đến VQG Xuân Thủy

bang-1-1779421444.png

Xói mòn bờ biển sẽ làm ảnh hưởng đến doanh thu của ngành du lịch do nhiều bãi biển đẹp bị biến mất. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở hạ tầng xây sát bờ biển cũng chịu thiệt hại do tác động của hiện tượng này. Theo Phan Thị Thúy Hạnh và Masahide Furukawa, 2007 đoạn bờ biển bị xói mòn dài thứ hai ở Việt Nam là tại Vân Lý (tỉnh Nam Định nay thuộc tỉnh Ninh Bình) trải dài trên 30 km. Bờ biển Vân Lý đã bị xói mòn với tốc độ 10-15m/năm trong nửa thế kỷ qua, tốc độ xói mòn bờ biển trung bình đã tăng từ 8,6 m/năm trong giai đoạn 1965-1990 lên 14,5 m/năm trong giai đoạn 1991-2000 dọc theo bờ biển Vân Lý.

image005-1779421469.png
Hình 4. Sự thay đổi đường bờ biển tại tỉnh Nam Định (cũ) giai đoạn 1905 - 1992 (Nguồn: Phan Thị Thúy Hạnh, Masahide Furukawa, 2007)

Độ mặn là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất đến sự phát triển và phân bố của RNM. RNM chỉ có thể phát triển tốt tại nơi nồng độ muối nằm trong khoảng 20% đến 35%. Nông độ muối quá cao (40-80%) sẽ làm giảm số lượng loài cũng như kích thước của chúng. Tại những nơi nồng độ muối đến 90%, chỉ có rất ít loài có thể tồn tại và ngay cả khi như vậy, chúng cũng phát triển rất chậm. Tuy nhiên, tại nơi độ mặn quá thấp rừng ngập mặn tự nhiên cũng không thể tồn tại. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, rừng ngập mặn còn cần một lượng nước sạch nhất định. Nước sạch từ sông, kênh rạch và nước mưa pha loãng độ mặn của nước biển, tạo nên nước lợ thích hợp cho nhiều loài trong các giai đoạn phát triển của chúng. 
Khi nước biển dâng và thay đổi dòng chảy của các con sông, sự phân bố độ mặn và lượng nước sạch tại VQG Xuân Thủy sẽ thay đổi, tác động đến sự phát triển bình thường của các khu RNM. HST RNM sẽ phản ứng bằng cách thay đổi trong năng suất, mở rộng khu vực hay đa dạng sinh học hoặc bằng cách di chuyển đến nơi khác. Những thay đồi này có khả năng thay đổi số lượng cá, tôm, cua và các loài khác sống trong RNM. HST RNM là môi trường sống của nhiều loài động thực vật vì vậy một diện tích rừng bị mất cũng sẽ tác động đến vòng đời và môi trường sống của rất nhiều loài khác. 
Bên cạnh ảnh hưởng đến hệ sinh thái, nhiễm mặn sẽ tác động đến cuộc sống của người dân trong vùng. Người dân sẽ phải đi xa hơn để tiếp cận nguồn nước ngọt, thiếu lượng nước cần thiết cho công việc trồng trọt cũng như chịu thiệt hại lớn trong ngành thủy sản do nhiều loài không sống được trong môi trường nước mặn. 
2.4. Sự du nhập của các loài ngoại lai xâm hại
Tại VQG Xuân Thủy đã ghi nhận được 11 loài ngoại  lai tại vùng lõi và 14 loài ngoại lai tại vùng  đệm, trong đó chỉ có loài cây Ngũ sắc và Bọ  cánh cứng hại lá dừa là các loài ngoại lai  xâm hại nguy hiểm (VQG Xuân Thủy, 2025). 
Ngũ sắc là một trong 100 loài sinh vật ngoại  lai xâm lấn nguy hiểm trên thế giới (IUCN,  2001). Ở Việt Nam, loài này là 1 trong 10 loài ngoại lai xâm hại đã biết (Thông tư số 22/2011/TT-BTNMT). Tuy nhiên, ở VQG Xuân Thủy, loài  này không có khả năng xâm lấn đến các  quần xã RNM, chỉ xâm lấn đến  các quần xã thực vật trên các cồn cát, các bờ đê, bờ đầm.
3. Mô hình quản lý Bảo tồn HST ĐNN được áp dụng tại VQG Xuân Thủy
Ở VQG Xuân Thủy, công tác quản lý đã được triển khai theo nhiều mô hình khác nhau nhằm bảo tồn HST ĐNN và hài hòa với sinh kế cộng đồng địa phương. Ngoài mô hình quản lý nhà nước tập trung do VQG Xuân Thủy và UBND các địa phương phụ trách, dưới đây là các mô hình quản lý tiêu biểu đang được áp dụng hoặc đã từng triển khai ở Vườn quốc gia Xuân Thủy:
3.1. Mô hình đồng quản lý sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn lợi ngao giống tự nhiên
Đề án đồng quản lý sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn lợi ngao giống tự nhiên ở cửa sông Hồng thuộc VQG Xuân Thủy là một bước đột phá mới trong chính sách quản lý sử dụng tài nguyên tự nhiên trong các Khu bảo tồn ĐNN của Việt Nam. Sau 4 năm thực hiện thí điểm, chính quyền địa phương đã thu ngân sách được trên 2 tỷ đồng từ việc cho phép người dân địa phương thuê khoán đất mặt nước theo mùa vụ để khai thác ngao giống tự nhiên ở cửa sông Hồng. Cộng đồng địa phương cũng có được nguồn thu hàng chục tỷ đồng từ khai thác hợp pháp nguồn lợi ngao giống tự nhiên. 
Với thể chế quản lý rõ ràng, có sự tham gia hiệu quả của các bên liên quan; việc thu ngân sách gắn với trách nhiệm của các cấp chính quyền ở địa phương, sau đó được hướng dẫn sử dụng để chi cho các mục tiêu hỗ trợ phúc lợi công cộng và hỗ trợ công tác quản lý bảo tồn thiên nhiên. Mặt khác, sau kết quả thể nghiệm của Xuân Thủy đã có được sự chuyển dịch chính sách của cấp vĩ mô. Tại Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng, tại Điều 20, Sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên trong rừng đặc dụng đã ghi một khoảng mới là “Đối với các khu rừng đặc dụng ở vùng ĐNN được sử dụng hợp lý các tài nguyên ĐNN trừ các loài đặc hữu, quý hiếm quy định trong Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ và không tác động xấu đến các chức năng và giá trị của ĐNN. 
3.2. Mô hình quản lý vùng đệm
Mục tiêu của mô hình quản lý vùng đệm là hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng sống xung quanh VQG, giảm áp lực lên khu vực lõi. Hỗ trợ mô hình sinh kế bền vững như nuôi ngao, làm muối sinh thái, nuôi ong…
a. Mô hình nuôi ong lấy mật 
VQG Xuân Thủy có thảm thực vật phong phú với rừng sú, vẹt ra hoa quanh năm, lại thêm vườn cây của các hộ gia đình xung quanh khu vực là nguồn thức ăn dồi dào của đàn ong mật. Điều kiện này rất thuận lợi cho người dân phát triển nghề nuôi ong. Để khuyến khích và phổ biến kinh nghiệm mô hình này, năm 2004, tại xã Giao An đã thành lập câu lạc bộ nuôi ong với thành viên nòng cốt ban đầu là những cựu chiến binh của xã. 
Theo thống kê của VQG Xuân Thủy, năm 2023 có gần 20 hộ đăng ký nuôi ong lấy mật, với tổng đàn lên đến 8.000 đàn (tăng 20%) so với năm 2022.  Từ tháng 8/2020 đến tháng 11/2021, VQG Xuân Thủy triển khai thực hiện dự án tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Mật ong rừng sú vẹt VQG Xuân Thủy”. Qua đó, VQG đã thành công trong việc tạo lập quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Mật ong rừng sú vẹt VQG Xuân Thủy” cho sản phẩm mật ong của VQG Xuân Thủy. 
b. Mô hình trồng nấm 
Mô hình trồng nấm là một trong những mô hình sinh kế mới đang hoạt động rất hiệu quả được triển khai từ năm 2009 tại xã Giao Thiện, Giao An. Với sự hỗ trợ của Viện Phát triển các nguồn lực ven biển Á châu tại Việt Nam (CORIN-Asia) trong Chương trình Liên minh ĐNN được tài trợ bởi Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Điển (SIDA), VQG Xuân Thủy đã trợ giúp người nông dân chuyển đổi từ chăn thả gia súc tự do trong vùng lõi của VQG sang trồng nấm, năm 2008, câu lạc bộ trồng nấm được thành lập. Lúc đầu chỉ có 4 thành viên, sau một năm, câu lạc bộ đã có Ban chủ nhiệm, tổ kỹ thuật, quỹ sinh kế chung lên đến 24 triệu đồng và 75 thành viên chia làm 4 tổ sản xuất hoạt động trên địa bàn của 7 xã vùng đệm và cận đệm của VQG. Năng lực tổ chức, trình độ kỹ thuật và cơ sở vật chất đã từng bước được hoàn thiện. 
c. Mô hình nuôi ngao
Nghề nuôi ngao trên Cồn Lu, Cồn Ngạn và các vùng triều khác đã hình thành từ những năm 1990 và phát triển khá mạnh sau năm 2004. Tổng diện tích đất nuôi ngao năm 2006 là 1.431 ha, năm 2008 còn 1.222 ha và đang có xu hướng giảm. Trong đó, đất nuôi thuộc vùng đệm gần 400 ha, thuộc vùng phục hồi sinh thái VQG trên 800 ha. Sản lượng địa phương chiếm 44,3% sản lượng ngao miền Bắc. Tổng sản lượng ngao năm 1990 là 4000 tấn, năm 2004, năng suất đạt trên 100.000 tấn, năm 2011 đạt 60.000 tấn. Hiện nay, địa phương đã sử dụng tối đa các bãi bồi ngập nước để nuôi ngao, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, thu nhập tăng cao cho các hộ gia đình, giảm tác động của nguời dân vào vùng lõi. 
d. Mô hình khai thác ngao giống
Vùng ĐNN ở cửa sông Hồng thuộc VQG Xuân Thủy là một vùng đất giàu tiềm năng.Từ đây đón nhận nguồn phù sa phong phú của Sông Hồng - con sông lớn nhất miền Bắc, đồng thời cũng là nơi gặp gỡ giữa sông và biển để hội tụ đầy đủ các nguồn lợi tự nhiên trời phú cho khu vực. Từ năm 2004, vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 ở khu vực xuất hiện nguồn lợi ngao giống (ngao cám và ngao thóc) tự nhiên với quy mô tương đối lớn. Cộng đồng dân địa phương đã tranh thủ khai thác nguồn lợi này để cung cấp con giống cho các khu nuôi trồng quảng canh loài ngao nói trên. Thị trường tiêu thụ ngao giống không chỉ ở khu vực nuôi trồng quảng canh ngao (vạng) ở cuối Cồn Lu, Cồn Ngạn của huyện Giao Thủy mà còn được xuất sang các khu nuôi trồng ngao của các huyện và tỉnh lân cận. Hàng tỷ đồng lợi nhuận có được từ nguồn lợi giống tự nhiên trên vùng đất ngập nước ở cửa sông Hồng đã tạo nên sức hút mãnh liệt đối với rất nhiều đối tượng, cả từ cộng đồng địa phương và những nguời từ nơi xa đến.Vào thời vụ cao điểm có tới hàng ngàn người dân và hàng trăm phương tiện thuyền bè lớn nhỏ tham gia khai thác. 

4. Đề xuất một số giải pháp quản lý tại VQG Xuân Thủy
Thứ nhất, tăng cường năng lực cho ban quản lý 
Tranh thủ các hỗ trợ cả ở trong nước và quốc tế để đào tạo, nâng cao trình độ và năng lực quản lý đội ngũ cán bộ về chuyên môn, trách nhiệm trong các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt chú trọng đào tạo nâng cao trình độ cán bộ cấp huyện xã về quản lý và bảo tồn đối với ĐNN. 
Tăng số lượng nhân sự cho ban quản lý. Tăng cường đa dạng hóa các nguồn tài chính, đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn tài trợ quốc tế, vốn ODA. Đẩy mạnh áp dụng các cơ chế tài chính mới để hỗ trợ cho công tác bảo tồn như chi trả dịch vụ môi trường. Khuyến khích, huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp đầu tư tài chính cho bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH).
Thứ hai, xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển KT – XH cho cộng đồng địa phương 
VQG xây dựng các dự án vùng đệm để tạo cơ chế chính sách thích hợp, tích cực hỗ trợ phát triển KT- XH vùng đệm. Từng bước tạo thu nhập thay thế cho cộng đồng tại chỗ, giảm dần áp lực về sinh kế của người dân; 
Hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình và các hoạt động phát triển có thiên hướng thân thiện với môi trường nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường và phát triển bền vững KT - XH ở địa phương; 
Tạo thu nhập thay thế cho cộng đồng để họ có được cuộc sống đảm bảo ở ngay tại vùng đệm. Từng bước phấn đấu giảm sức ép về khai thác tài nguyên - môi trường của cộng đồng địa phương từ vùng đệm lên vùng lõi của VQG Xuân Thủy; Thúc đẩy các phương thức quản lý, đồng quản lý các vùng ĐNN quan trọng với sự tham gia của cộng đồng dân cư, chính quyền các cấp và các bên có liên quan trong bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN; 
Trang bị cho cộng đồng những kiến thức kỹ thuật mới về thâm canh và trau dồi kỹ năng sản xuất kinh doanh giúp cho đa số người dân ở vùng đệm có được thu nhập thay thế ổn định từ ngay môi trường canh tác ở vùng đệm, từng bước giảm sức ép về khai thác tài nguyên tự nhiên từ vùng đệm lên vùng lõi của VQG Xuân Thủy. Các hoạt động cụ thể:
Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật thâm canh cây lúa, VAC, nuôi trồng thủy sản, ngành nghề phụ truyền thống, ngành nghề mới... Đặc biệt, quan tâm chuyển giao những công nghệ thân thiện với môi trường như: nuôi ong, sinh vật cảnh...; Cử các chuyên gia kỹ thuật hướng dẫn và giúp đỡ cộng đồng trong quá trình thực hiện. Thường xuyên cung cấp thông tin, kiến thức và kinh nghiệm sản xuất thâm canh trên nhiều kênh thông tin cho cộng đồng nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Hỗ trợ một phần tài chính cho cộng đồng giúp họ có được thu nhập thay thế mới, để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng. Cụ thể, trong sản xuất nông nghiệp: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản, hỗ trợ giống cây ăn quả, xây dựng mô hình VAC, phát triển chăn nuôi bằng cách cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ công tác thú y và bảo vệ thực vật, hỗ trợ mô hình nuôi ong và trồng nấm. Đối với các ngành nghề truyền thống: đào tạo các nghề thêu ren, mây tre đan xuất khẩu, nghề mộc…
Thứ ba, tăng cường kiểm soát chất lượng môi trường 
Thực hiện quan trắc môi trường đất, nước, ĐDSH định kỳ tại khu ĐNN để có những biện pháp khắc phục kịp thời nếu chất lượng môi trường có dấu hiệu suy thoái. Chuẩn bị các phương án, giải pháp ứng phó trước sự cố thiên tai, biến đổi khí hậu.
Áp dụng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường để bảo tồn RNM Cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường (PES) là một công cụ kinh tế được sử dụng để bảo tồn và phát triển bền vững các dịch vụ sinh thái của môi trường. Bản chất của PES là tạo cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho chủ thể cung cấp dịch vụ HST, nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác BVMT. 
Phát triển rừng (2004) và Luật ĐDSH (2008). Ngoài ra, PES đang được triển khai thí điểm tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La theo Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/04/2008 về “Chính sách thí điểm chi trả cho dịch vụ môi trường rừng” với các loại dịch vụ: điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn, bồi lấp; và cảnh quan du lịch
Quản lý bảo vệ chim thú và động vật hoang dã (ĐVHD) là một vấn đề phức tạp, không thể chỉ giải quyết trong nội vi của VQG mà cần phải thực thi giải pháp tổng thể, đồng bộ, mang tính phổ cập rộng rãi đến toàn thể cộng đồng, cụ thể là quy hoạch và bảo vệ nghiêm ngặt những bãi ăn nghỉ và các sinh cảnh quan trọng của chim và ĐVHD, tăng cường công tác tuần tra và bắt giữ, xử lý kiên quyết các hành vi xâm hại chim và ĐVHD. Liên kết với các điểm đất ngập nước lân cận để cùng phối hợp hành động bảo vệ chim di trú
Thứ tư, bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Tổ chức cấp giấy phép khai thác nguồn lợi thủy sản, xác định rõ đối tượng được phép, thời gian, địa điểm, phương tiện khai thác, số lượng và chất lượng loài thuỷ sản được phép khai thác... Trước khi nhận được giấy phép người dân phải ký cam kết thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý, trong đó có các điều kiện bắt buộc như: chỉ được làm những việc theo quy định ở giấy phép, không được khai thác nuôi trồng thủy sản mang tính huỷ diệt, không được săn bẫy chim thú và chặt phá cây rừng, không được có hành vi gây ô nhiễm và làm thay đổi cảnh quan môi trường...
Tổ chức kiểm tra và xử lý vi phạm đối với mọi đối tượng. Người không có giấy phép không được vào khai thác, người có giấy phép mà vi phạm tuỳ theo lỗi nặng nhẹ có thể bị xử phạt hành chính hoặc tịch thu giấy phép, nếu vi phạm nhiều lần hoặc vi phạm lỗi nặng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Riêng hệ thống đầm tôm và vây vạng: Cần phải đóng mốc giới cố định để khoanh bảo vệ chặt chẽ vùng nuôi, xác lập quy chế quản lý, chú trọng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Thứ năm, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục
Phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học, các viện các Sở có liên quan soạn thảo các tài liệu giới thiệu về VQG; tài liệu về rừng và môi trường cho học sinh phổ thông; tài liệu về pháp luật liên quan đến ĐNN…; Xây dựng, phát triển và tổ chức hoạt động cho các câu lạc bộ xanh ở mỗi thôn xóm. Xây dựng, giới thiệu phim, ảnh về BVMT và tài nguyên rừng ở VQG; Phối hợp với cơ quan chủ quản, các trường học của tỉnh, huyện và các tổ chức, đoàn thể tổ chức các hoạt động thi tìm hiểu về VQG, về môi trường biển… Ban quản lý cần có sự hỗ trợ mở rộng và sử dụng tối đa mạng lưới tuyên truyền viên của các đơn vị hoạt động xã hội từ cấp huyện đến xã.
5. Kết luận
VQG Xuân Thủy là một vùng ĐNN tiêu biểu cho vùng cửa sông ven biển. Khu vực VQG Xuân Thủy có sự đa dạng về các kiểu hệ sinh thái của vùng ĐNN ven biển  cửa sông - nơi cư trú của rất nhiều nhóm sinh vật khác nhau. Những áp lực tác động tới đa dạng sinh học của VQG Xuân Thủy đã được nhận diện, chủ yếu  là từ hoạt động của con người ở các xã vùng đệm như: Khai thác quá mức  và trái phép tài nguyên sinh vật; những bất cập trong quản lý bảo tồn đa đa dạng sinh học ở VQG Xuân Thủy; ô nhiễm hữu cơ do nguồn thải từ khu vực nuôi tôm ở Cồn Vạng và Cồn Lu; biến đổi khí hậu... Trên cơ sở phân tích các thách thức, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp và nhiệm vụ ưu tiên trong thời gian tới để quản lý bảo tồn hiệu quả các HST ĐNN VQG Xuân Thủy bao gồm giải pháp về cơ cấu tổ chức quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT và tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng. 

Nguyễn Xuân Hòa
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
ThS. Nguyễn Hoàng Anh
Học viện Phụ nữ Việt Nam

Tài liệu tham khảo
1. Davidson, N. C., van Dam, A. A., Finlayson, C. M. & McInnes, R. J. Mar. Freshw. Res. 70, 1189–1194 (2019).
2. Hansen, A. T., Dolph, C. L., Foufoula-Georgiou, E. & Finlay, J. C. Nat. Geosci. 11, 127–132 (2018).
3. Hải Nam (2023), Hiệu quả từ mô hình nuôi ong dưới tán RNM, Tạp chí Điện tử thiên nhiên và môi trường, ngày 19/07/2023. 
4. Pham Thi Thuy Han and Masahide Furukawa (2007), Impact of sea level rise on coastal zone of Vietnam, Bull. Fac. ScL, Univ. Ryukyus, No.84 : 45- 59 (2007)
5. Ramsar Convention (2018), Global Wetland Outlook: State of the World’s Wetlands and Their Services to People 2018. 
6. VQG Xuân Thủy (2014), Báo cáo hiện trạng ĐDSH VQG Xuân Thủy.
7. VQG Xuân Thủy (2025), Hiện trạng ĐDSH của VQG Xuân Thủy, Hội thảo khoa học với chủ đề “ĐDSH biển Việt Nam và các mô hình bảo tồn ĐDSH biển”.
8. VQG  Xuân Thủy - Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam.
9. A new database maps wetlands around the world.

Đặt mua Tạp chí Môi trường