Nghiên cứu phân loại đầu tư công cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh nhằm đề xuất kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư công cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh tại tỉnh Bắc Ninh

Nghiên cứu này tập trung: (i) rà soát và phân loại danh mục đầu tư công giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh theo mức độ liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh; (ii) lượng hóa quy mô, cơ cấu và tỷ trọng vốn đầu tư công khí hậu theo năm, theo mục tiêu và theo lĩnh vực; (iii) đối chiếu kết quả phân loại với các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về BĐKH và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh để đề xuất kiến nghị hoàn thiện công tác theo dõi và phân bổ đầu tư công khí hậu.

Tóm tắt

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống và phát triển. Thực trạng này đòi hỏi các địa phương phải nâng cao chất lượng nhận diện, phân bổ, theo dõi đầu tư công nhằm ứng phó với rủi ro khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh. Nghiên cứu giúp phân loại đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh tại tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở kế thừa Hướng dẫn phân loại đầu tư công ban hành kèm theo Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT ngày 16/7/2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đồng thời phát triển thêm cách tiếp cận theo hướng: kết hợp tỷ lệ chi tiêu khí hậu theo CPEIR; gắn mã dự án với hệ thống mục lục ngân sách/Tabmis; liên kết với các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về BĐKH, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và hệ thống giám sát, đánh giá thích ứng. Kết quả rà soát 804 dự án đầu tư công giai đoạn 2021-2024 cho thấy, có 233 dự án liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh, với tổng vốn khoảng 1.895 tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn. Kết quả nghiên cứu không đo lường hiệu quả sau đầu tư theo nghĩa tác động kinh tế - xã hội hoặc giảm phát thải thực tế, mà tập trung đánh giá hiệu quả ở khía cạnh nhận diện, phân loại, theo dõi và định hướng phân bổ vốn đầu tư công khí hậu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí gắn mã khí hậu, tích hợp nội dung khí hậu trong quy trình lập kế hoạch - ngân sách và tăng cường giám sát danh mục đầu tư công nhằm hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản trị đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh tại địa phương.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, đầu tư công, phân loại đầu tư công.

Ngày nhận bài: 6/4/2026; Ngày sửa chữa: 7/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/5/2026.

 

A STUDY ON CLASSIFYING PUBLIC INVESTMENTS FOR CLIMATE CHANGE AND GREEN GROWTH TO PROPOSE RECOMMENDATIONS FOR IMPROVING THE EFFECTIVENESS OF PUBLIC INVESTMENTS FOR CLIMATE CHANGE AND GREEN GROWTH IN BAC NINH PROVINCE

Abstract

Climate change is directly affecting multiple dimensions of local development. This situation requires local governments to improve the identification, allocation, and monitoring of public investment for climate change response and green growth. This study classifies public investment for climate change and green growth in Bac Ninh Province by inheriting the public investment classification guideline issued under Decision No. 1085/QD-BKHDT dated 16 July 2018 by the Ministry of Planning and Investment, while further developing the approach by integrating CPEIR-based climate expenditure weighting, linking project codes with the state budget/Tabmis classification system, and aligning classified projects with national climate change and green growth strategies. Based on a review of 804 public investment projects during 2021-2024, 233 projects were identified as climate- and green growth-related, with total investment of approximately VND 1,895 billion, accounting for 12.4% of total public investment in the period. The study does not measure ex-post investment effectiveness in terms of socioeconomic impacts or actual emission reductions; rather, it assesses effectiveness from the perspective of identification, classification, tracking, and strategic allocation of climate-related public investment. The paper proposes improving climate tagging criteria, integrating climate considerations into planning and budgeting procedures, and strengthening monitoring of climate-related public investment portfolios at the local level.

Keywords: Climate change, green growth, public investment, public investment classification.

JEL Classifications: Q51, Q53, Q54, Q55.

1. Mở đầu

BĐKH đang trở thành thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam do các hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng rõ và tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội, kết cấu hạ tầng và môi trường. Ở cấp địa phương, các tác động này thể hiện qua hư hỏng công trình, tăng chi phí duy tu, giảm hiệu quả sản xuất, gây áp lực lên hệ thống cấp thoát nước, y tế và khả năng chống chịu của cộng đồng. Vì vậy, đầu tư công không chỉ phục vụ phát triển hạ tầng mà còn là công cụ cụ thể hóa các mục tiêu thích ứng, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng trưởng xanh trong kế hoạch đầu tư trung hạn, hằng năm.

Bắc Ninh là địa phương có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa cao, đồng thời chịu tác động của nắng nóng, mưa lớn cực đoan, ngập úng, sạt lở bờ sông, biến động nguồn nước và áp lực lên hạ tầng kỹ thuật - xã hội (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021; UBND tỉnh Bắc Ninh, 2023a). Do đó, việc nhận diện các khoản đầu tư công liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh có ý nghĩa quan trọng trong lập kế hoạch, phân bổ ngân sách, theo dõi kết quả và huy động nguồn lực. Nếu thiếu tiêu chí sàng lọc rõ ràng, nhiều dự án có đồng lợi ích khí hậu có thể bị bỏ sót, trong khi một số dự án phát triển thông thường lại có thể bị diễn giải quá rộng là đầu tư khí hậu.

Về phương pháp luận, Việt Nam đã có Hướng dẫn phân loại đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh theo Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT ngày 16/7/2018 và đã áp dụng cách tiếp cận CPEIR trong các rà soát cấp quốc gia. Tuy nhiên, khi áp dụng ở cấp địa phương, Hướng dẫn 1085 chưa lượng hóa mức độ liên quan khí hậu của từng dự án, còn CPEIR chưa gắn chặt với hệ thống mã ngân sách và Tabmis. Vì vậy, cần một cách tiếp cận kết hợp giữa phân loại chính sách, gắn mã ngân sách và xác định tỷ lệ đóng góp khí hậu để hỗ trợ theo dõi đầu tư công ở cấp tỉnh.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu này tập trung: (i) rà soát và phân loại danh mục đầu tư công giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh theo mức độ liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh; (ii) lượng hóa quy mô, cơ cấu và tỷ trọng vốn đầu tư công khí hậu theo năm, theo mục tiêu và theo lĩnh vực; (iii) đối chiếu kết quả phân loại với các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về BĐKH và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh để đề xuất kiến nghị hoàn thiện công tác theo dõi và phân bổ đầu tư công khí hậu. Trong phạm vi bài viết này, “hiệu quả đầu tư công” được tiếp cận chủ yếu ở khía cạnh hiệu quả quản trị và phân bổ nguồn lực, tức là khả năng nhận diện đúng, theo dõi được và định hướng tốt hơn các khoản đầu tư có đóng góp cho thích ứng, giảm nhẹ và tăng trưởng xanh.

2. Phương pháp thực hiện và nguồn số liệu sử dụng

2.1. Phương pháp thực hiện

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận phân loại đầu tư công theo mục tiêu chính sách, dựa trên Hướng dẫn phân loại đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh ban hành kèm theo Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015, 2018, 2022). Điểm phát triển của nghiên cứu là không chỉ xác định dự án “có/không” liên quan đến khí hậu, mà còn đánh giá mức độ liên quan, gán tỷ lệ chi tiêu khí hậu và liên kết dự án với mã ngân sách, lĩnh vực thích ứng/giảm nhẹ và mục tiêu chiến lược quốc gia.

Dự án được xác định có liên quan đến BĐKH hoặc tăng trưởng xanh khi hồ sơ thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoặc đầu ra về giảm rủi ro thiên tai, thích ứng với BĐKH, bảo vệ tài nguyên nước, hệ sinh thái, nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng, dịch vụ công; hoặc có cấu phần giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng tiết kiệm, xử lý chất thải, hạ tầng xanh, giao thông bền vững, công trình xanh, sản xuất - tiêu dùng xanh. Dự án cũng được xem xét nếu có liên kết rõ với Chiến lược quốc gia về BĐKH, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, NDC hoặc hệ thống giám sát, đánh giá thích ứng. Các dự án phát triển thông thường chỉ được tính là dự án khí hậu khi có căn cứ cụ thể, tránh diễn giải quá rộng đối với toàn bộ dự án hạ tầng, y tế, giao thông hoặc công trình công cộng.

Quy trình rà soát gồm sáu bước: thu thập danh mục và hồ sơ dự án; xác định mục tiêu, đầu ra, địa điểm, đối tượng hưởng lợi và rủi ro khí hậu liên quan; sàng lọc theo tiêu chí thích ứng, giảm nhẹ hoặc tăng trưởng xanh; phân loại theo mục tiêu chính gồm thích ứng, giảm nhẹ hoặc kết hợp; gán mã theo “Loại - Khoản - Mục” để liên thông với hệ thống ngân sách/Tabmis; và kiểm tra chéo giữa nhóm nghiên cứu, chuyên gia, đầu mối địa phương. Trong cấu trúc mã hóa, “Loại” phản ánh lĩnh vực chi ngân sách; “Khoản” phản ánh nhóm lĩnh vực thích ứng hoặc giảm nhẹ; “Mục” phản ánh nhiệm vụ hoặc nhóm hoạt động cụ thể liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh.

Đối với tỷ lệ đóng góp khí hậu, nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận CPEIR theo năm mức độ: 100% đối với dự án có mục tiêu khí hậu rõ ràng hoặc toàn bộ hoạt động nhằm ứng phó với BĐKH; 75-99% đối với dự án có mục tiêu chính là tăng cường chống chịu hoặc giảm phát thải; 50-74% đối với dự án có mục tiêu thứ cấp hoặc đầu ra đáng kể liên quan đến khí hậu; 25-49% đối với dự án có đồng lợi ích khí hậu gián tiếp; và 1-24% đối với dự án chỉ có liên quan nhỏ hoặc mang tính hỗ trợ. Vốn đầu tư công khí hậu được xác định bằng tổng vốn dự án nhân với tỷ lệ chi tiêu khí hậu đã gán; trường hợp hồ sơ đủ chi tiết thì tính theo hợp phần, trường hợp thiếu thông tin thì xác định theo mục tiêu, đầu ra và ý kiến chuyên gia.

Đối với dự án đa mục tiêu, nghiên cứu ưu tiên phân loại theo mục tiêu khí hậu có tỷ trọng hoặc ý nghĩa chính; trường hợp đồng thời tạo lợi ích thích ứng và giảm nhẹ thì xếp vào nhóm kết hợp. Việc liên kết với mục tiêu chiến lược quốc gia được thực hiện theo phương pháp định tính có cấu trúc, nhằm mô tả mức độ phù hợp của danh mục đầu tư với định hướng chính sách, không diễn giải như bằng chứng định lượng về đóng góp thực tế. Để kiểm chứng, nhóm nghiên cứu rà soát lặp lại các dự án có vốn lớn, dự án đa mục tiêu và dự án có nội dung khí hậu không thể hiện rõ trong tên gọi; các trường hợp chưa đủ căn cứ được xử lý theo nguyên tắc thận trọng. Sơ đồ phương pháp phân loại, gắn mã và cấu trúc mã theo Mục tiêu, Loại, Khoản, Mục được trình bày tại Hình 1 và Hình 2.

image001-1782960681.png
Hình 1. Sơ đồ tổng quát về phương pháp phân loại và gắn mã đầu tư liên quan tới BĐKH và tăng trưởng xanh
image002-1782960722.png
Hình 2. Cấu trúc mã phân loại theo mục tiêu, loại, khoản và mục

2.2. Nguồn số liệu sử dụng

Nguồn số liệu của nghiên cứu gồm thông tin, dữ liệu và tài liệu liên quan đến BĐKH, tăng trưởng xanh và đầu tư công tại tỉnh Bắc Ninh trước thời điểm sáp nhập địa giới hành chính. Dữ liệu được thu thập thông qua làm việc với các sở, ngành liên quan, tập trung vào danh mục dự án thuộc kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2021-2024. Nguồn vốn xem xét gồm vốn xây dựng cơ bản tập trung, kể cả vốn vay lại và vốn đối ứng cho dự án ODA; ngân sách địa phương từ các nguồn thu của địa phương, gồm xổ số kiến thiết và thu tiền sử dụng đất. Nghiên cứu không bao gồm đầu tư tư nhân, ngân sách trung ương bổ sung ngoài danh mục của tỉnh và nguồn vốn nước ngoài không phản ánh trong kế hoạch đầu tư công địa phương.

Thông tin dự án được khai thác từ quyết định phê duyệt kế hoạch hằng năm, kế hoạch trung hạn, quyết định đầu tư, hồ sơ dự án và báo cáo chuyên ngành. Các trường thông tin chính gồm mục tiêu, nội dung đầu tư, địa điểm, thời gian thực hiện, tổng mức đầu tư, nguồn vốn, sản phẩm đầu ra và mối liên hệ với rủi ro khí hậu hoặc mục tiêu tăng trưởng xanh. Đây là căn cứ để xác định mức độ liên quan của dự án tới BĐKH và tăng trưởng xanh, đồng thời phục vụ gán mã, tính tỷ lệ vốn khí hậu và tổng hợp kết quả theo năm, lĩnh vực, mục tiêu chính sách.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Bối cảnh đầu tư công và cơ sở nhận diện đầu tư công khí hậu tại Bắc Ninh

Tại tỉnh Bắc Ninh, việc lập và giao kế hoạch vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn; bảo đảm nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn và phân loại theo ngành, lĩnh vực. Trong đó, các nhiệm vụ, dự án thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh đã được lồng ghép trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, công trình công cộng và môi trường.

Theo các quyết định giao kế hoạch đầu tư công hằng năm của UBND tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2021-2024, tỉnh thực hiện 804 dự án đầu tư công với tổng kinh phí 15.289,8 tỷ đồng, phân bổ cho 15 lĩnh vực. Các lĩnh vực có tỷ trọng vốn lớn, chiếm trên 8% tổng vốn toàn giai đoạn, gồm giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, và y tế. Trong đó, giao thông vận tải chiếm tỷ trọng cao nhất với 302 dự án, tổng vốn 9.497 tỷ đồng, tương đương 62,1% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn. Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đứng thứ hai với 148 dự án, tổng vốn 1.665,6 tỷ đồng, chiếm 10,9%. Lĩnh vực y tế có 34 dự án, vốn đầu tư 1.223,6 tỷ đồng, chiếm 8%, chủ yếu do các dự án xây mới, mở rộng bệnh viện và trung tâm y tế có quy mô vốn lớn.

Một số lĩnh vực khác có mức vốn trung bình như giáo dục và đào tạo đạt 844,2 tỷ đồng, chiếm 5,5%; văn hóa, thông tin và truyền thông đạt 766,3 tỷ đồng, chiếm 5%. Các lĩnh vực an ninh, tài nguyên và môi trường, xây dựng, quốc phòng chiếm khoảng 0,85-3% tổng vốn; trong khi lao động - thương binh và xã hội, công thương, thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ, nội vụ, kế hoạch và đầu tư chiếm dưới 0,15%, với vốn dao động từ 0,2-19,5 tỷ đồng. Xét toàn giai đoạn, vốn đầu tư công của Bắc Ninh có xu hướng tăng, bình quân khoảng 349 tỷ đồng/năm; năm 2023 đạt mức cao nhất với 4.779 tỷ đồng, chiếm 31,3% tổng vốn toàn giai đoạn, chủ yếu do các dự án lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, và y tế.

3.2. Quy mô đầu tư công cho ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021-2024

Trong giai đoạn 2021-2024, tỉnh Bắc Ninh có 233/804 dự án liên quan đến ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh, chiếm 29,0% tổng số dự án đầu tư công toàn giai đoạn. Sau khi áp dụng tỷ lệ chi tiêu khí hậu theo mức độ liên quan của từng dự án, tổng vốn đầu tư công khí hậu ước tính khoảng 1.895 tỷ đồng, tương đương 12,4% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn (khoảng 15.290 tỷ đồng).

Bảng 1. Tổng vốn đầu tư công và tổng vốn đầu tư công cho ứng phó với BĐKH theo các năm trong giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh

Năm

Tổng vốn đầu tư công

(tỷ đồng)

Số lượng dự án

Tổng vốn

(tỷ đồng)

Tỷ lệ vốn đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh so với tổng vốn đầu tư công (%)

2021

3411

82

495

14,5

2022

3086

56

616

20,0

2023

4779

47

446

9,3

2024

4013

48

339

8,4

Tổng

15290

233

1895

12,4

(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp)


Vốn đầu tư công cho ứng phó với BĐKH không đồng đều giữa các năm. Năm 2022 có tổng vốn đầu tư công khí hậu cao nhất, đạt 616 tỷ đồng với 56 dự án; tỷ lệ vốn khí hậu so với tổng vốn đầu tư công cùng năm đạt 20,0%, cao hơn mức trung bình toàn giai đoạn là 12,4%. Năm 2021 có số lượng dự án liên quan đến BĐKH nhiều nhất (82 dự án) nhưng tổng vốn khí hậu đạt 495 tỷ đồng, thấp hơn năm 2022 khoảng 121 tỷ đồng; tỷ lệ vốn khí hậu so với tổng vốn đầu tư công năm 2021 đạt 14,5%. Năm 2023 và 2024 lần lượt ghi nhận 446 tỷ đồng và 339 tỷ đồng vốn đầu tư công khí hậu, tương ứng 9,3% và 8,4% tổng vốn đầu tư công từng năm.

Tỷ lệ vốn đầu tư công khí hậu so với tổng vốn đầu tư công có xu hướng giảm trong hai năm cuối giai đoạn nghiên cứu (Bảng 1, Hình 3). Kết quả này cho thấy cơ cấu vốn khí hậu trong danh mục đầu tư công chưa ổn định giữa các năm. Tuy nhiên, do dữ liệu mới bao quát giai đoạn 2021-2024 và chưa phân tích sâu chu kỳ đầu tư trung hạn, tiến độ giải ngân hoặc đặc điểm của từng dự án hạ tầng lớn, xu hướng giảm này cần được diễn giải như một tín hiệu cần theo dõi thêm thay vì kết luận chắc chắn rằng đầu tư khí hậu ngày càng ít được ưu tiên.

image003-1782961183.png
Hình 3. Biến thiên tổng vốn đầu tư công và tổng vốn đầu tư công cho ứng phó với BĐKH theo các năm trong giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh

 (Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp)


Phân bố dự án liên quan đến ứng phó với BĐKH tại Bắc Ninh cho thấy quy mô vốn khí hậu biến động theo năm và chịu ảnh hưởng của một số nhóm dự án quy mô lớn. Trong khi tổng vốn đầu tư công toàn tỉnh tăng ở một số năm, tỷ trọng vốn khí hậu lại giảm trong hai năm cuối kỳ nghiên cứu. Điều này gợi ý rằng việc nhận diện và theo dõi đầu tư công khí hậu cần được thực hiện thường xuyên hơn trong quá trình lập kế hoạch đầu tư công, đặc biệt ở các lĩnh vực có nhu cầu đầu tư liên tục như thủy lợi, tiêu thoát nước, kiểm soát ngập úng, xử lý nước thải, y tế công cộng và bảo vệ hệ sinh thái.

3.3. Cơ cấu đầu tư theo mục tiêu thích ứng, giảm nhẹ và kết hợp đa mục tiêu

Giai đoạn 2021-2024, tỉnh Bắc Ninh có 233 dự án đầu tư công liên quan đến ứng phó với BĐKH. Trong đó, 211 dự án thuộc nhóm thích ứng, chiếm 90,5%; 22 dự án thuộc nhóm kết hợp thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, chiếm 9,5%; không ghi nhận dự án chỉ có mục tiêu giảm nhẹ độc lập. Kết quả này cho thấy danh mục đầu tư công khí hậu của tỉnh chủ yếu tập trung vào thích ứng và xử lý rủi ro khí hậu hiện hữu, trong khi các dự án giảm nhẹ phát thải còn hạn chế.

Các dự án thích ứng chủ yếu gồm cải tạo, nạo vét kênh tiêu, sông, hồ; nâng cấp đê, trạm bơm; xử lý sạt lở bờ sông; xây dựng, nâng cấp cơ sở y tế, cầu vượt sông và công trình cấp, thoát nước. Tổng vốn thích ứng đạt khoảng 1.749,8 tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn (Hình 4).

Đối với nhóm kết hợp, chỉ ghi nhận ba lĩnh vực: tài nguyên và môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn, và văn hóa, thể thao và du lịch. Trong đó, tài nguyên và môi trường có quy mô vốn lớn nhất, khoảng 93 tỷ đồng, chủ yếu cho xử lý nước thải và hệ thống vớt rác tự động; nông nghiệp và phát triển nông thôn đạt khoảng 34,5 tỷ đồng, tập trung vào rừng phòng hộ và dải cây xanh. Nhìn chung, đã xuất hiện một số dự án có đồng lợi ích thích ứng, giảm nhẹ và cải thiện môi trường, nhưng quy mô còn nhỏ so với tổng vốn đầu tư công khí hậu. Cơ cấu đầu tư hiện vẫn nghiêng về thích ứng và bảo vệ hạ tầng thiết yếu; các khoản đầu tư dài hạn cho phát thải thấp, đổi mới công nghệ, hạ tầng xanh, kinh tế tuần hoàn và tiêu dùng bền vững còn hạn chế.

image004-1782961272.png
Hình 4. Biến thiên tổng vốn đầu tư công theo các mục tiêu (thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ) theo các năm trong giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh

 
Hình 4. Biến thiên tổng vốn đầu tư công theo các mục tiêu (thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ) theo các năm trong giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp)

3.4. Cơ cấu đầu tư công khí hậu theo lĩnh vực

Phân tích theo lĩnh vực cho thấy 233 dự án liên quan đến ứng phó với BĐKH của tỉnh Bắc Ninh được phân bổ vào 8 lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn; tài nguyên và môi trường; giao thông vận tải; y tế; an ninh; văn hóa, thể thao và du lịch; công thương; và lao động - thương binh và xã hội. Trong đó, nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm ưu thế cả về số lượng và quy mô vốn, với 144 dự án, tổng vốn khoảng 1.446 tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn và 76,3% tổng vốn đầu tư công cho ứng phó với BĐKH.

Kết quả này phản ánh đặc điểm đầu tư khí hậu ở cấp tỉnh, khi các rủi ro khí hậu tại Bắc Ninh chủ yếu gắn với ngập úng, biến động dòng chảy, áp lực đối với thủy lợi, đê điều và an ninh nguồn nước. Vì vậy, các dự án cải tạo, nạo vét kênh, hồ, lưu vực; sửa chữa, nâng cấp đập; xây dựng kè; xử lý sạt lở; nâng cấp trạm bơm và hồ chứa được xếp vào nhóm thích ứng khi có căn cứ về giảm rủi ro thiên tai hoặc tăng khả năng chống chịu. Tuy nhiên, vốn đầu tư khí hậu trong lĩnh vực này có xu hướng giảm trong các năm gần đây, cần tiếp tục theo dõi trong quan hệ với chu kỳ đầu tư trung hạn và nhu cầu duy trì hệ thống thủy lợi, phòng chống thiên tai.

Lĩnh vực tài nguyên và môi trường đứng thứ hai với 16 dự án, tổng vốn khoảng 146 tỷ đồng, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư khí hậu và 0,96% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn. Các dự án chủ yếu gồm nâng cấp hệ thống tiêu, thoát nước, xử lý nước thải đô thị, bảo đảm an ninh nguồn nước và hạ tầng môi trường. Đây là lĩnh vực có khả năng tạo đồng thời lợi ích thích ứng, môi trường và một phần giảm nhẹ, song quy mô vốn còn nhỏ và biến động mạnh theo năm.

Lĩnh vực giao thông vận tải có 34 dự án liên quan đến BĐKH với tổng vốn khoảng 145 tỷ đồng, mặc dù đây là lĩnh vực có quy mô đầu tư công tổng thể lớn nhất của tỉnh. Kết quả này cho thấy không phải mọi dự án giao thông đều được tính là đầu tư khí hậu; chỉ các công trình có căn cứ về giảm rủi ro khí hậu, tăng khả năng chống chịu, hỗ trợ phòng hộ, cứu hộ hoặc bảo vệ khu vực chịu tác động của lũ, xói lở mới được đưa vào danh mục. (Hình 5).

Đối với nhóm kết hợp giảm nhẹ và thích ứng, chỉ ghi nhận ba lĩnh vực có đầu tư gồm tài nguyên và môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn, và văn hóa - thể thao - du lịch. Trong đó, tài nguyên và môi trường dẫn đầu với khoảng 93 tỷ đồng, tập trung vào xử lý nước thải và hệ thống vớt rác tự động; tiếp theo là nông nghiệp và phát triển nông thôn với khoảng 34,5 tỷ đồng, chủ yếu cho cải tạo, nâng cấp rừng phòng hộ và trồng dải cây xanh. Dù quy mô còn nhỏ, đây là tín hiệu ban đầu về các dự án có đồng lợi ích chống chịu, hấp thụ carbon và cải thiện môi trường.
 

image005-1782961347.png
Hình 5. Vốn đầu tư công và vốn đầu tư công cho ứng phó với BĐKH theo các lĩnh vực trong giai đoạn 2021-2024 của tỉnh Bắc Ninh

(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp)


3.5. Mức độ gắn kết của đầu tư công với chiến lược quốc gia về BĐKH và chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh

Nhằm xem xét mức độ phù hợp của danh mục đầu tư công khí hậu với các chính sách chiến lược quốc gia, từng dự án sau khi phân loại được đối chiếu với mục tiêu trong Chiến lược quốc gia về BĐKH và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thông qua hệ thống mã hóa mục tiêu. Việc đối chiếu được thực hiện theo phương pháp định tính có cấu trúc, dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra của dự án; kết quả chỉ phản ánh mức độ liên kết chính sách, không phải phép đo định lượng về đóng góp thực tế của từng dự án.

Giai đoạn 2021-2024, Bắc Ninh có 233/804 dự án liên kết với 2 mục tiêu thích ứng trong Chiến lược quốc gia về BĐKH, tổng vốn khoảng 1.830 tỷ đồng, chiếm 12% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn. Vốn đầu tư cho thích ứng nhìn chung có xu hướng giảm, bình quân khoảng 70 tỷ đồng/năm. Trong đó, Mục tiêu số 2 “Giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng do BĐKH” có 139 dự án, tổng vốn khoảng 1.450 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với Mục tiêu số 1 “Nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội, đảm bảo sinh kế bền vững”, với tổng vốn khoảng 379 tỷ đồng.

Đối với mục tiêu giảm nhẹ trong Chiến lược quốc gia về BĐKH, có 11 dự án liên kết với Mục tiêu số 3 “Có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất”, tổng vốn khoảng 56 tỷ đồng; và 12 dự án liên kết với Mục tiêu số 4 “Giảm phát thải khí nhà kính đối với các ngành, lĩnh vực”, tổng vốn khoảng 22 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy nhóm dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính còn chiếm tỷ trọng nhỏ, nhất là các hoạt động liên quan đến quản lý, trồng, bảo vệ rừng và các lĩnh vực phát thải thấp.

Đối với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Bắc Ninh có 32/804 dự án liên kết với các mục tiêu thích ứng, tổng vốn khoảng 141 tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn. Trong đó, 25 dự án liên kết với mục tiêu “Xanh hóa các ngành kinh tế”, vốn khoảng 114 tỷ đồng; 7 dự án liên kết với mục tiêu “Xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm, nâng cao năng lực chống chịu”, vốn khoảng 27 tỷ đồng; chưa ghi nhận dự án thích ứng liên kết với mục tiêu “Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững”.

Về giảm nhẹ trong Chiến lược tăng trưởng xanh, có 17 dự án liên kết với mục tiêu “Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững”, vốn khoảng 65 tỷ đồng; và 7 dự án liên kết với mục tiêu “Xanh hóa các ngành kinh tế”, vốn khoảng 16 tỷ đồng. Chưa ghi nhận dự án liên kết với mục tiêu “Giảm cường độ phát thải khí nhà kính” hoặc “Xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm” theo cách tiếp cận giảm nhẹ. Điều này cho thấy cần tăng cường tiêu chí lựa chọn và thiết kế dự án đầu tư công có đóng góp rõ hơn cho giảm phát thải khí nhà kính.

4. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy giai đoạn 2021-2024, tỉnh Bắc Ninh có nhiều dự án đầu tư công liên quan đến BĐKH, chủ yếu là các dự án thích ứng truyền thống trong lĩnh vực thủy lợi, tiêu thoát nước, đê điều, xử lý sạt lở, hạ tầng y tế và một số hạ tầng công cộng thiết yếu. Cơ cấu này phù hợp với nhu cầu bảo đảm an toàn dân sinh, duy trì dịch vụ công trước rủi ro thiên tai và tương đồng với các rà soát CPEIR trước đây, khi đầu tư khí hậu cấp địa phương thường tập trung vào thích ứng và hạ tầng chống chịu, còn các dự án giảm nhẹ hoặc chuyển đổi phát thải thấp khó nhận diện hơn nếu thiếu tiêu chí gắn mã và tỷ lệ chi tiêu khí hậu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015, 2022).

Mặc dù Bắc Ninh là địa phương có mức độ công nghiệp hóa cao, trong phạm vi dữ liệu đầu tư công giai đoạn 2021-2024, nhóm dự án liên quan trực tiếp đến giảm phát thải còn hạn chế. Kết quả này không phản ánh đầy đủ hiệu quả giảm phát thải của toàn bộ nền kinh tế địa phương, nhưng cho thấy cần bổ sung tiêu chí sàng lọc phát thải thấp trong các lĩnh vực như giao thông đô thị, công trình công cộng, hạ tầng năng lượng, xử lý chất thải và mua sắm công xanh, qua đó phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công trong huy động tài chính xanh và thực hiện mục tiêu khí hậu quốc gia.

Nghiên cứu cũng chỉ ra khó khăn lớn ở khâu thể chế hóa quy trình phân loại. Nhiều dự án có đóng góp cho BĐKH và tăng trưởng xanh nhưng không thể hiện rõ trong hồ sơ đầu tư, khiến việc nhận diện và theo dõi đầu tư khí hậu còn phụ thuộc vào rà soát thủ công. Do đó, cần chuyển từ cách “lồng ghép bổ sung” sang “lồng ghép cấu trúc”, coi BĐKH và tăng trưởng xanh là tiêu chí cốt lõi trong lựa chọn, ưu tiên và thiết kế dự án ngay từ đầu. Chỉ khi đó, đầu tư công mới thực sự đóng vai trò dẫn dắt phát triển theo hướng chống chịu và phát thải thấp.

5. Kết luận và kiến nghị

Giai đoạn 2021-2024, tỉnh Bắc Ninh có 233/804 dự án đầu tư công liên quan đến ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh, với tổng vốn khí hậu ước khoảng 1.895 tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng vốn đầu tư công toàn giai đoạn khoảng 15.290 tỷ đồng. Tỷ trọng vốn khí hậu biến động theo năm, lần lượt đạt 14,5% năm 2021, 20,0% năm 2022, 9,3% năm 2023 và 8,4% năm 2024, cho thấy quy mô đầu tư khí hậu đáng kể nhưng chưa ổn định, đặc biệt có xu hướng giảm trong hai năm cuối kỳ.

Phần lớn vốn đầu tư công khí hậu thuộc nhóm thích ứng với BĐKH, đạt khoảng 1.749,8 tỷ đồng, chiếm 92,3% tổng vốn khí hậu; chưa ghi nhận dự án chỉ có mục tiêu giảm nhẹ độc lập. Nhóm kết hợp thích ứng và giảm nhẹ đạt khoảng 145,8 tỷ đồng, chiếm 7,7%. 

Theo lĩnh vực, vốn đầu tư công khí hậu tập trung chủ yếu ở nông nghiệp và phát triển nông thôn, chiếm 76,3%; tài nguyên và môi trường chiếm 7,7%; giao thông vận tải chiếm 7,6%; và y tế chiếm 6,0%. Đây là các lĩnh vực gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với quản lý rủi ro thiên tai, hạ tầng chống chịu, tài nguyên nước, môi trường và dịch vụ xã hội thiết yếu.

Kết quả đối chiếu với các chiến lược quốc gia cho thấy danh mục dự án của Bắc Ninh có 233 dự án liên kết với hai mục tiêu thích ứng của Chiến lược quốc gia về BĐKH, tổng vốn khoảng 1.830 tỷ đồng; 23 lượt dự án liên kết với hai mục tiêu giảm nhẹ, tổng vốn khoảng 78 tỷ đồng; 32 dự án liên kết với hai mục tiêu thích ứng của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, vốn khoảng 141 tỷ đồng; và 24 lượt dự án liên kết với hai mục tiêu giảm nhẹ, vốn khoảng 81 tỷ đồng.

Để nâng cao hiệu quả quản trị và phân bổ đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh, nghiên cứu đề xuất ba nhóm kiến nghị chính: ưu tiên các lĩnh vực chịu rủi ro khí hậu cao và có nhu cầu đầu tư liên tục; chuẩn hóa quy trình gắn mã khí hậu, gán tỷ lệ chi tiêu khí hậu và tích hợp tiêu chí khí hậu trong lập kế hoạch - ngân sách; thiết lập cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá danh mục đầu tư công khí hậu theo năm, lĩnh vực và mục tiêu chiến lược. Đồng thời, cần đưa tiêu chí khí hậu vào các bước chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt, vận hành và đánh giá dự án; xây dựng bộ tiêu chí sàng lọc trước khi phê duyệt; kết nối dữ liệu dự án với hệ thống ngân sách/Tabmis và báo cáo chuyên ngành; kết hợp công nghệ số, dữ liệu khí hậu và dữ liệu không gian để nhận diện khu vực rủi ro cao, ưu tiên dự án chống chịu, theo dõi tiến độ và đánh giá đồng lợi ích về môi trường, kinh tế - xã hội và giảm phát thải.

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện dưới sự tài trợ của dự án “Xây dựng báo cáo đầu tư khí hậu về BĐKH và tăng trưởng xanh và báo cáo hướng dẫn đầu tư cho tăng trưởng xanh” của Viện Sinh thái và Môi trường dưới sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA).

Nguyễn Thị Liễu1, Phạm Văn Sỹ2, Lương Minh Ánh3, Lại Thị Thu Trà4, Nguyễn Đăng Tiến5

1 Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển

2Cục Biến đổi khí hậu

3Trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ

4 Đại Học RMIT Việt Nam

5 Trường Đại học Sao Đỏ

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt II/2026)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
[1]    Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[2]    Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021). Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
[3]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015). Báo cáo ngân sách cho ứng phó với BĐKH ở Việt Nam (CPEIR 2015). 
[4]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018). Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT ngày 16/7/2018 về việc ban hành Hướng dẫn phân loại đầu tư công cho BĐKH và tăng trưởng xanh.
[5]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022). Rà soát đầu tư và chi tiêu công cho BĐKH tại Việt Nam (CPEIR 2022). 
[6]    Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020 & 2022). Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam cập nhật (NDC). 
[7]    Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ ba của Việt Nam gửi Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH. 
[8]    Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014). Công văn số 990/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 24/3/2014 về việc hướng dẫn cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH. 
[9]    Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023). Thông tư số 06/2023/TT-BTNMT ngày 31/7/2023 hướng dẫn lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch.
[10]    Bộ Xây dựng (2017). Quyết định số 419/QĐ-BXD ngày 11/5/2017 về Kế hoạch hành động của ngành Xây dựng về tăng trưởng xanh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
[11]    Bộ Xây dựng (2017). Quyết định số 802/QĐ-BXD ngày 26/7/2017 về Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong công nghiệp xi măng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
[12]    Bộ Xây dựng (2018). Thông tư số 01/2018/TT-BXD ngày 5/1/2018 quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.
[13]    Bộ Xây dựng (2022). Quyết định số 385/QĐ-BXD ngày 12/5/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành Xây dựng ứng phó với BĐKH giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050 thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26.
[14]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Thông tư số 10/2023/TT-BKHĐT ngày 1/11/2023 quy định Bộ chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh.
[15]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Báo cáo thuyết minh Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. 
[16]    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Quyết định số 600/QĐ-BKHĐT ngày 7/4/2023 về việc ban hành Hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động và tích hợp tăng trưởng xanh vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các cấp. Hà Nội.
[17]    Chính phủ (2021). Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
[18]    Nguyễn Thị Tâm, Lê Cao Chiến (2022). Vật liệu xây dựng xanh - Xu thế của tương lai. Tạp chí điện tử của Bộ Xây dựng
[19]    Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19/1/2018 phê duyệt Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030.
[20]    UBND tỉnh Bắc Ninh (2019). Quyết định số 699/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của tỉnh Bắc Ninh.
[21]    Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 31/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020.
[22]    Thủ tướng Chính phủ (2021a). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. 
[23]    Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn đến năm 2050. 
[24]    Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 28/1/2022 về việc ban hành Hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH cấp quốc gia. 
[25]    Thủ tướng Chính phủ (2022c). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030. 
[26]    Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024 phê duyệt Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật). 
[27]    Thủ tướng Chính phủ (2024). Chỉ thị số 44/CT-TTg ngày 9/12/2024 về triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. 
[28]    Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018 phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030.
[29]    Thủ tướng Chính phủ (2021b). Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25/3/2021 phê duyệt Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021-2030.
[30]    Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050.
[31]    Thủ tướng Chính phủ (2021c). Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 26/3/2021 về đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong công trình xây dựng.
[32]    Thủ tướng Chính phủ (2021d). Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung tại Việt Nam đến năm 2030.
[33]    Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 17/3/2023 phê duyệt Lộ trình áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng.
[34]    UBND tỉnh Bắc Ninh (2023a). Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[35]    UBND tỉnh Bắc Ninh (2023b). Kế hoạch số 342/KH-UBND về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2050.
[36]    Vương Xuân Hòa, Đào Minh Trang, Nguyễn Thị Liễu (2025). Nghiên cứu đánh giá cường độ phát thải khí nhà kính trong ngành xây dựng tại các đô thị lớn của Việt Nam phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh. Tạp chí Môi trường chuyên đề IV/2025
[37]    Vương Xuân Hòa, Nguyễn Thị Liễu (2025). Tăng trưởng xanh trong lĩnh vực xây dựng, hướng tới mục tiêu giảm phát thải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tạp chí Môi trường số 10/2025
[38]    Viện Sinh thái và Môi trường (2025). Xây dựng báo cáo đầu tư khí hậu về BĐKH và tăng trưởng xanh và báo cáo hướng dẫn đầu tư cho tăng trưởng xanh.
Tiếng Anh:
[1]    Benedict M. A. & McMahon E. T. (2012). Green Infrastructure - Linking Landscapes and Communities.
[2]    Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC). (2021–2022). Climate Change 2021: The Physical Science Basis. Cambridge: Cambridge University Press.
[3]    http://sostenibilidadyprogreso.org/files/entradas/towards-green-growth.pdfOECD (2011). Towards Green Growth. Retrieved from http://sostenibilidadyprogreso.org/files/entradas/towards-green-growth.pdf.
[4]    UNDP (2015). Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH.
[5]    UNEP (2008). Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication. 
[6]    UNEP (2021). Chương trình Môi trường Liên hợp quốc. Vật liệu xây dựng và khí hậu: Xây dựng tương lai mới.

Đặt mua Tạp chí Môi trường