Hoàn thiện thể chế thuế nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tại Việt Nam

Bài viết nhằm hệ thống thống hóa và phân tích hệ thống chính sách ưu đãi thuế mới nhất, trọng tâm là Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp 2025, Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tóm tắt

Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Bài viết nhằm hệ thống thống hóa và phân tích hệ thống chính sách ưu đãi thuế mới nhất, trọng tâm là Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp 2025, Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Qua đó, góp phần làm rõ các giải pháp tài chính đột phá nhằm tạo động lực cho các mô hình kinh tế mới, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam.

Từ khóa: Ưu đãi thuế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.

IMPROVING THE TAX INSTITUTION TO PROMOTE INNOVATION AND DIGITAL TRANSFORMATION IN VIETNAM

Abstract

With the Fourth Industrial Revolution unfolding rapidly worldwide, Resolution No. 57-NQ/TW has set forth urgent requirements for improving institutions to promote national innovation and digital transformation. This article aims to systematize and analyze the latest tax incentive policies, focusing on the Corporate Income Tax Law 2025, the Personal Income Tax Law 2025, and their implementing guidelines. Through this, the article contributes to clarifying breakthrough financial solutions to create momentum for new economic models, strengthen technological self-reliance, and develop high-quality human resources in Vietnam.

Keywords: Tax incentives, innovation, digital transformation, corporate income tax 2025.

JEL Classifications: Q58, Q55, Q50, P48.

1. MỞ ĐẦU

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Ban Chấp hành Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định vai trò then chốt của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng kinh tế bền vững. Hệ thống pháp luật tài chính, đặc biệt là chính sách thuế, với vai trò là "đòn bẩy" kinh tế đã kịp thời cụ thể hóa chủ trương này. 

Giai đoạn 2025-2026 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng khi Chính phủ và Quốc hội ban hành đồng bộ các đạo luật thuế mới. Những thay đổi này không chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh thuế suất mà còn thay đổi tư duy quản lý thuế: từ hỗ trợ dựa trên quy mô sang hỗ trợ dựa trên giá trị gia tăng và hàm lượng tri thức. Đặc biệt, các lĩnh vực chiến lược như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ nguồn đã được đặt vào vị trí ưu tiên đặc biệt với mức ưu đãi tiệm cận khung cao nhất của khu vực ASEAN.

2. ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP - TRUNG TÂM CỦA MÔ HÌNH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ

Ngoài việc tiếp tục duy trì các chính sách ưu đãi về thuế ở mức cao nhất trong khuôn khổ pháp luật về thuế đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, công nghệ cao Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật thuế số 67), còn bổ sung, mở rộng diện bao phủ sang các các mô hình và hoạt động kinh tế mới dựa trên nền tảng kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo nhằm tiếp tục thúc đẩy, phát triển các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước.

Đột phá trong quy định về chi phí và thu nhập miễn thuế 

Một trong những điểm mới nhất của Luật thuế số 67 là cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Theo Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp được phép tính vào chi phí được trừ tối đa không quá 200% chi phí thực tế cho R&D. Đây là bước đi mang tính đột phá, vượt xa mức khấu trừ thông thường, chưa từng có tiền lệ, là việc hiện thực hóa điều khoản "chi phí siêu khấu trừ” nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tự chủ công nghệ. 

Việc cho phép tính vào chi phí được trừ tối đa 200% chi phí thực tế cho R&D mang lại lợi ích kép: 

(i) Về mặt tài chính, giảm trực tiếp thu nhập chịu thuế, giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguồn vốn để tái đầu tư vào thiết bị thí nghiệm hoặc mua bản quyền công nghệ. 

(ii) Về mặt quản trị, khuyến khích doanh nghiệp minh bạch hóa các khoản chi cho khoa học công nghệ để được hưởng mức khấu trừ này. Bên cạnh đó, việc tăng mức trích lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ từ 10% lên 20% thu nhập tính thuế giúp các tập đoàn lớn có đủ dự trữ nguồn lực tài chính cho các dự án nghiên cứu dài hạn, giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng (theo Khoản 1 Điều 17 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định: “Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp”) [2].

Chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Luật thuế số 67 tiếp tục chú trọng vào chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến thương mại hóa:

Ưu tiên vùng sâu, vùng xa: Miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển giao công nghệ cho địa bàn đặc biệt khó khăn. Đối với địa bàn khó khăn, mức giảm là 50%. Đây là chính sách mang tính nhân văn, thúc đẩy sự đồng đều về trình độ công nghệ giữa các vùng miền.

Tập trung vào tính mới và tính ứng dụng: Miễn thuế tối đa 3 năm cho thu nhập từ các sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam và sản phẩm sản xuất thử nghiệm (bao gồm cả thử nghiệm có kiểm soát có kiểm soát theo quy định của pháp luật - Sandbox), thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu còn được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tài trợ nhận được từ doanh nghiệp không có quan hệ liên kết, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước để sử dụng cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; khoản hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước và từ Quỹ hỗ trợ đầu tư do Chính phủ thành lập (Khoản 8 Điều 4); qua đó tạo điều kiện khơi thông nguồn lực xã hội hóa cho nghiên cứu.

Ngoài ra, thu nhập của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận được miễn thuế theo quy định của Chính phủ (Khoản 5 Điều 17). Theo đó, các khoản tài trợ (Tài trợ phi lợi nhuận) nhận được để nghiên cứu khoa học từ các tổ chức không liên kết sẽ không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo cơ chế "vốn mồi" cho các phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo. 

Chiến lược thu hút các ngành công nghệ mũi nhọn

Luật thuế số 67 bổ sung quy định nhiều chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực khoa học công nghệ, trong đó ưu tiên, tập trung vào các ngành công nghệ mũi nhọn, cụ thể:

(i) Đối với dự án đầu tư mới (lần đầu) của doanh nghiệp: Thu nhập của doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, công nghệ chiến lược theo quy định của Luật Công nghệ cao. Cùng với đó, ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược theo quy định của Luật Công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm an ninh mạng và cung cấp dịch vụ an ninh mạng đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật về an ninh mạng; sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số trọng điểm, sản xuất thiết bị điện tử theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số; nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn; xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất (áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo). 

Đối với dự án thuộc đối tượng ưu đãi thuế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, công nghệ cao, công nghệ chiến lược có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 6.000 tỷ đồng, có ảnh hưởng lớn về kinh tế - xã hội cần đặc biệt khuyến khích thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm tối đa không quá 15 năm (tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không quá 30 năm). 

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện Dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất (không phân biệt dự án đầu tư mới hay mở rộng) đáp ứng các điều kiện: Có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 tỷ đồng và thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá 5 năm kể từ ngày được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư; Sử dụng công nghệ đáp ứng yêu cầu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất (áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo). Trường hợp đáp ứng một trong các tiêu chí: (i) Sản xuất sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh toàn cầu, doanh thu đạt trên 20.000 tỷ đồng/năm chậm nhất sau 5 năm kể từ khi có doanh thu từ dự án đầu tư; (ii) Sử dụng thường xuyên trên 6.000 lao động được xác định theo quy định của pháp luật về lao động; (iii) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật, bao gồm: Đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước, cầu, đường bộ, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bay, nhà ga, năng lượng mới, năng lượng sạch, công nghiệp tiết kiệm năng lượng, dự án lọc hóa dầu thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm tối đa không quá 15 năm (tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không quá 30 năm).

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện Dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật Đầu tư được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất (áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo). Đối với dự án đầu tư mới, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng giảm mức thuế suất ưu đãi và kéo dài thời gian miễn thuế, giảm thuế tối đa không quá 1,5 lần so với mức ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo (mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cao nhất là thuế suất 5% trong 37 năm, miễn thuế 6 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 13 năm tiếp theo) (theo Điểm b khoản 6 Điều 13).

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm công nghệ số khác được áp dụng thuế suất ưu đãi 17% trong 10 năm, miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

(ii) Đối với dự án đầu tư mở rộng của doanh nghiệp: Tại khoản 5 Điều 14 Luật thuế số 67 quy định doanh nghiệp có dự án đầu tư mở rộng sẽ áp dụng ưu đãi thuế (thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế) đối với phần thu nhập từ thực hiện đầu tư mở rộng theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) và không yêu cầu doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ đầu tư mới và thu nhập từ đầu tư mở rộng. Trường hợp dự án đang hoạt động đã hết thời gian hưởng ưu đãi, doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế (không ưu đãi về thuế suất) đối với phần thu nhập tăng thêm từ dự án đầu tư mở rộng theo thời gian miễn, giảm thuế của dự án đầu tư mới có cùng điều kiện về địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp mới phải hạch toán riêng thu nhập tăng từ đầu tư mở rộng để áp dụng ưu đãi thuế.

Theo đó, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 và Luật Công nghệ cao năm 2025 đã thiết lập một hệ tầng ưu đãi thuế suất đa tầng như sau:

Mức ưu đãi đặc biệt: Áp dụng thuế suất 5% cho các dự án đầu tư đặc biệt theo Điều 20 Luật Đầu tư. 

Kéo dài thời gian ưu đãi: Áp dụng thuế suất 5% trong tối đa 37 năm, miễn thuế 6 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 13 năm tiếp theo cho các dự án đầu tư đặc biệt theo Điều 20 Luật Đầu tư. Hay các dự án quy mô lớn (vốn trên 6.000 tỷ đồng hoặc 12.000 tỷ đồng đáp ứng tiêu chí doanh thu/lao động) có thể được kéo dài thời gian hưởng thuế suất 10% lên đến 30 năm.

Ưu đãi cho đầu tư mở rộng: Xóa bỏ rào cản hạch toán riêng thu nhập giữa đầu tư mới và đầu tư mở rộng, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tái đầu tư, mở rộng quy mô công nghệ.

Chiến lược tăng cường nguồn lực nội tại thông qua Quỹ phát triển khoa học công nghệ

Luật Thuế số 67 cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ (tăng gấp đôi so với mức 10% trước đây). Điều này tạo ra dư địa tài chính rất lớn để doanh nghiệp chủ động trong việc mua sắm công nghệ, đào tạo nhân lực và thực hiện các nhiệm vụ đổi mới sáng tạo.

Chiến lược nâng cao trình độ, năng lực cho nguồn nhân lực trong ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Liên quan đến hoạt động đầu tư cho giáo dục, đào tạo để góp phần nâng cao trình độ, năng lực cho nguồn nhân lực trong ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực, Luật Thuế số 67 quy định:

Áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đồng thời, trường hợp doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa giáo dục và đào tạo tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì được miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo; doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa giáo dục và đào tạo tại địa bàn khác thì được miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 5 năm tiếp theo.

Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với: Phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành; Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục. Đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện chi tài trợ cho giáo dục theo quy định thì cũng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chiến lược tự chủ công nghệ, ưu tiên nội địa hóa sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ cao

Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 có hiệu lực kể từ 1/7/2026 [4], trong đó đã sửa đổi, bổ sung nội dung chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược tại Luật Thuế số 67. Đây là sự phối hợp giữa Luật Thuế số 67 và Luật Công nghệ cao năm 2025 nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam, ưu tiên nội địa hóa trong các sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ cao, cụ thể như sau:

Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được áp dụng thuế suất ưu đãi 17% trong 10 năm, miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

3. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN - THU HÚT VÀ GIỮ CHÂN NHÂN TÀI CÔNG NGHỆ

Nhân lực luôn là linh hồn của hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Luật Thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật thuế số 109) [3] tập trung giảm gánh nặng thuế cho chuyên gia và nhà nghiên cứu thông qua các nhóm chính sách ưu đãi thuế như sau:

Miễn thuế tiền lương từ nhiệm vụ khoa học công nghệ 

Luật thuế số 109 đã bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, chuyên gia và nhà nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ được hưởng trọn vẹn thù lao mà không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Khởi nghiệp sáng tạo 

Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (Start-ups), nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.

Lĩnh vực chiến lược

Nhằm ngăn chặn tình trạng "chảy máu chất xám" trong các lĩnh vực cốt lõi, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực như Singapore, Đài Loan, Luật thuế số 109 đã bổ sung quy định miễn thuế trong thời hạn 5 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân:

(i) là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao làm việc tại các doanh nghiệp, dự án hoạt động công nghiệp công nghệ số trong khu công nghệ số tập trung; dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, chip bán dẫn, hệ thống trí tuệ nhân tạo; thu nhập từ các hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp công nghệ số. 

(ii) là nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

Sáng tạo và thương mại hóa

Luật thuế số 109 đã bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khi kết quả nhiệm vụ được thương mại hóa theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ;

4. THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU - TẠO HÀNH LANG THÔNG THOÁNG CHO VẬT TƯ CÔNG NGHỆ

Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (được sửa đổi, bổ sung tại theo Luật số 90/2025/QH15) và Nghị định số 182/2025/NĐ-CP đã mở rộng tối đa danh mục hàng hóa miễn thuế cho lĩnh vực khoa học công nghệ và chuyển đổi số:

Máy móc và tài liệu

Mở rộng quy định miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng. Không những vậy, tài liệu, sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ số cũng được miễn thuế nhập khẩu. Điều này cho thấy sự quan tâm sâu sắc đến việc cập nhật tri thức quốc tế.

Tạo tài sản cố định

Miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định cho cả dự án mới và dự án đầu tư mở rộng trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Cụ thể, Luật đã bổ sung quy định miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ số theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật về công nghiệp công nghệ số; dự án đầu tư bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng; 

Nguyên liệu sản xuất

Miễn thuế nhập khẩu 5 năm đối với nguyên liệu, linh kiện trong nước chưa sản xuất được để phục vụ sản xuất sản phẩm công nghệ số, sản phẩm công nghệ cao và hoạt động của các Trung tâm R&D, bao gồm:

Mở rộng quy định miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm, kể từ khi bắt đầu nghiên cứu, sản xuất đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất, nghiên cứu của tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo. 

Sửa đổi quy định miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ số; nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm của trung tâm nghiên cứu và phát triển.

Để quy định chi tiết các nội dung này, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 182/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất nhập khẩu. Nghị định số 182/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025.

Kết luận

Tóm lại, những sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách ưu đãi thuế giai đoạn 2025-2026 thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Các quy định về "siêu khấu trừ 200%", thuế suất 5% cho dự án đặc biệt và miễn thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhà khoa học là những công cụ tài chính sắc bén để thúc đẩy năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Tuy nhiên, để các chính sách này thực sự đi vào đời sống, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế Sandbox thuế cho các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới chưa có trong danh mục phân loại hiện hành; tăng cường phối hợp liên bộ (Tài chính - Khoa học và Công nghệ - Nông nghiệp và Môi Trường) để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực thi ưu đãi.

Trương Huỳnh Thắng

Phó cục trưởng Cục Quản lý giám sát chính sách thuế, phí, lệ phí

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 6/2026)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW về hoàn thiện thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

2. Quốc hội khóa XV, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.

3. Quốc hội khóa XV, Luật Thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15.

4. Quốc hội khóa XV, Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15.

5. Quốc hội khóa XV, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Hải quan, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, số 90/2025/QH15.

6. Chính phủ, Nghị định số 320/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

7. Chính phủ, Nghị định số 182/2025/NĐ-CP về biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi.

8. Bộ Tài chính, Thông tư số 87/2022/TT-BTC hướng dẫn về nghĩa vụ thuế khi doanh nghiệp trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

9. Bộ Khoa học và Công nghệ, Thông tư số 02/2022/TT-BKHCN hướng dẫn sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

Đặt mua Tạp chí Môi trường