Phú Quốc là đô thị biển đảo, trung tâm du lịch có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, vừa sở hữu hệ sinh thái tự nhiên quý giá, vừa phải đối mặt với áp lực môi trường ngày càng gia tăng từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và du lịch. Việc xây dựng và vận hành hiệu quả các mô hình quản lý chất thải hiện đại tại Phú Quốc không chỉ phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của địa phương mà còn có ý nghĩa tham khảo, nhân rộng cho nhiều đô thị biển và hải đảo trên cả nước. Xuất phát từ yêu cầu đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao Cục Môi trường triển khai nhiệm vụ “Điều tra, xây dựng các mô hình khép kín thu gom, phân loại, tái sử dụng và xử lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nguy hại tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang”. Trong khuôn khổ nhiệm vụ, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt được xác định là một nội dung quan trọng nhằm từng bước hình thành cơ sở dữ liệu tập trung, tăng cường khả năng giám sát, kết nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý, đơn vị thu gom và cộng đồng dân cư. Hội thảo này không chỉ nhằm giới thiệu và hướng dẫn sử dụng phần mềm Grac, mà quan trọng hơn là cùng trao đổi, đánh giá tính phù hợp của mô hình quản lý số đối với điều kiện thực tiễn của Phú Quốc; nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai; đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình, bảo đảm khả năng vận hành ổn định, hiệu quả và bền vững trong thời gian tới.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe báo cáo về xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chất thải rắn trên thế giới và tại Việt Nam; Giới thiệu các chức năng, quy trình vận hành của phần mềm Grac... Đồng thời, Hội thảo còn trao đổi, thảo luận nhiều nội dung quan trọng liên quan đến thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt, những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý tại địa phương cũng như khả năng ứng dụng mô hình quản lý số trong điều kiện thực tiễn của Phú Quốc.
Những ý kiến phát biểu tâm huyết, trách nhiệm và có giá trị thực tiễn của các đại biểu không chỉ góp phần hoàn thiện phần mềm Grac mà còn cung cấp thêm cơ sở thực tiễn quan trọng để hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
Phát biểu chỉ đạo và kết luận Hội thảo, ông Vũ Đình Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm:
Một là, cùng thống nhất nhận thức rằng, ứng dụng công nghệ thông tin và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện hiệu quả các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong thời gian tới.

Hai là, đối với Chi cục Bảo vệ môi trường miền Nam và đơn vị tư vấn, đề nghị nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý của đại biểu tại Hội thảo; khẩn trương rà soát, hoàn thiện các chức năng của phần mềm, bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, dễ sử dụng, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và các nhóm đối tượng sử dụng. Đồng thời, tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để hoàn thiện cơ sở dữ liệu; tổ chức hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị tiếp nhận; xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng và duy trì đầu mối hỗ trợ trong suốt quá trình vận hành thử nghiệm nhằm kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Ba là, đề nghị UBND đặc khu Phú Quốc, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cùng các cơ quan, đơn vị được giao tiếp nhận hệ thống chủ động xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể; phân công đầu mối phụ trách, bố trí nhân lực phù hợp để tiếp nhận, quản lý và khai thác hiệu quả hệ thống. Đồng thời, quan tâm bố trí các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn kinh phí phù hợp để duy trì, vận hành hệ thống sau giai đoạn thử nghiệm; từng bước đưa ứng dụng công nghệ thông tin trở thành công cụ hỗ trợ thường xuyên trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn.

Bốn là, đề nghị các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông, các khu phố, tổ dân cư, đơn vị thu gom và các lực lượng tại cơ sở tiếp tục đồng hành cùng chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn người dân tham gia sử dụng ứng dụng; nâng cao nhận thức về phân loại chất thải tại nguồn, thực hiện nếp sống văn minh trong quản lý chất thải và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng đối với các hoạt động bảo vệ môi trường.
Năm là, trong quá trình triển khai, các cơ quan, đơn vị liên quan cần thường xuyên theo dõi, đánh giá hiệu quả vận hành của mô hình; kịp thời phản ánh các khó khăn, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, làm cơ sở để Cục Môi trường tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh mô hình và xem xét khả năng nhân rộng trong thời gian tới.
Có thể nói, việc triển khai thí điểm mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại đặc khu Phú Quốc không chỉ có ý nghĩa đối với riêng tỉnh An Giang mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để Cục Môi trường tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các mô hình quản lý chất thải hiện đại, phù hợp với định hướng chuyển đổi số và phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực môi trường. Với sự quan tâm, chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, đơn vị liên quan và sự đồng hành của cộng đồng dân cư, mô hình sẽ được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống, xây dựng Phú Quốc xanh, sạch, đẹp và phát triển bền vững.