Giá trị tài nguyên tự nhiên và hệ sinh thái của hệ thống đảo vùng biển Tây Nam; hướng tới phát triển bền vững

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng biển Tây Nam thuộc tỉnh An Giang có 143 đảo nhỏ [2], [6], trong đó Phú Quốc là đảo lớn nhất với diện tích hơn 573 km2 [6], [8], gần bằng Quốc đảo Singapore, đa số các đảo tập trung tạo thành 5 quần đảo chính. Hệ thống đảo biển ven bờ vùng biển Tây Nam có đặc điểm về tự nhiên và các hệ sinh thái rất đa dạng, mang tính địa phương, là kết quả của các quá trình tiến hóa địa chất, kiến tạo lâu dài. Đó thực sự là một tiêu chí của một “di sản địa chất”; các đảo ven bờ (ĐVB) vùng Tây Nam có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, cảnh quan với nhiều hệ sinh thái (HST) rất đặc trưng, đã tạo ra những lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế biển đảo. Nhưng phải có định hướng như thế nào để các đảo biển ở đây phát triển kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Từ khóa: Đảo ven bờ (ĐVB), hệ sinh thái (HST)

2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Thu thập các dữ liệu, tài liệu liên quan đến các đảo biển thuộc vùng biển An Giang, các văn bản liên quan đến chủ trương chính sách quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các xã đảo và các đặc khu.

Khảo sát thực địa đồng thời áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu môi trường sinh thái, cảnh quan địa lý và phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS).

Với quan điểm “bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn”, đồng thời sử dụng các tiêu chí của tổ chức Hải Dương Học (IOC) về quy phạm và nội dung nghiên cứu vùng biển đảo theo định hướng phát triển bền vững.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ khái niệm “Đảo ven bờ phân bố ở ven bờ biển trên thềm lục địa” (Từ điển địa chất) như vậy khái niệm đảo ven bờ được hiểu là đảo biển nằm trên thềm lục địa nghĩa là không kể các đảo tọa lạc ở vùng biển khơi xa trên sườn lục địa thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khái niệm ĐVB cũng được nêu trong các đề tài chương trình nghiên cứu các đảo thuộc hệ thống đảo ven bờ Việt Nam. Theo cách phân loại của UNESCO (1991), đảo có diện tích dưới 2.000 km2 là đảo nhỏ và có diện tích dưới 100 km2 là đảo rất nhỏ. Như vậy tất cả các ĐVB vùng biển Tây Nam thuộc tỉnh An Giang đều thuộc loại đảo nhỏ và rất nhỏ.

Các đảo biển khu vực này đều nằm trong vùng biển cạn với 143 đảo thuộc phía đông vịnh Thái Lan được hình thành cách đây khoảng 120 đến 140 triệu năm [2], [8] trong đó có 52 đảo có dân cư sinh sống [6], hệ thống ĐVB vùng biển An Giang nằm trong hệ thống ĐVB Việt Nam. Theo đề tài KT-03-12 (1995) tổng số ĐVB Việt Nam là 2.773 đảo [1], [2]. Hệ thống đảo ở vùng biển tây nam gợi lên hình ảnh giới hạn của một vùng biển Hạ Long thu nhỏ.

3.1. Giá trị về tự nhiên, cảnh quan, môi trường và hệ sinh thái của các đảo biển Tây Nam thuộc tỉnh An Giang

Với không gian phân bố trên vùng biển rộng lớn, ĐVB vùng biển An Giang thể hiện những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, đồng thời cũng sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, HST và cảnh quan rất đặc thù. Mặc dù bề mặt diện tích phần trên đảo rất nhỏ; tuy nhiên vùng biển xung quanh lại rộng lớn và cũng rất nhiều tiềm năng, nguồn lợi đặc biệt với những HST rất đặc trưng như rạn san hô, thảm cỏ biển. Tính đa dạng hầu như bao trùm hầu hết các yếu tố tự nhiên như địa chất, địa mạo, khí hậu động thực vật, còn về tài nguyên thiên nhiên của ĐVB ở đây chính là HST vùng triều và biển nông quanh đảo, ngoài ra giá trị về vị thế là yếu tố trội được xem là tài nguyên vị thế.

3.1.1. Vị trí địa lý chính là tài nguyên vị thế to lớn, quan trọng của hệ thống ĐVB của vùng biển An Giang: Từ vị trí địa lý của các Đảo đã tạo ra những lợi ích được liệt kê

3.1.1.1. Những lợi ích từ vị trí không gian của các ĐVB vùng biển An Giang

a. Vị trí địa lý các đảo: Nằm trong đới nội chí tuyến gió mùa do vậy thế giới sinh vật nhiệt đới phát triển vô cùng phong phú và đa dạng, điển hình nhất là đảo biển Phú Quốc với hệ thực vật là 1.164 loài, hệ động vật hoang dã với 150 loài, HST san hô với 252 loài, thảm cỏ biển khoảng 10 loài. HST san hô và thảm cỏ biển ở đây với diện tích hơn 100 km2 mang tính đa dạng sinh học lớn nhất so với san hô và thảm cỏ biển trong cả nước và đặc biệt hơn trong thảm cỏ biển này có nhiều loài thú biển quý hiếm như Dugong, cá Heo… [2], [4].

b. Hệ thống ĐVB An Giang sở hữu nhiều cảnh quan, HST đa dạng độc đáo: Nhờ quá trình ngoại sinh đặc thù của vùng nhiệt đới là nguồn gốc của các cảnh quan đảo biển như Karst nhiệt đới (địa hình đá vôi) như ở: Hòn Phụ Tử, Hang Tiền, Hòn Nghệ, Hải Tặc,… những hình thù độc đáo, các hang động được xem là những thắng cảnh hấp dẫn của các đảo; những bãi cát thạch anh trắng như ở: bãi Khem, bãi Trường, bãi Ông Lang (Phú Quốc); bãi Chén (Hòn Tre); bãi Ngự (Hòn Sơn Rái),…

c. Hệ thống ĐVB An Giang có vị trí tiền tiêu biên giới trên biển. Mở rộng đường biên giới biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế vùng biển, cửa khẩu, giao thông và dịch vụ quốc tế. Ngoài ra hình thành đường cơ sở thẳng xác định vùng nội thủy, vùng đặc quyền kinh tế.

Một số ĐVB An Giang là cơ sở để xác định đường biên giới quốc gia trên biển và vùng chồng lấn với các nước láng giềng như Hòn Đốc (quần đảo Hải Tặc), phía bắc đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu có vai trò phân định đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia.

Quần đảo Thổ Chu cũng góp phần xác định vùng chồng lấn trên thềm lục địa giữa Việt Nam với Thái Lan, Malaysia, Indonesia.

Quần đảo Thổ Chu có Hòn Nhạn (Hòn Hàng) chính là điểm A1 trong 11 điểm về đường cơ sở dùng để tính toán và xác định chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Như vậy do sự hiện hữu vị trí của các đảo biển này mà lãnh thổ Việt Nam được mở rộng ra phía biển hàng trăm ngàn km2, là một tài sản vô giá chứa đựng bao nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế biển, đồng thời tạo được vị thế về chính trị và quốc phòng rất to lớn [2], [9].

Các ĐVB An Giang là tiền đồn vững chắc trên biển, là những chiến hạm không thể đánh chìm, bảo vệ an ninh Tổ quốc, biên giới Tây Nam như Phú Quốc, Thổ Chu.

d. Các ĐVB An Giang cũng là trung tâm kinh tế vùng biển, cửa khẩu thương cảng giao thông và dịch vụ quốc tế như Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, An Thới (phía Nam đảo Phú Quốc) chính là các cửa ngõ vươn ra vịnh Thái Lan, cũng là vị trí cửa ngõ của đất liền như vậy đã xóa được quan niệm xem các Đảo biển là vùng sâu vùng xa. Trên đảo Phú Quốc hiện nay đã có sân bay quốc tế và đang được mở rộng thêm và đã thiết lập nhiều đường bay thẳng đến nhiều Quốc gia bạn. Hệ thống cảng biển quốc tế cũng đã hình thành ở An Thới (Phú Quốc) và đang hình thành cảng biển quốc tế tại đảo Nam Du.

e. Các ĐVB An Giang là một phần nguồn lực cho phát triển kinh tế, đa số các đảo đặc biệt là đảo Phú Quốc sẽ là những trung tâm du lịch, dịch vụ lớn. Nhiều Đảo có thế mạnh về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, với nhiều nghề truyền thống; nhiều Đảo phát triển ngành dịch vụ biển, dịch vụ hậu cần nghề cá như đảo Thổ Chu.

3.1.1.2. Những lợi ích mang lại từ cách sắp xếp, phân bố ĐVB An Giang

Các ĐVB An Giang tương đối rải đều trên vùng biển, phân bố cách nhau trên dưới 30km (trừ Thổ Chu), sự phân bố tự nhiên này tạo nhiều lợi ích cho triển khai quản lý bảo vệ vùng biển; cho việc nghiên cứu khi có thiên tai, dịch họa; cho triển khai các dịch vụ biển.

Các ĐVB An Giang có nét riêng đó là quy tụ thành những cụm để trở thành quần đảo, trong mỗi cụm có 1, 2 đảo với diện tích đủ lớn làm hạt nhân gồm 5 quần đảo chính là Nam Du, Thổ Chu, Bà Lụa, An Thới – Phú Quốc, Hải Tặc; việc tạo thành cụm cũng thuận lợi cho quần cư và tổ chức hành chính, hình thành các trung tâm xã đảo và đặc khu.

Ngoài những đảo làm hạt nhân cho từng cụm đảo, thì đảo biển Phú Quốc lại có vai trò trung tâm cho toàn thể ĐVB vùng biển Tây Nam. Phú Quốc là đảo biển lớn nhất trong hệ thống ĐVB Việt Nam, là “hòn đảo ngọc” của vịnh Thái Lan.

Có 3 đảo chắn ngoài cửa vịnh Rạch Giá, hợp thành 3 đỉnh cao là Tre – Rái – Nghệ (Hòn Tre, Hòn Sơn Rái, Hòn Nghệ) tạo thành những bức tường tự nhiên ổn định khí hậu cho đất liền, tạo điểm nhấn cho vùng biển Tây Nam có một tam giác độc đáo, hùng tráng.

Có những ĐVB An Giang phân bố sát bờ như các đảo ở gần Hà Tiên, Kiên Lương có quan hệ gắn chặt với đất liền nên phát triển tốt về kinh tế, giao lưu văn hóa, ít chịu gió bão hơn các Đảo bên ngoài.

Nhiều ĐVB An Giang phân bố khá xa bờ như Thổ Chu có ưu thế tuyệt đối để xác định chủ quyền quốc gia trên biển; xác định được đường biên giới biển; vùng lãnh hải và vùng đặc thù kinh tế. Ngoài ra nhóm đảo này thường phân bố cạnh các ngư trường lớn tạo điều kiện cho dịch vụ hậu cần nghề cá, dầu khí, hàng hải, thương mại, cảng trung chuyển, tạo ra mạng lưới du lịch biển đa dạng. Trong tương lai một số đảo như: Phú Quốc, Thổ Chu sẽ trở thành cảng trung chuyển quốc tế quan trọng.

3.1.1.3. Những lợi ích từ giá trị hình thể của các ĐVB An Giang

Các hình thể đa dạng là đặc điểm của địa mạo ĐVB khu vực này tùy thuộc vào cấu tạo nham thạch và các quá trình nội ngoại sinh thể hiện rõ sự phân dị của địa hình; hình thể đặc thù các ĐVB An Giang là căn cứ để định vị trên biển, nhờ đó các tàu thuyền có thể nhận ra nhằm xác định tuyến giao thông, vị trí bến cảng, xác định vị trí của tàu… như Hòn Anh Đông (An Thới) là mục tiêu để nhận biết cho các tàu đi từ hướng Cà Mau về Phú Quốc; hình thái đặc thù như một mặt bàn của đảo Thổ Chu là điểm nhận biết cho các tàu đi lại trong đường hàng hải Bangkok – Kongpongxom – Singapore.

3.1.1.4. Hình thể đặc thù các ĐVB An Giang tạo điều kiện lớn cho bảo vệ an ninh quốc phòng và che chắn gió bão, bảo vệ cho các Đảo khác

 Đặc điểm sơn văn đảo Phú Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho bố trí lực lượng an ninh quốc phòng; phần Bắc và Đông Bắc đảo Phú Quốc có các dãy núi nhô sát ra bờ biển (núi Chao 382m, núi Hàm Rồng 386m, dải Hàm Ninh 565m…) rất thuận lợi về địa hình để phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc phòng cho hệ thống ĐVB tỉnh An Giang. Đặc biệt địa hình phía Nam và Tây Nam của đảo Phú Quốc là đồng bằng và đồi núi thấp rất thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng (sân bay, đô thị); mặt khác chiều dài Bắc Nam đảo Phú Quốc là 50km cộng với địa hình Phú Quốc cao hơn các đảo nhỏ khác trong vùng biển An Giang, đây chính là lá chắn tự nhiên vững chắc bảo vệ cho các quần đảo ở phía trong (Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du).

Hình thể ĐVB An Giang là căn cứ hình thành địa danh, các truyền thuyết, nhiều tác phẩm văn thơ, hội họa, nhiếp ảnh tạo ra những nét văn hóa, làm phong phú thêm đời sống tinh thần cư dân trên đảo và xã hội (Phụ Tử, Sơn Rái…).

3.1.2. Các ĐVB An Giang với di sản địa chất phong phú:

Đây là những đặc trưng về địa chất đảo biển cần được bảo tồn, có giá trị lớn về cổ sinh, về các loại nham thạch, về địa tầng và kiến tạo gồm:

- Các điểm hóa thạch thực vật tuổi Neozen ở bờ biển rìa Bắc và Đông Bắc đảo Phú Quốc; đá Granite (hoặc hoa cương) ở Hòn Sơn Rái.

- Cuội kết, các kết phân lớp xiên chéo ở Hòn Rỏi, quần đảo An Thới và trên đảo Phú Quốc.

- Mỏ Huyền ở đảo Phú Quốc.

- Quan hệ không chỉnh hợp giữa thành tạo De-von-Carbon và Permi hạ trung đã thành tạo những đảo biển bằng đá vôi như hòn Phụ Tử, Kiến Vàng, Đá Dựng, Đồi Mồi, Lô Cốt, Đầu Rùa (phía Bắc Hòn Nghệ),… đó là những di sản Caxtơ rất ít gặp ở vùng biển Tây Nam cụ thể được thấy ở khu vực biển Hà Tiên, Kiên Lương; các đảo đá vôi này bị xâm thực mãnh liệt tạo ra dáng vẻ bề ngoài thì kỳ vĩ, lạ mắt, có đảo nhìn giống như một cổ thành, có đảo nhìn giống một vọng đài nhô cao trên mặt biển xanh khoảng từ 3 – 40 mét; bên trong các đảo này thì tạo ra những hang động với những khối thạch nhũ đa dạng. Địa hình đá vôi ở đây gợi lên một vấn đề về đảo biển của nước ta đó là được khởi đầu bằng những đảo địa hình, địa mạo đá vôi tuyệt đẹp ở vịnh Hạ Long. Sau một khoảng không gian xa cách trên 1.000 Km chúng ta mới gặp lại những đảo biển có hình dạng đá vôi (caxtơ) tại vùng biển Tây Nam vịnh Thái Lan. Dạng địa hình này có một hạn chế là dễ bị biến đổi, bị hủy hoại do nhiều tác động của tự nhiên làm mất đi vẻ đẹp nguyên thủy, như thắng cảnh hòn Phụ Tử đến nay đã mất hòn Cha.

3.1.3. Tài nguyên của các ĐVB An Giang không nhiều và việc khai thác sẽ là vấn đề nhạy cảm:

Khoáng sản trên các Đảo chỉ là các điểm quặng, việc khai thác sẽ dẫn đến hệ quả làm suy thoái nhanh môi trường và các HST vốn rất mong manh, khó bề khôi phục; khi khai thác phải sử dụng một lượng lớn năng lượng và nước ngọt… ngoài ra còn làm mất thắng cảnh, kỳ quan, rừng ở bên trên. Các điểm quặng và những điểm khoáng sản là những điểm du lịch rất hấp dẫn để du khách tham quan, tìm hiểu thu nhặt mẫu vật.

3.1.4. Địa hình các ĐVB An Giang là một tài nguyên quý giá:

Các Đảo càng lớn thì số lượng địa hình có nguồn gốc khác nhau càng nhiều, đây là việc phân dị địa hình của tự nhiên từ xa xưa, đã tạo cho sự đa dạng của địa hình. Có một quy luật chung cho các Đảo là “sườn bất đối xứng” [2], [4]. Điển hình như ở đảo Phú Quốc sườn các núi phía Đông hẹp và dốc, ngược lại sườn Tây lại thoải. Một quy luật khác tất cả sườn đảo hướng về phía sóng biển mạnh trong năm đều là những sườn dốc và hẹp hơn sườn phía đối diện.

3.1.5. Điều kiện khí hậu trên các ĐVB An Giang có những khó khăn:

Các Đảo tuy có điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thực vật nhiệt đới, nhưng sóng gió lại gây nhiều trở ngại cho cuộc sống trên đảo và việc nuôi trồng thủy sản; do vậy, người dân phải thích ứng với tự nhiên bằng cách di chuyển nơi cư trú và hệ thống nuôi thủy sản phù hợp theo từng mùa, đây là kinh nghiệm cuộc sống trên đảo. Điều kiện thuận lợi của khí hậu trên các đảo biển đó là khai thác rất tốt nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió, đồng thời cũng phát triển tốt về du lịch.

3.1.6. Thổ nhưỡng và tài nguyên đất trên các ĐVB An Giang cũng rất hạn hẹp:

Tầng đất mặt trên các đảo nhỏ rất mỏng và thường xuyên bị rửa trôi làm nghèo chất dinh dưỡng của thổ nhưỡng. Vì vậy, khi sử dụng đất cần có định hướng bảo vệ môi trường, cần bảo vệ lớp phủ thực vật trên bề mặt.

3.1.7. Tài nguyên nước trên các ĐVB An Giang rất quý giá và rất ít

Nước là tài nguyên rất quan trọng đối với các đảo biển; trữ lượng nước nhiều thường có ở các đảo lớn vì được che phủ của thực vật. Đa số các Đảo diện tích nhỏ nên dòng chảy trên mặt rất hạn chế và không có khả năng giữ nước. Tuy nhiên, Phú Quốc là đảo biển lớn nhất của hệ thống ĐVB An Giang và cả nước, có trữ lượng nước ngọt cao nhất, với lượng mưa gần 3.000 mm/năm và rừng nguyên sinh trên Đảo; do vậy Phú Quốc được thiên nhiên ban tặng 03 hệ thống sông dài trên 10 km, 05 suối lớn, diện tích lưu vực trên 10 km2. Đây là đặc điểm thủy văn khác biệt của Phú Quốc so với các ĐVB vùng biển Tây Nam và hệ thống ĐVB của Việt Nam.

3.1.8. Tài nguyên sinh vật trên các ĐVB An Giang là nguồn vốn quý của các đảo để hình thành Vườn Quốc gia và các Khu Bảo tồn

Rừng là lá chắn bảo vệ cuộc sống trên đảo để điều hòa khí hậu, độ ẩm, giữ được nguồn nước, tạo điều kiện cho các HST trên đảo và dưới biển cùng phát triển. Đảo biển Phú Quốc với diện tích lớn, không gian rộng nên hệ thực vật rất phong phú, tạo ra HST rừng nguyên sinh nhiệt đới, là sinh cảnh của các hệ động vật hoang dã; hệ động thực vật trên các ĐVB An Giang thích nghi tốt với môi trường và có tính đặc thù, đặc hữu cao; sở hữu khu rừng nhiệt đới này cũng là một điểm nhấn, điểm trội của thiên nhiên Phú Quốc. Tài nguyên sinh vật trên đa số các đảo nhỏ của An Giang hạn chế thì ngược lại tài nguyên vùng biển xung quanh các đảo lại rất phong phú.

Khu vực biển ở đây đã được công nhận thuộc Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang (trước sáp nhập); vùng biển đảo Phú Quốc, An Thới, Nam Du là hệ thống khu bảo tồn biển chủ yếu là HST rạn san hô và thảm cỏ biển.

3.1.9. Hệ thống các ĐVB An Giang có tài nguyên xã hội nhân văn và tài nguyên du lịch phong phú đa dạng

Cảnh quan kỳ thú do đa dạng địa hình tạo ra những thắng cảnh khác nhau.

Các bãi tắm dài, đẹp, chất lượng cao đều được thấy trên nhiều Đảo của khu vực. HST trên đảo và vùng biển xung quanh rất đa dạng sinh học là cơ sở để phát triển du lịch, thích hợp cho các hoạt động tham quan, thể thao và nghỉ dưỡng.

Hoạt động sản xuất trên các Đảo là những đối tượng hấp dẫn khách du lịch tham quan, như các làng nghề, làng chài, các nhà thùng nước mắm, nuôi hải sản, làm mỹ nghệ từ các sản phẩm biển, vườn tiêu…

Trên các ĐVB An Giang còn có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, nhiều lễ hội truyền thống, nhiều truyền thuyết về dấu ấn lịch sử còn ghi lại, nhiều làng nghề truyền thống và ẩm thực trên các đảo rất đặc trưng, như: dấu ấn của Vua Gia Long và quân thần, anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Hiện nay, trên nhiều ĐVB An Giang đã có hệ thống lưới điện được truyền tải từ đất liền ra, cũng tạo điều kiện để các đảo biển phát triển.

3.2. Những vấn đề môi trường cần quan tâm trên ĐVB An Giang

3.2.1. Xói mòn bờ đảo:

Quá trình phá hủy bờ đảo của sóng biển luôn vượt hơn so với quá trình tích tụ mà hệ quả là diện tích các đảo có xu thế nhỏ dần. Nguyên nhân của hiện trạng này là từ yếu tố thiên nhiên; tuy nhiên chính con người là một yếu tố đã thúc đẩy làm tăng tốc độ xói lở bờ đảo như: việc tác động vào rừng, sườn núi, khai thác khoáng sản; như ở các đảo Phú Quốc, Sơn Rái, Nam Du…

3.2.2. Nước ngọt trên đảo bị cạn kiệt và ô nhiễm:

Cư dân trên các đảo nhỏ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt, nhất là vào mùa khô hạn việc sử dụng nước ngầm, nước ngọt, nước biển để chế biến thủy sản và phát triển du lịch góp phần gây ra hiện tượng ô nhiễm chất hữu cơ, nước ngầm bị nhiễm mặn như ở một số đảo Phú Quốc, hòn Tre, hòn Sơn Rái…

3.2.3. Đất thoái hóa:

Đất bị rửa trôi mạnh do vậy nghèo chất dinh dưỡng. Trong quá khứ trên nhiều đảo người dân đã đốt phá rừng làm nương rẫy, trồng tiêu, cây ăn trái do vậy đất bị thoái hóa; khi năng suất cây trồng giảm, đất bỏ hoang thành đất trống, đồi trọc, được gọi là HST sau nương rẫy và hậu quả đã tồn tại đến bây giờ.

3.2.4. Các HST đảo biển bị suy thoái rõ rệt:

Nhiều diện tích rừng trên đảo bị suy giảm cả về chất và lượng, nhiều loài thú có nguy cơ bị diệt vong. Nguồn lợi vùng biển xung quanh đảo bị khai thác hủy diệt dẫn đến cạn kiệt tài nguyên biển, như giảm các HST rạn san hô, thảm cỏ biển. Đây cũng là nguyên nhân ô nhiễm môi trường biển.

3.2.5. Ô nhiễm môi trường trên đảo và vùng biển xung quanh các đảo:

Cư dân trên đảo vẫn còn thói quen đổ rác thải và nước sinh hoạt thẳng xuống biển hoặc gần bãi biển nên đã gây ra ô nhiễm môi trường. Việc quản lý vệ sinh môi trường tại các cơ sở sản xuất trên đảo, các khu du lịch vẫn còn bất cập; thiếu hệ thống xử lý và thiếu hoạt động thu gom; rác thải còn thấy nhiều ở các bãi tắm.

Vẫn còn xảy ra hoạt động đánh bắt, chế biến gần các điểm du lịch việc này cũng gây ra ô nhiễm môi trường trên bờ và dưới biển, làm mất mỹ quan, gây mùi hôi

Du khách vẫn chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường chung.

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

Nhận rõ được chân dung và đặc điểm về tự nhiên, môi trường và HST của các đảo trong hệ thống ĐVB An Giang và vùng biển quanh đảo có quan hệ hữu cơ. Mặc dù phần đất nổi và phần biển thuộc 2 HST tương đối độc lập nhưng có quan hệ chặt chẽ trong quá trình bóc mòn, xói lở, tích tụ sóng và dòng chảy. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên sinh vật biển đảo là những nhân tố chính cho định hướng phát triển của toàn đảo như lập cảng nước sâu, phục vụ giao thông trung chuyển, dịch vụ nghề cá, khu nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch…

Đảo biển là đơn nguyên cảnh quan địa chất địa mạo, là một HST hoàn chỉnh, có rừng, có biển với bãi cát trải dài, cảnh quan đảo biển hùng tráng, khí hậu trong lành, tài nguyên đa dạng và phong phú, không gian rộng lớn vô tận, là nguồn lực dồi dào cho sự phát triển và làm chỗ dựa để đạt mục tiêu về nhu cầu vật chất, tinh thần cho con người. Mỗi đảo có những nét riêng, có cấu tạo khác nhau, song lại có một điều chung là phát triển kinh tế sinh thái đặc biệt là phát triển về du lịch sinh thái, đây cũng là tiền đề để giữ gìn được môi trường cảnh quan của các Đảo nhưng vẫn đảm bảo cho phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng.

Đảo biển là những HST rất quý giá cho phát triển kinh tế biển và hải đảo, tuy nhiên các HST đảo biển rất mong manh, dễ bị suy thoái và rất khó phục hồi nên phát triển kinh tế đảo biển phải dựa trên cơ sở của kinh tế sinh thái là hướng đi để hướng tới phát triển bền vững cho hệ thống ĐVB An Giang và cả nước.

Mục tiêu phát triển bền vững hệ thống đảo biển là vấn đề mang tính chiến lược hiện nay “chất biển” phải trở thành yếu tố trội trong phát triển kinh tế.

Phú Quốc đã được chọn để tổ chức Hội nghị APEC – 2027, đây là một diễn đàn kinh tế, ngoại giao với sự tham dự của 21 nền kinh tế thành viên, chiếm 47% giá trị thương mại thế giới, 60% GDP toàn cầu. Sở dĩ, Phú Quốc được chọn để tổ chức Hội nghị vì đảo biển Phú Quốc có (1) vị trí chiến lược, là tâm điểm của vịnh Thái Lan; (2) nỗ lực xây dựng hạ tầng; (3) đạt chuẩn về an ninh. Đây là cơ hội để Phú Quốc chuyển mình thành trung tâm tài chính, dịch vụ và du lịch cấp cao.

Hội nghị APEC có tác động rất lớn đến Phú Quốc để “hòn đảo ngọc” này có cơ hội bứt phá thành viên ngọc của Việt Nam, hứa hẹn tạo ra những giá trị mới cho Phú Quốc và nền kinh tế Việt Nam.

4.2. Kiến nghị

Cần đề ra những giải pháp về thể chế chính sách, các giải pháp về khoa học công nghệ, kinh tế, giáo dục, thông tin tuyên truyền, cụ thể để tiến tới sử dụng tài nguyên các ĐVB An Giang theo định hướng phát triển bền vững và quảng bá hình ảnh Phú Quốc.

Tiếp tục nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đến các ĐVB An Giang, nghiên cứu sử dụng năng lượng sạch và công nghệ xử lý chất thải phù hợp trên các ĐVB An Giang; chú ý bảo vệ và phát triển thảm thực vật trên các Đảo.

Du khách đến với các Đảo ngày càng nhiều phải chú ý đến sức tải môi trường sinh thái.

Cần giữ gìn nét nguyên sơ của cảnh quan, HST trên các Đảo, đặc biệt là các bãi tắm, rừng nguyên sinh. Đây cũng là điểm nhấn của du lịch sinh thái.

Ứng dụng nhiều biện pháp để lưu trữ nguồn nước ngọt trên các Đảo, đặc biệt đủ lượng nước để sử dụng trong mùa khô hạn./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Đức An (1995): Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội. Hệ thống đảo ven bờ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển. Báo cáo tổng hợp Đề tài KT.03.12 lưu trữ Viện Địa Lý.
  2. Lê Đức An (2008). Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam tài nguyên và Phát triển, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. Viện KH & CN Việt Nam.
  3. Trương Minh Chuẩn, Nguyễn Tác An (2001). Đánh giá tổng hợp tài nguyên môi trường và cảnh quan địa lý đối với phát triển DLST của một số đảo ở vùng biển Tây Nam thuộc tỉnh Kiên Giang. Kỷ yếu HTKT Biển Đông – 2000 NXB Nông nghiệp.
  4. Trương Minh Chuẩn (2001). Nghiên cứu đánh giá đặc điểm tài nguyên môi trường và cảnh quan địa lý của một số đảo thuộc vùng biển Kiên Giang để phục vụ phát triển bền vững DLST. Luận văn Cao học Chuyên ngành: Bảo vệ và sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên. ĐHKHXH & NV, ĐHQG TP.HCM.
  5. Lê Đức Tố và cộng sự (2005). Luận chứng khoa học về một số mô hình phát triển kinh tế sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam, Chương trình KC-09, Bộ KH&CN.
  6. Cục thống kê Kiên Giang (2008). Niên giám thống kê 2008, Tỉnh Kiên Giang
  7. Quyết định 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/10/2004. V/v Phê duyệt Đề án Phát triển Tổng thể Đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và Tầm nhìn đến năm 2020.
  8. UBND tỉnh Kiên Giang (1999). Đề án chiến lược phát triển kinh tế biển huyện đảo và ven biển tỉnh Kiên Giang đến năm 2010
  9. Vụ TT&HTQT (2004 – 2005). Tài liệu tuyên truyền biển đảo 2004 -2005. Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế, Ban TTVH TW, Hà Nội tháng 05/2004
  10. Sở TNMT Kiên Giang (2010). Báo cáo thống kê diện tích rừng phòng hộ ven biển đến năm 2010.
TS.Trương Minh Chuẩn, Quân Vương

Đặt mua Tạp chí Môi trường