Trong chương trình khảo sát công tác bảo vệ môi trường gắn với phát triển nông nghiệp bền vững tại Đà Nẵng, đoàn công tác Tạp chí Môi trường đã tìm hiểu mô hình sản xuất của Hợp tác xã nấm công nghệ Hòa Thọ Tây. Từ thực tiễn sản xuất, hợp tác xã đang cho thấy hiệu quả của việc kết hợp khoa học kỹ thuật với sử dụng hợp lý nguồn nguyên liệu nông nghiệp.
Từ 20 triệu đồng đến mô hình nấm công nghệ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Môi trường, ông Đào Huy Tùng, Chủ nhiệm Hợp tác xã nấm công nghệ Hòa Thọ Tây, chia sẻ rằng ông từng có 10 năm công tác trong lực lượng Hải quân. Sau khi rời quân ngũ vì lý do sức khỏe, trải qua nhiều công việc, năm 2017, ông quyết định khởi nghiệp với nghề trồng nấm rơm.

Với số vốn 20 triệu đồng và diện tích sản xuất ban đầu chỉ 30 m², ông Tùng gặp không ít khó khăn do phương pháp trồng nấm bán thủ công phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Những hạn chế đó thôi thúc ông tìm đến khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Năm 2021, mô hình phát triển lên quy mô khoảng 500 m² với sự tham gia của 5 thành viên, tạo tiền đề tổ chức sản xuất theo hình thức hợp tác xã. Đến năm 2024, đơn vị mở rộng thêm khoảng 2.500 m², tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động với thu nhập 8–10 triệu đồng/người/tháng. Năm 2026, hợp tác xã tiếp tục đầu tư cơ sở thứ hai rộng hơn 1.000 m².

Với sự hỗ trợ của ngành nông nghiệp và hệ thống khuyến nông Đà Nẵng, hợp tác xã từng bước ứng dụng kỹ thuật kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và hoàn thiện quy trình nuôi trồng.
Theo ông Tùng, sau khi cải tiến kỹ thuật, sản lượng nấm thu được từ một tấn nguyên liệu khô tăng từ khoảng 150 kg lên 200 kg, cao hơn khoảng 33% so với trước. Chất lượng và hình thức sản phẩm cũng được cải thiện.
Từ kinh nghiệm tích lũy, hợp tác xã đã chuyển giao kỹ thuật cho 4 cơ sở tại Quảng Ninh và Huế; đồng thời đang triển khai chuyển giao mô hình công nghệ cao trị giá trên 1 tỷ đồng tại Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh.
Ông Tùng nhấn mạnh, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi người sản xuất có kiến thức, kinh nghiệm và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Đó cũng là nguyên tắc ông duy trì trong suốt quá trình phát triển mô hình.
Mỗi tháng tận dụng 22–25 tấn phụ phẩm nông nghiệp
Không chỉ nâng cao năng suất, mô hình Hòa Thọ Tây còn đáng chú ý ở khả năng tạo thêm giá trị từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp.

Ông Đào Huy Tùng cho biết, trung bình mỗi tháng, hợp tác xã thu mua khoảng 22–25 tấn phụ phẩm nông nghiệp làm nguyên liệu trồng nấm rơm. Việc đưa nguồn nguyên liệu này vào sản xuất góp phần mở rộng khả năng sử dụng phụ phẩm sau thu hoạch, thay vì để chúng trở thành nguồn vật liệu dư thừa cần xử lý.
Đáng chú ý, hợp tác xã đang nghiên cứu hướng tận dụng giá thể sau trồng nấm nhằm tiếp tục kéo dài vòng đời nguyên liệu.

“Chúng tôi đã liên kết với Trung tâm Công nghệ Sinh học để nghiên cứu sản phẩm phân vi sinh. Thời gian tới, hợp tác xã sẽ tiếp tục nghiên cứu sử dụng phụ phẩm sau trồng nấm rơm làm giá thể trồng nấm sò hoặc sản xuất phân vi sinh”, ông Tùng chia sẻ.
Nếu được hoàn thiện và triển khai hiệu quả, giải pháp này có thể giúp giảm lượng phụ phẩm phải xử lý, tạo thêm sản phẩm có giá trị và từng bước hình thành chu trình sản xuất theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn.
Song song với đó, hợp tác xã duy trì vệ sinh khu vực sản xuất, hướng dẫn người lao động thực hiện các yêu cầu về môi trường và tổ chức thu gom rác thải định kỳ.
Từ thực tế Hòa Thọ Tây có thể thấy, giá trị của công nghệ không chỉ nằm ở năng suất, mà còn ở khả năng sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm lãng phí nguyên liệu và hướng tới sản xuất thân thiện với môi trường.
“Kỷ luật và Phát triển” – nền tảng cho chặng đường mới
Cùng với đổi mới kỹ thuật, Hợp tác xã nấm công nghệ Hòa Thọ Tây chú trọng xây dựng thương hiệu sản phẩm. Với sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng, nhãn hiệu tập thể “Nấm rơm Hòa Thọ Tây” từng bước được hình thành; sản phẩm đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao.

Trong định hướng phát triển, hợp tác xã dự kiến triển khai mô hình trồng nấm sò dưới tán cây trên diện tích khoảng 4.000 m² vào năm 2027, đồng thời tiếp tục nghiên cứu tái sử dụng phụ phẩm, mở rộng liên kết và chuyển giao kỹ thuật.
Nhìn lại hành trình 9 năm khởi nghiệp, từ xưởng nấm nhỏ tại gia đình đến mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ, ông Đào Huy Tùng đúc kết kinh nghiệm bằng phương châm “Kỷ luật và Phát triển”.
Với ông, phát triển sản xuất không chỉ là mở rộng quy mô hay gia tăng doanh thu, mà còn là giữ vững chất lượng sản phẩm, tạo việc làm cho người lao động và nâng cao trách nhiệm đối với môi trường.
Mô hình nấm rơm Hòa Thọ Tây cho thấy tiềm năng kết hợp ứng dụng khoa học công nghệ với khai thác hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp. Đây là hướng đi đáng quan tâm trong phát triển kinh tế tuần hoàn, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh và bền vững tại Đà Nẵng.