Trong thời gian qua, công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã đạt nhiều kết quả tích cực như hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; mở rộng mạng lưới khu bảo tồn; phục hồi các hệ sinh thái rừng, biển và đất ngập nước; tăng cường kiểm soát buôn bán động vật hoang dã và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như áp lực phát triển kinh tế - xã hội, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, sự phân tán trong quản lý nhà nước và hạn chế về nguồn lực tài chính. Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm gồm hoàn thiện thể chế, tăng cường phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý đa dạng sinh học, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo tồn.
Từ khóa: Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, quản lý nhà nước, chuyển đổi số, phát triển bền vững.
Improving the Effectiveness of State Management in Nature and Biodiversity Conservation
Abstract
Vietnam is recognized as one of the world's most biodiverse countries, possessing diverse ecosystems, valuable genetic resources, and numerous rare and endangered species crucial for sustainable development. In recent years, substantial progress has been achieved in nature conservation and biodiversity protection, including improvements in legal and policy frameworks; the expansion of protected area networks; the restoration of forest, marine, and wetland ecosystems; strengthened control of the illegal wildlife trade; and enhanced international cooperation. Despite these achievements, the sector continues to face significant challenges, including increasing pressures from socio-economic development, climate change, environmental pollution, institutional fragmentation, and limitations in financial and human resources. To enhance the effectiveness of state management in nature conservation and biodiversity protection, this article proposes several key solutions, including strengthening institutional frameworks, promoting inter-sectoral coordination, enhancing the capacity of management personnel, accelerating digital transformation and the application of artificial intelligence in biodiversity management, and expanding international cooperation while mobilizing social resources for conservation activities.
Keywords: Nature conservation, biodiversity, state management, digital transformation, sustainable development.
JEL Classification: Q53, Q55, Q56, Q57.
Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều khu vực bảo tồn có tầm quan trọng quốc tế, nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo và nổi tiếng; các hệ sinh thái rừng, biển, đất ngập nước đa dạng và các loài sinh vật nguy cấp, quý, hiếm, nguồn gen giá trị. Đa dạng sinh học là nền tảng quan trọng bảo đảm cân bằng sinh thái, duy trì các chức năng hệ sinh thái thiết yếu phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, là lợi thế để phát triển bền vững các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế như nông nghiệp, thủy sản, y dược học cổ truyền và du lịch. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã được khẳng định là một nhiệm vụ quan trọng thể hiện trong Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam.
1. Một số tiến bộ về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trong thời gian qua
Công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã được sự quan tâm chỉ đạo của toàn hệ thống chính trị, do đó đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh quốc gia. Hệ thống chính sách sách tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý để bảo tồn toàn diện các thành phần của đa dạng sinh học, phát huy các giá trị của đa dạng sinh học phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đa dạng sinh học đã có đổi mới, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường được thành lập là bước tiến quan trọng trong tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về đa dạng sinh học. Mạng lưới các khu bảo tồn thiên nhiên được mở rộng và quản lý ngày càng hiệu quả; công tác bảo tồn chuyển chỗ đã được xã hội hóa và mở rộng; công tác bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển, rừng, đất ngập nước được chú trọng góp phần cải thiện môi trường sinh thái, đa dạng sinh học; nhiều loài động, thực vật quý, hiếm được bảo vệ và phục hồi; công tác thu thập, lưu giữ và sử dụng bền vững nguồn gen có nhiều tiến bộ; việc kiểm soát loài ngoại lai xâm hại, buôn bán trái phép động vật hoang dã và thúc đẩy tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích được tăng cường thực hiện; việc thực hiện các mô hình sinh kế bền vững, du lịch sinh thái chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần cải thiện sinh kế và thu hút sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp, thủy sản, y tế thực hiện các hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh các sản phẩm từ tự nhiên đã chú trọng thực hiện yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học để đáp ứng các yêu cầu thương mại quốc tế. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia, cơ sở dữ liệu các khu Ramsar Việt Nam, cơ sở dữ liệu an toàn sinh học, cơ sở dữ liệu di sản thiên nhiên Việt Nam đã được triển khai xây dựng. Hoạt động hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được đẩy mạnh, thể hiện trách nhiệm của quốc gia đối với quốc tế trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học toàn cầu, đặc biệt trong việc triển khai Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal năm 2022 và nhiều cam kết, thỏa thuận quốc tế khác về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

2. Thách thức đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
Một là, áp lực từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tới đa dạng sinh học gia tăng do nhu cầu sử dụng đất, mặt nước, mở rộng không gian cho các dự án phát triển kinh tế xã hội, cùng với tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường khiến nhiều hệ sinh thoái, các loài hoang dã bị đe dọa, suy giảm đến mức rất khó có thể phục hồi.
Hai là, đối tượng quản lý nhà nước chuyên ngành về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; quy định pháp luật, trách nhiệm quản lý nhà nước còn phân tán nên khó khăn trong việc thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Ba là, nguồn lực cho công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học còn hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; thiếu cơ chế để huy động nguồn lực tài chính từ xã hội.
Bốn là, ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, người dân về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học vẫn còn hạn chế; tồn tại việc khai thác, tiêu thụ động, thực vật hoang dã và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học thiếu bền vững, chưa coi trọng bảo tồn đa dạng sinh học.
3. Giải pháp trọng tâm thời gian tới
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đa dạng sinh học, xin đề xuất các giải pháp trọng tâm:
(1) Tăng cường đổi mới thể chế theo hướng thống nhất, đồng bộ về quản lý bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học: Tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và quy định pháp luật có liên quan theo hướng thống nhất, đồng bộ về quan điểm, định hướng, mục tiêu và phương thức thực hiện đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, kịp thời thể chế hóa các cam kết quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; thiết lập cơ chế điều phối liên ngành để nâng cao hiệu quả quản lý đa dạng sinh học.
(2) Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học từ trung ương đến địa phương; bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp, phân quyền mới được vận hành thông suốt, kịp thời; Nghiên cứu đề xuất các cơ chế huy động sự phối hợp, tham gia của các lực lượng quản lý chuyên trách (cảnh sát môi trường, biên phòng, kiểm lâm, kiểm ngư, quản lý thị trường, hải quan, v.v), cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, tổ chức quần chúng để bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
(3) Tập trung đẩy mạnh tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; triển khai các nhiệm vụ, dự án trọng tâm, trọng điểm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để thực hiện các chỉ tiêu được giao trong các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án; triển khai thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm kê, quan trắc, xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học.
(4) Chú trọng thực hiện công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
(5) Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, huy động nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; ưu tiên bố trí nguồn lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ, dự án trọng tâm, trọng điểm để đạt được các chỉ tiêu về đa dạng sinh học đã được xác định trong Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
(6) Tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa phương về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Hoàng Thị Thanh Nhàn1, Đặng Quốc Thắng1
1Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
2. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
3. Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Quyết định số 1352/QĐ-TTg ngày 11/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
7. Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 08/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia về bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ cho giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.