Chuyển từ cung ứng dịch vụ sang chủ động kiến tạo chuỗi giá trị
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng, từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang tổ chức theo vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị; từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Trong quá trình này, HTX nông nghiệp cần được xác định là một chủ thể kinh tế, có khả năng tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất, kết nối doanh nghiệp và tham gia tạo lập giá trị, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò cung ứng dịch vụ đầu vào hoặc làm trung gian tiêu thụ sản phẩm.

Theo ông Lê Đức Thịnh, thực tiễn phát triển nông nghiệp vẫn còn những hạn chế như quy mô sản xuất phân tán, năng lực quản trị HTX chưa đồng đều, liên kết giữa các chủ thể thiếu ổn định, trong khi khả năng tiếp cận công nghệ, dữ liệu, hạ tầng và thị trường còn nhiều khó khăn. Những tồn tại này đòi hỏi phải đổi mới phương thức hỗ trợ, hướng đến nâng cao năng lực tự chủ và hiệu quả hoạt động thực chất của HTX. Định hướng phát triển kinh tế tập thể giai đoạn mới đã được cụ thể hóa tại Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030, cùng nhiều kế hoạch triển khai của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đây là cơ sở để thúc đẩy phát triển HTX gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Trên cơ sở đó, ông Lê Đức Thịnh đề nghị các đại biểu tham dự Diễn đàn tập trung trao đổi về vai trò trung tâm của HTX trong tổ chức sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu. Theo đó, vùng nguyên liệu không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ diện tích canh tác, mà cần được xây dựng thành không gian sản xuất có tổ chức, có tiêu chuẩn chung, hệ thống truy xuất nguồn gốc, hạ tầng phù hợp và đầu ra ổn định. Một nội dung quan trọng khác là ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Việc đầu tư thiết bị, phần mềm phải xuất phát từ nhu cầu quản trị, giúp HTX quản lý thành viên, diện tích, sản lượng, chất lượng, chi phí, hợp đồng và tiêu thụ sản phẩm. Chuyển đổi số cần tạo ra hiệu quả kinh tế cụ thể, tránh đầu tư công nghệ nhưng thiếu dữ liệu, nhân lực và khả năng vận hành. Cùng với đó, cần hình thành hệ sinh thái hỗ trợ với sự tham gia của cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, HTX, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, cơ sở nghiên cứu và đơn vị cung cấp công nghệ. Đặc biệt, trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần xác định rõ trách nhiệm từng cấp, bảo đảm chính sách được triển khai thông suốt, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở.
Nâng cao năng lực hợp tác xã, phát triển vùng nguyên liệu gắn với thị trường
Trình bày tham luận “Phát huy vai trò chủ thể của HTX nông nghiệp trong kiến tạo chuỗi giá trị, kết nối thị trường và phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030”, ông Nguyễn Tiến Định, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, khu vực HTX nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực cả về quy mô và phương thức hoạt động. Theo số liệu tổng hợp đến tháng 6/2026, cả nước có 23.389 HTX nông nghiệp, 102 liên hiệp HTX nông nghiệp và khoảng 36.000 tổ hợp tác, với khoảng 4,15 triệu thành viên. Doanh thu bình quân đạt khoảng 2,7 tỷ đồng/HTX/năm, lợi nhuận bình quân khoảng 450 triệu đồng/năm; khoảng 68% HTX được đánh giá hoạt động khá và tốt. Đáng chú ý, gần 2.500 HTX ứng dụng công nghệ cao, 4.339 HTX tham gia bao tiêu nông sản và 2.169 HTX có sản phẩm OCOP.

Việc triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cũng tạo chuyển biến trong tổ chức sản xuất. Sau gần 8 năm thực hiện, cả nước có 2.938 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt, thu hút 2.412 HTX, 1.305 doanh nghiệp, 538 tổ hợp tác và trên 211.000 hộ nông dân tham gia. Trong đó, 2.331 dự án, kế hoạch do HTX nông nghiệp chủ trì. Đối với phát triển vùng nguyên liệu, kết quả thí điểm giai đoạn 2022 - 2025 tại 11 tỉnh cho thấy, khoảng 169.800 ha vùng nguyên liệu đã được hình thành, gần 121.000 ha liên kết với doanh nghiệp, tương đương 71,2%. Chương trình hình thành trên 90 chuỗi liên kết với sự tham gia của 27 doanh nghiệp và 393 HTX; đồng thời hỗ trợ thành lập mới 123 HTX và đào tạo trên 5.500 lượt cán bộ HTX.
Tuy nhiên, những kết quả về số lượng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng và tính bền vững của các mối liên kết. Nhiều HTX vẫn hạn chế về vốn, năng lực quản trị, khả năng kiểm soát chất lượng, đàm phán hợp đồng và phát triển thị trường. Không ít mô hình liên kết mới tập trung vào sản xuất, thu mua, chưa thu hút được nguồn lực đầu tư dài hạn cho sơ chế, bảo quản, chế biến và logistics. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ hỗ trợ HTX tham gia từng dự án sang phát triển năng lực để HTX chủ động tổ chức và điều phối các hoạt động trong chuỗi giá trị. Thành công của liên kết cần được đánh giá bằng tính ổn định của quan hệ hợp tác, hiệu quả kinh tế, khả năng đáp ứng thị trường và lợi ích thực tế của thành viên, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng hợp đồng được ký kết. Đối với giai đoạn 2026 - 2030, Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT-KTHT ngày 24/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung tiếp tục đặt ra yêu cầu gắn phát triển vùng nguyên liệu với nâng cao năng lực HTX và tổ chức liên kết chuỗi.
Tham luận cũng đề cao vai trò của HTX trong chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và giảm phát thải. Thông qua tổ chức sản xuất tập thể, HTX có thể hướng dẫn thành viên sử dụng tiết kiệm nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; thu gom, tái sử dụng phụ phẩm; thực hiện quy trình canh tác chung và quản lý dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số phải gắn với phương án kinh doanh khả thi, góp phần giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng cơ hội thị trường. Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào năng lực nội tại của HTX, phát triển hạ tầng thiết yếu, tăng khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia đầu tư lâu dài vào vùng nguyên liệu.
Tháo gỡ điểm nghẽn chính sách trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Ở góc độ nghiên cứu, với tham luận “Nhận diện những tồn tại, khó khăn của HTX nông nghiệp trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp”, ông Ngô Sỹ Đạt, Viện Kinh tế và Thể chế nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tập trung phân tích những tồn tại, khó khăn của HTX nông nghiệp sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, việc tổ chức lại bộ máy quản lý từ ngày 1/7/2025 mở ra cơ hội rút ngắn quy trình hành chính, tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở và đưa dịch vụ công đến gần HTX hơn. Tuy nhiên, việc phân định lại thẩm quyền mới chỉ giải quyết một phần yêu cầu về thể chế. Hiệu quả thực thi còn phụ thuộc vào hướng dẫn chuyên môn, năng lực cán bộ, điều kiện nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh với cấp xã.

Tham luận nhận diện 9 nhóm khó khăn, nổi bật là những vướng mắc trong đăng ký, đăng ký lại HTX; cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; công bố sản phẩm; xây dựng tiêu chuẩn chất lượng; thực hiện truy xuất nguồn gốc và thủ tục cấp mã số vùng trồng. Bên cạnh đó, năng lực sử dụng dịch vụ công trực tuyến của một bộ phận HTX còn hạn chế, trong khi cán bộ cấp xã tại một số địa phương phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, chưa có đủ kinh nghiệm xử lý những thủ tục chuyên ngành. Đáng chú ý, việc thay đổi đầu mối quản lý cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức liên kết sản xuất. Trên thực tế, một vùng nguyên liệu hoặc chuỗi cung ứng thường trải rộng trên địa bàn nhiều xã, nếu thiếu cơ chế điều phối thống nhất, việc triển khai kế hoạch mùa vụ, áp dụng tiêu chuẩn chung, chia sẻ thông tin và kết nối doanh nghiệp có nguy cơ bị phân tán theo địa giới hành chính.
Ông Ngô Sỹ Đạt lưu ý, không nên quy tất cả những hạn chế hiện nay cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bởi nhiều vấn đề đã tồn tại từ trước, như năng lực quản trị HTX còn yếu, thiếu vốn, thiếu hạ tầng sau thu hoạch và liên kết thị trường chưa bền vững. Vấn đề cần giải quyết là những khoảng trống trong tổ chức thực hiện chính sách, nhất là tình trạng chuyển giao nhiệm vụ nhưng chưa bảo đảm đầy đủ điều kiện thực thi. Từ thực tế đó, ông đề xuất chuẩn hóa và công khai các thủ tục hành chính, xác định rõ cơ quan tiếp nhận, hướng dẫn thống nhất về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đối với chuyển đổi số, cần ưu tiên hỗ trợ HTX hoàn thiện quy trình ghi chép, quản lý dữ liệu và sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thay vì đầu tư phần mềm khi chưa đủ điều kiện vận hành.
Về các vùng nguyên liệu liên xã, cấp tỉnh, cần phát huy vai trò điều phối, xác định đầu mối phối hợp phù hợp nhưng không làm phát sinh thêm tổ chức trung gian. Đồng thời, việc giao nhiệm vụ cho cấp xã phải đi đôi với nguồn lực, hướng dẫn nghiệp vụ và cơ chế hỗ trợ chuyên môn thường xuyên. Đặc biệt, cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả hỗ trợ HTX: Không chỉ tính số lượt tập huấn hay số lượng hồ sơ tiếp nhận, mà cần căn cứ vào thời gian giải quyết thủ tục, tỷ lệ hồ sơ hoàn thành ngay lần đầu, mức độ tiếp cận chính sách, khả năng duy trì vùng nguyên liệu và kết quả tiêu thụ theo hợp đồng.
Trong phần thảo luận, các đại biểu đã tập trung chia sẻ, bàn thảo về “điểm nghẽn” và đề xuất một số giải pháp góp phần đưa HTX trở thành chủ thể kinh tế mạnh trong liên kết với doanh nghiệp. Đa số các ý kiến cho rằng, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trong đó, cần sớm ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 113/2024/NĐ-CP và sửa đổi Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ theo hướng nới lỏng điều kiện tiếp cận chính sách hỗ trợ, nhất là nguồn vốn tín dụng.

TS. Ninh Đức Hùng, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định, các HTX đang đứng trước làn sóng “chuyển đổi kép”: Vừa phải chuyển đổi số, vừa phải chuyển đổi xanh. Đặc biệt, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, dù mang lại kỳ vọng tinh gọn bộ máy, nhưng mô hình này cũng bộc lộ khoảng trống về điều phối liên xã. Trước đây, việc xây dựng vùng nguyên liệu lớn thường trải dài qua 3 - 5 xã và do cấp huyện điều phối, nhưng nay thiếu đi mắt xích này, khiến việc kết nối liên xã bị phân tán, làm cho quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn chung dễ bị đứt gãy. Bên cạnh đó, TS. Ninh Đức Hùng cũng chỉ ra “ma trận” thủ tục pháp lý chuyên ngành đang làm lỡ nhịp các đơn hàng xuất khẩu. Dù đã có Nghị định số 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về mã số vùng trồng, nhưng việc phân cấp, hướng dẫn thực thi ở cơ sở còn chậm.
Về truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng, sự chồng chéo giữa Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật sửa đổi (Luật số 70/2025/QH15), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Luật số 78/2025/QH15), Nghị định số 37/2026/NĐ-CP hay Thông tư số 11/2026/TT-BCT khiến các HTX lúng túng không biết áp dụng theo hệ thống nào để liên thông với Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia, nhất là trong điều kiện nguồn lực của chính HTX còn mỏng. Cùng với đó là sự hạn chế về năng lực thực thi khi công chức cấp xã kiêm nhiệm nhiều việc, chưa đủ kinh nghiệm chuyên môn để xử lý hồ sơ trực tuyến hay hướng dẫn HTX thực hiện dịch vụ công trên môi trường số.
Từ thực tế nêu trên, TS. Ninh Đức Hùng đề xuất các Bộ, ngành liên quan cần ban hành hướng dẫn hợp nhất, thống nhất quy trình cấp mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc… Nhằm khắc phục khoảng trống của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đối với các vùng nguyên liệu liên xã (từ 2 xã trở lên), UBND cấp tỉnh cần chủ động ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về nông nghiệp hoặc giao cho một xã trung tâm làm đầu mối điều phối, vừa đảm bảo thu hút nguồn lực vừa tránh tạo thêm các cấp trung gian gây phát sinh chi phí.