Chuyển đổi tư duy: Từ ứng phó sang kiến tạo phát triển
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Đây là văn kiện mang ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển của Việt Nam.
Nếu trước đây công tác môi trường chủ yếu tập trung xử lý hậu quả và ứng phó với các vấn đề phát sinh, thì nay trọng tâm được chuyển sang chủ động phòng ngừa rủi ro, quản trị môi trường và kiến tạo mô hình phát triển xanh. Bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ riêng của ngành nông nghiệp và môi trường mà trở thành nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội.
Quan điểm xuyên suốt của Kết luận là lấy con người làm trung tâm, bảo đảm môi trường sống an toàn, trong lành, bảo vệ sức khỏe nhân dân, đồng thời hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn thiên nhiên và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Nguồn lực tài chính – đòn bẩy của chuyển đổi xanh
Một trong những điểm nổi bật của Kết luận số 75-KL/TW là yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Đây không chỉ là cam kết mạnh mẽ về nguồn lực tài chính mà còn đóng vai trò là "vốn mồi" để huy động các nguồn lực xã hội, tài chính xanh, nguồn vốn đầu tư tư nhân và các quỹ quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi xanh.
Song song với việc tăng đầu tư công, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi về tài chính, tín dụng, thuế và đất đai nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành phát thải các-bon thấp.

Những mục tiêu cụ thể đến năm 2030
Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 và mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, Việt Nam đặt ra nhiều chỉ tiêu định lượng quan trọng cho giai đoạn đến năm 2030:
- Về kinh tế: Kinh tế xanh phấn đấu đóng góp khoảng 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%.
- Về phát thải khí nhà kính: Giảm ít nhất 9% lượng phát thải so với kịch bản phát triển thông thường.
- Về chất lượng không khí: Các đô thị đặc biệt phải có ít nhất 80% số ngày trong năm đạt chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình,.
- Về quản lý rác thải: Tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại khu vực đô thị và 85% tại khu vực nông thôn.
Những mục tiêu này không chỉ phản ánh quyết tâm chính trị mà còn tạo cơ sở để xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình chuyển đổi xanh của quốc gia trong những năm tới.
9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Kết luận số 75-KL/TW xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu trong xác lập và triển khai mô hình phát triển mới.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát dựa trên mức độ rủi ro môi trường.
Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm bố trí tối thiểu 2% chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đồng thời mở rộng các cơ chế tài chính xanh và tín dụng xanh.
Thứ tư, tập trung xử lý các vấn đề môi trường bức xúc, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, ô nhiễm nguồn nước tại các lưu vực sông, hồ, kênh, mương, ô nhiễm tại làng nghề, khu và cụm công nghiệp; tăng cường phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh.
Thứ năm, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm; sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
Thứ sáu, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua xây dựng các kịch bản dài hạn, đầu tư hạ tầng có khả năng chống chịu cao trước thiên tai và nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm.
Thứ bảy, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính; ưu tiên phát triển giao thông xanh, đô thị xanh và kiểm soát phát thải ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư.
Thứ tám, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các công nghệ mới trong quan trắc môi trường, dự báo, kiểm kê khí nhà kính và nghiên cứu công nghệ thu giữ, lưu trữ các-bon.
Thứ chín, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế; chủ động tham gia các sáng kiến toàn cầu về khí hậu và môi trường; mở rộng ngoại giao môi trường và hợp tác giải quyết các vấn đề môi trường xuyên biên giới.
Mở ra kỷ nguyên phát triển xanh của Việt Nam
Kết luận số 75-KL/TW không chỉ là định hướng cho công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong giai đoạn mới mà còn thể hiện quyết tâm đưa phát triển xanh trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Việc dành tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ môi trường cùng với hệ thống chính sách đồng bộ về chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và đổi mới sáng tạo sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Đó cũng là bước đi chiến lược nhằm xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, có môi trường sống trong lành, hệ sinh thái được bảo tồn và chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, hướng tới khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.