Theo Kết luận số 75-KL/TW, sau hơn 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện. Chính sách, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn hơn. Ứng phó với biến đổi khí hậu dần chuyển từ bị động sang chủ động. Công tác quy hoạch, quản lý, khai thác tài nguyên từng bước hiệu quả, bền vững hơn. Bảo vệ môi trường dần trở thành nội dung trọng tâm trong chính sách phát triển… Tuy nhiên, vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức lớn. Ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp; chất lượng môi trường không khí tại các đô thị lớn, nhất là ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chậm được cải thiện; tình trạng ô nhiễm tại các cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản và một số lưu vực sông, vùng ven biển chưa được kiểm soát hiệu quả… Những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do nhận thức, trách nhiệm của một số cấp uỷ đảng, chính quyền, người đứng đầu và ý thức của một bộ phận người dân, doanh nghiệp chưa đầy đủ; Việc thể chế hoá một số nội dung của Nghị quyết còn chậm, một số quy định chưa bảo đảm tính khả thi; Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu; quản lý còn phân tán theo địa giới hành chính, thiếu liên kết vùng, liên ngành…
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, tác động sâu rộng, đồng thời trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước, Đảng và Nhà nước ta giữ vững quan điểm:
Một là, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Bảo đảm nguồn lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế.
Hai là, phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước, đề cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân đối với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển; lấy việc bảo đảm môi trường sống an toàn, trong lành, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, sinh kế của mọi người dân làm mục tiêu cao nhất.
Ba là, quy hoạch, định hướng phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từ tư duy "đối phó thụ động" sang tư duy "ứng phó chủ động", từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.
Bốn là, chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.
Năm là, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những yếu tố quan trọng, động lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động, tích cực và tham gia có trách nhiệm các cơ chế hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Mục tiêu đến năm 2030, năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Đến năm 2045, Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Kết luận cũng nêu rõ 9 nhiệm vụ chủ yếu, gồm: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và nhân dân; Hoàn thiện thể chế, pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi; tăng cường kiểm tra, giám sát; Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; Tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường; chủ động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường sống; Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; phát triển kinh tế dựa trên dịch vụ hệ sinh thái, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên; Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai, nâng cao mức độ an toàn của người dân và nền kinh tế; Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp, tăng cường quản lý phát thải nhà kính; Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế…