Từ khoá: Dịch vụ hệ sinh thái, Khu dự trữ sinh quyển, phúc lợi rừng, miền Tây Nghệ An.
DEVELOPMENT OF ECOSYSTEM SERVICES IN THE WESTERN NGHE AN BIOSPHERE RESERVE
Abstract
The Western Nghe An Biosphere Reserve (WNABR) is the largest terrestrial biosphere reserve in Vietnam, covering an area of up to 1,299,795 hectares (WNABR Management Board, 2026). This biosphere reserve holds immense potential for the development of ecosystem services. This paper comprehensively analyzes five core categories of ecosystem services in the region (provisioning, regulating, cultural, supporting, and indigenous knowledge services), while integrating advanced perspectives on forest welfare within the WNABR. By extensively evaluating the biodiversity resources alongside the wealth of traditional ecological knowledge from six ethnic minority groups, the paper highlights the transition from a mindset of mere timber extraction to the optimization of the multiple values of forests. Analytical results demonstrate the massive potential of forest therapy models, environmental education, carbon credit markets, and community-based ecotourism in ensuring sustainable livelihoods for over one million local residents.
Keywords: Ecosystem services, Biosphere reserve, forest welfare, Western Nghe An.
JEL Classifications: O13, Q56, Q57, Q58.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với những thách thức chưa từng có từ biến đổi khí hậu (BĐKH) và suy thoái môi trường, hệ sinh thái rừng không còn đơn thuần được nhìn nhận như một kho gỗ để khai thác kinh tế. Tư duy quản trị tài nguyên đang chứng kiến một cuộc chuyển đổi mô hình mạnh mẽ, hướng tới việc tiếp cận và phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng (Phạm, Ngô, & Nông, 2019). Trong đó, phúc lợi rừng (Forest Welfare) được xem như là một cách tiếp cận và giải pháp toàn diện cho bảo vệ và phát triển rừng. Lần đầu tiên được thể chế hóa trong Đạo luật Xúc tiến Phúc lợi rừng của Hàn Quốc, khái niệm này khẳng định rừng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh tế - xã hội và đặc biệt là tinh thần, gắn liền với toàn bộ vòng đời của con người, từ khi còn là thai nhi qua các liệu pháp chăm sóc trước sinh, quá trình phát triển của trẻ nhỏ, đến các hoạt động rèn luyện thể chất lúc trưởng thành và cuối cùng là các công viên tưởng niệm khi nhắm mắt xuôi tay (Phạm Hồng Long, n.d.). Tại Việt Nam, dù khái niệm phúc lợi rừng chưa được chính thức luật hóa, nhưng nội hàm của nó đã và đang được thực hành sâu rộng thông qua các cơ chế Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), du lịch sinh thái và bảo tồn văn hóa.
KDTSQ MTNA, được UNESCO công nhận vào năm 2007, là một địa bàn lý tưởng cho việc khai thác DVHST và phúc lợi rừng. Trải rộng trên 9 huyện/thị (theo địa giới trước đây) với 3 vùng lõi cốt yếu (Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt), nơi đây không chỉ là thủ phủ của đa dạng sinh học mà còn là không gian sinh tồn của hơn 1 triệu đồng bào các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu và Đan Lai (UBND tỉnh Nghệ An, 2023). Bài viết phân tích hiện trạng 05 nhóm DVHST tại KDTSQ MTNA, từ đó mở ra định hướng tích hợp các giá trị này vào hệ thống phúc lợi rừng, nhằm kiến tạo một tương lai phát triển bền vững và nhân văn cho khu vực.
2. Dịch vụ hệ sinh thái tại KDTSQ Miền Tây Nghệ An
Hệ sinh thái tại KDTSQ MTNA cung cấp 05 nhóm dịch vụ thiết yếu, duy trì sự sống và sự thịnh vượng cho khu vực miền Tây xứ Nghệ:
2.1. Dịch vụ cung cấp
Rừng miền Tây Nghệ An là mẹ thiên nhiên che chở và cung cấp nguồn tài nguyên vật chất trực tiếp cho cộng đồng. Ngoài trữ lượng gỗ lớn, giá trị cốt lõi hiện nay nằm ở Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và dược liệu dưới tán rừng.
Tài nguyên Tre, Mét, Lùng: Khu vực này sở hữu hệ thống rừng lùng thuần loài tự nhiên lên tới 80.874 ngàn cây, chiếm gần 100% trữ lượng lùng của toàn tỉnh (UBND tỉnh Nghệ An, 2023). Những mô hình phục tráng rừng mét tại các xã Tam Quang, Tam Thái hay rừng lùng tại xã Thông Thụ đã chứng minh hiệu quả kinh tế vượt trội. Chỉ riêng năm 2023, xã Tam Quang đã khai thác gần 937.000 cây mét, mang về gần 15 tỷ đồng cho cộng đồng (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Kho tàng dược liệu quý hiếm: Đa dạng sinh học đã ban tặng cho nơi đây một thảm dược liệu khổng lồ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, VQG Pù Mát có tới 1.120 loài cây dược liệu, Khu BTTN Pù Huống có 831 loài, và Khu BTTN Pù Hoạt có 412 loài (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Những loài đặc hữu mang giá trị kinh tế và y học cực cao đang được bảo tồn và nhân giống như Sâm Puxailaileng, Trà hoa vàng Pù Hoạt (loài mới cho khoa học), Ba kích tím, Cát sâm và Mú từn (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Nguồn nước: Mạng lưới sông suối dày đặc (sông Cả, Nậm Nơn, Nậm Mộ) không chỉ cung cấp thủy sản bản địa mà còn là mạch máu vận hành 25 dự án thủy điện (trong đó 23 dự án đang hoạt động), đảm bảo an ninh năng lượng cho khu vực (UBND tỉnh Nghệ An, 2023).
2.2. Dịch vụ điều tiết
Rừng miền Tây Nghệ An đóng vai trò điều hoà khí hậu và lá phổi bảo vệ cho toàn bộ vùng hạ du Bắc Trung bộ.
Điều hòa khí hậu và lưu trữ carbon: Với hàng trăm ngàn hecta rừng lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao, thảm thực vật nơi đây hấp thụ hàng triệu tấn CO2. Giá trị này đã được vật chất hóa thông qua Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung bộ (ERPA). Tính đến năm 2025, tỉnh Nghệ An đã tiếp nhận trên 356 tỷ đồng từ ERPA, tiến hành chi trả trực tiếp cho hơn 31.000 chủ rừng và cộng đồng, biến nỗ lực giữ rừng thành nguồn tài chính bền vững (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Điều tiết nguồn nước và chống thiên tai: Hệ thống rễ cây khổng lồ của các khu rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh trên núi đá vôi giúp điều tiết dòng chảy mặt, giữ nước vào mùa khô và hạn chế tối đa nguy cơ lũ quét, sạt lở đất trong mùa mưa bão tại các huyện có địa hình dốc như Kỳ Sơn, Tương Dương (UBND tỉnh Nghệ An, 2023).
2.3. Dịch vụ văn hóa
Dịch vụ văn hóa là chiếc cầu nối hệ sinh thái với tâm hồn con người. KDTSQ MTNA là nơi hội tụ của các nền văn hóa đặc sắc:
Không gian sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội: Rừng là phông nền cho các di sản phi vật thể như Lễ hội Hang Bua (Quỳ Châu), Lễ hội Đền Chín Gian (Quế Phong), Lễ hội Đền Pu Nhạ Thầu (Kỳ Sơn) (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Cảnh quan thẩm mỹ và du lịch: Các danh thắng hùng vĩ như đỉnh núi Pu Xai Lai Leng, Thác Khe Kèm (Con Cuông) cao hơn 500m, rừng Săng lẻ cổ thụ tuyệt đẹp tại Tam Đình (Tương Dương) hay sông Giăng thơ mộng đã trở thành thỏi nam châm thu hút du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
2.4. Dịch vụ hỗ trợ
Đa dạng sinh học và nguồn gen: Đây là môi trường sống của 3.632 loài thực vật bậc cao và 1.473 loài động vật hoang dã. Sự hiện diện của các loài linh trưởng nguy cấp (Voọc chà vá), Voi châu Á, Sao la, hay các quần thể thực vật cổ đại như Sa mu dầu, Bách xanh, Pơ mu là minh chứng rõ nét nhất cho chức năng duy trì nguồn gen đặc hữu mang tầm quốc tế của khu vực (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Chu trình dinh dưỡng: Các hệ sinh thái rừng già duy trì chu trình phân giải mùn bã hữu cơ, tái tạo độ phì nhiêu cho đất, ngăn chặn sa mạc hóa và suy thoái đất (UBND tỉnh Nghệ An, 2023).
2.5. Dịch vụ tri thức bản địa
Khác với các hệ sinh thái nhân tạo, rừng tự nhiên tại miền Tây Nghệ An cung cấp một dịch vụ vô hình nhưng mang sức mạnh to lớn: Nền tảng hình thành Tri thức sinh thái bản địa.
Triết lý sống dựa vào tự nhiên: Người Thái có các khu rừng thiêng (đông căm), rừng nghĩa địa được bảo vệ nghiêm ngặt bằng luật tục Hịt khoong bản Mường. Người Khơ Mú, Ơ Đu, Đan Lai tin vào ma rừng, từ đó cấm chặt cây to ở đầu nguồn và có quy ước phân chia thịt thú rừng công bằng nhằm tránh tận diệt tài nguyên (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Thích ứng với biến đổi khí hậu: Hệ thống canh tác Phai - Mương - Cọn nước của người Thái, kỹ thuật canh tác Rừng - rẫy - rừng tái sinh của người Mông, hay kinh nghiệm dự báo thời tiết qua việc quan sát mây, gió và tiếng chim là những bài học vô giá giúp cộng đồng ứng phó với thiên tai ở những vùng có địa hình chia cắt mạnh (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
3. Dịch vụ hệ sinh thái và mối liên hệ với phúc lợi rừng
Khái niệm phúc lợi rừng đưa con người vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái, biến các DVHST thành các gói chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần. Tại KDTSQ MTNA, tiềm năng phát triển 05 loại hình phúc lợi rừng là rất rõ rệt:
3.1. Dịch vụ liệu pháp rừng (Tắm rừng - Shinrin-yoku)
Bầu không khí trong lành của rừng nguyên sinh Pù Mát, Pù Hoạt chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi do cây cối tiết ra (phytoncide). Việc đi dạo, hít thở và thực hành thiền định dưới tán rừng đã được khoa học chứng minh giúp con người giảm huyết áp, xoa dịu hệ thần kinh giao cảm, giảm căng thẳng và gia tăng lượng tế bào miễn dịch NK (Natural Killer) chống lại bệnh tật (Phạm Hồng Long, n.d.). Sự kết hợp giữa không gian rừng và các bài thuốc xông lá, ngâm chân thảo mộc của người Thái/Mông chính là một sản phẩm liệu pháp rừng độc đáo (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
3.2. Dịch vụ giáo dục môi trường
Rừng miền Tây Nghệ An là một lớp học thực địa rộng mở về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái. Những mô hình giáo dục học đường như đưa học sinh tham quan VQG Pù Mát, hay việc tổ chức dạy học song ngữ Việt - Mông lồng ghép kiến thức bảo vệ thiên nhiên tại huyện Kỳ Sơn giúp trẻ em và thanh thiếu niên xây dựng ý thức bảo tồn ĐDSH từ sớm (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
3.3. Dịch vụ văn hóa rừng
Phúc lợi này thỏa mãn nhu cầu tâm linh và kết nối cội nguồn. Không gian kiến trúc nhà sàn truyền thống, nghề dệt thổ cẩm nổi tiếng ở bản Hoa Tiến, hay tiếng khèn, điệu múa trong lễ hội Xăng Khan là những liệu pháp tinh thần giúp con người xua tan áp lực của đô thị hóa (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
3.4. Dịch vụ nghỉ dưỡng, giải trí
Dịch vụ này đã được hiện thực hóa qua các điểm du lịch sinh thái cộng đồng. Điển hình như tại bản Nưa, bản Khe Rạn (Con Cuông) hay các tour du thuyền trên sông Giăng. Du khách được sống chậm lại, trải nghiệm cấy lúa, nơm cá, hái chè và thưởng thức đặc sản cơm lam Kẻ Quạ, cá Mát sông Giăng, mang lại sự phục hồi tâm lý sâu sắc (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
3.5. Dịch vụ thể thao trong rừng
Rừng núi hiểm trở ở Pù Hoạt, Pù Huống là cơ hội lý tưởng để phát triển các môn thể thao mạo hiểm (adventure tourism) ít tác động tiêu cực đến sinh thái, như: đi bộ xuyên rừng (jungle trekking), chạy địa hình, chinh phục đỉnh Pù Xai Lai Leng, hay chèo thuyền kayak qua các ghềnh thác. Hoạt động này giúp rèn luyện thể lực và mang lại cảm giác chinh phục thiên nhiên (Phạm Hồng Long, n.d.)
4. Tài chính sinh thái và động lực bảo tồn từ dịch vụ môi trường rừng
Một trong những thành tựu mang tính bước ngoặt trong thập kỷ qua tại Khu DTSQ MTNA là việc chuyển đổi thành công các DVHST vô hình thành những con số tài chính hữu hình, mang lại nguồn thu trực tiếp cho người dân. Khái niệm phúc lợi rừng tại đây không chỉ dừng lại ở giá trị tinh thần, mà đã trở thành bát cơm, manh áo, giúp đồng bào các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu, Đan Lai yên tâm giữ rừng.
4.1. Quỹ dịch vụ môi trường rừng (PFES)
Sự hiện diện của hệ thống sông suối dày đặc tại lưu vực sông Cả (bao gồm sông Nậm Nơn, Nậm Mộ, sông Hiếu, sông Giăng) với 25 dự án thủy điện (trong đó 23 dự án đã đi vào hoạt động như Bản Vẽ, Khe Bố, Hủa Na, Bản Ang, Nậm Pông...) đã tạo ra nguồn thu khổng lồ từ dịch vụ điều tiết nguồn nước (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Theo thống kê, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Nghệ An (chủ yếu chi trả cho khu vực miền Tây) đã chứng kiến sự tăng trưởng phi mã, tăng 720% từ mức 52,3 tỷ đồng (năm 2017) lên tới 376,9 tỷ đồng (năm 2025) (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
Tổng luỹ kế giai đoạn 2017-2025, nguồn thu này đạt hơn 1.432 tỷ đồng. Trong đó, thủy điện đóng góp phần lớn với hơn 1.022 tỷ đồng, dịch vụ hấp thụ carbon đóng góp 393,4 tỷ đồng, và điều tiết nguồn nước sinh hoạt đóng góp 16,5 tỷ đồng (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Nhờ nguồn tài chính này, diện tích rừng được bảo vệ có hưởng DVMTR đã tăng thêm 341.893,15 ha, đạt mức 570.000 ha vào năm 2026. Mức tiền công bảo vệ rừng dao động từ 400.000 - 800.000 đồng/ha/năm đã giải quyết việc làm cho hơn 23.000 lao động nhàn rỗi, giúp họ gắn bó máu thịt với sự nghiệp bảo vệ đại ngàn (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
4.2. Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính (ERPA)
Không chỉ dừng lại ở DVMTR truyền thống, Khu DTSQ MTNA đang tiên phong trong việc nắm bắt xu thế toàn cầu về thị trường tín chỉ carbon (Phạm, Ngô, & Nông, 2019). Thông qua Nghị định số 107/2022/NĐ-CP, việc thực hiện ERPA vùng Bắc Trung bộ đã mang lại nguồn tài chính đột phá.

Tính đến tháng 9/2025, tỉnh Nghệ An đã tiếp nhận hơn 356 tỷ đồng từ ERPA. Điều đáng nói là nguồn tiền này được chi trả trực tiếp cho 34.612 chủ rừng (quản lý 747.194,36 ha rừng), phần lớn nằm trọn trong 65 xã thuộc Khu DTSQ MTNA. Trong năm 2025, đã có 418 cộng đồng dân cư tham gia nhận khoán bảo vệ rừng với kinh phí hỗ trợ hơn 81 tỷ đồng (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Đối với những hộ gia đình người Mông ở Na Ngoi hay người Thái ở Môn Sơn, khoản tiền 500.000 đồng/ha/năm từ ERPA không chỉ là sự hỗ trợ vật chất, mà còn là sự công nhận của quốc tế đối với những giọt mồ hôi họ đã đổ xuống để bảo vệ lá phổi xanh của Trái đất.
5. Những áp lực và thách thức sinh thái
Dù có những bước tiến dài trong việc chi trả tài chính sinh thái, Khu DTSQ MTNA vẫn đang đứng trước những thử thách sinh tử. Áp lực từ phát triển kinh tế cực đoan, biến đổi khí hậu và sự mong manh của sinh kế bản địa đang tạo ra thử thách lớn.
5.1. Suy thoái đất đai và chất lượng rừng
Mặc dù độ che phủ rừng đạt mức rất ấn tượng là 69,07% vào năm 2025 (tăng 2,77% so với 2017) (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026), nhưng chất lượng rừng lại là một bài toán đau đầu. Phân tích dữ liệu cho thấy có tới 825.366 ha (chiếm 84% diện tích đất có rừng) nằm trong tình trạng rừng nghèo (43%), rừng nghèo kiệt (17%) hoặc chưa có trữ lượng (24%) (UBND tỉnh Nghệ An, 2023).
Bên cạnh đó, quá trình thoái hóa đất đang diễn ra trên bình diện rộng với 125.478 ha đất bị thoái hóa, trong đó 39% ở mức độ rất nghiêm trọng (UBND tỉnh Nghệ An, 2023). Các khu vực như xã Na Ngoi, Nậm Càn (Kỳ Sơn), Nga My, Tam Đình (Tương Dương), Thông Thụ (Quế Phong) có địa hình đồi núi dốc, khi kết hợp với tập quán phát nương làm rẫy truyền thống đã khiến lớp đất màu mỡ bị rửa trôi, kéo theo thảm thực vật suy kiệt, trực tiếp đe dọa đến chức năng dịch vụ hỗ trợ (tuần hoàn dinh dưỡng) của hệ sinh thái.
5.2. Phân mảnh sinh cảnh từ thủy điện và hạ tầng
Sự hiện diện của 23 Nhà máy thủy điện đang hoạt động (như Bản Vẽ, Khe Bố, Nậm Pông, Xóong Con...) mang lại nguồn thu lớn nhưng cũng tác nhân gây biến đổi hệ sinh thái (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Việc tích nước lòng hồ làm chìm ngập hàng ngàn hecta rừng tự nhiên ven sông, làm thay đổi hoàn toàn chế độ thủy văn của sông Cả và sông Hiếu. Cùng với đó, mạng lưới giao thông (Quốc lộ 7A, 48C) đã chia cắt các hành lang sinh thái tự nhiên.
Hệ lụy trực tiếp là sự cô lập của các quần thể động vật nguy cấp. Ví dụ, quần thể Voi châu Á (Elephas maximus) tại VQG Pù Mát hiện chỉ còn khoảng 12-13 cá thể, bị chia cắt thành các đàn nhỏ lẻ ở Cao Vều, Khe Kèm và Tương Dương (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), còn được gọi là kỳ lân châu Á, hiện chỉ còn ghi nhận khoảng 1-2 cá thể trong những sinh cảnh biệt lập, đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cận kề. Các loài linh trưởng như Khỉ cộc và Khỉ vàng đang phải cạnh tranh sinh tồn kịch liệt trong những dải rừng ngày càng bị thu hẹp (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
5.3. Ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu
Miền Tây Nghệ An là một trong những rốn bão và tâm hạn hán của miền Trung. Những năm gần đây, BĐKH đã đẩy các hiện tượng thời tiết cực đoan lên mức khốc liệt. Năm 2019, toàn tỉnh trải qua 7 đợt nắng nóng gay gắt, gây hạn hán nghiêm trọng, làm suy kiệt dòng chảy mùa khô của hệ thống sông ngòi (UBND tỉnh Nghệ An, 2023).
Ngược lại, trong mùa mưa bão, tình trạng sạt lở diễn ra kinh hoàng. Chỉ tính riêng dọc bờ sông Nậm Mộ, Nậm Nơn và sông Cả, đã ghi nhận 55 điểm xói lở; đặc biệt trên sông Hiếu đoạn qua thị trấn Tân Lạc (Quỳ Châu) có tới 140 điểm xói lở (UBND tỉnh Nghệ An, 2023). Những trận lũ quét sạt lở này không chỉ cuốn trôi nhà cửa, hoa màu của người dân mà còn làm suy thoái nghiêm trọng cấu trúc hệ sinh thái thủy vực.
6. Phúc lợi rừng gắn với tri thức bản địa
Trước những áp lực và thách thức lớn, việc phát triển các DVHST không thể tách rời khỏi việc bảo tồn văn hóa và tri thức sinh thái bản địa. Đây là chìa khóa để phát triển các dịch vụ phúc lợi rừng mang tính đặc trưng của miền Tây Nghệ An.
6.1. Kinh tế dưới tán rừng và dược liệu truyền thống
Thay vì khai thác gỗ, các cộng đồng đang chuyển hướng sang phát triển kinh tế dưới tán rừng. Khu DTSQ MTNA sở hữu một kho báu với 962 loài cây và nấm làm thuốc (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026). Các tri thức chữa bệnh bằng thảo mộc của người H'Mông (sử dụng hoàng đằng, hà thủ ô chữa xương khớp) hay người Thái đang được khoa học hóa và thương mại hóa.
Các mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng đã được triển khai đồng bộ: Trồng Bảy lá một hoa tại Tam Thái, Na Ngoi; Bách bộ tại Châu Khê; hay các vườn ươm dược liệu tại Yên Hòa, Nga My. Điển hình như việc phát hiện và nhân giống loài Trà hoa vàng Pù Hoạt (loài mới cho khoa học) hay Sâm Puxailaileng. Những mô hình nông - lâm kết hợp này đã giúp thu nhập của các hộ dân tham gia tăng trung bình 25,1%, tạo ra chuỗi giá trị bền vững và mang lại phúc lợi sức khỏe cho cả người trồng lẫn người tiêu dùng (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
6.2. Du lịch sinh thái - sức khỏe (Wellness ecotourism)
Mô hình du lịch tại miền Tây Nghệ An đang dịch chuyển từ việc chỉ tham quan cảnh quan sang trải nghiệm phúc lợi rừng kết hợp văn hóa bản địa. Những điểm đến như Thác Khe Kèm, sông Giăng, hay đỉnh Pù Xai Lai Leng đang được quy hoạch để phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ liệu pháp rừng.
Du khách đến với bản Nưa, bản Xiềng (Con Cuông) hay bản Hoa Tiến (Quỳ Châu) không chỉ được chiêm ngưỡng nghề dệt thổ cẩm, thưởng thức rượu cần, cơm lam, cá Mát sông Giăng, mà còn được ngâm mình trong các bài thuốc lá xông của đồng bào dân tộc. Đây là sự giao thoa hoàn hảo giữa Dịch vụ văn hóa (bản sắc dân tộc) và Dịch vụ điều tiết (không khí trong lành), mang lại giá trị phục hồi thể chất và tinh thần to lớn (Ban quản lý Khu DTSQ MTNA, 2026).
7. Giải pháp chiến lược và đề xuất chính sách phát triển bền vững
Để giải quyết bài toán xung đột giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển kinh tế, đồng thời hiện thực hóa triết lý phúc lợi rừng, việc quản lý KDTSQ MTNA cần có những giải pháp lớn về cả thể chế lẫn thực tiễn triển khai. Cụ thể:
7.1. Đột phá về thể chế và hành lang pháp lý
Thực tế cho thấy, những rào cản pháp lý đang làm hạn chế khả năng phát huy giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng.
Cần khẩn trương bổ sung, sửa đổi Nghị định số 156/2018/NĐ-CP theo hướng cho phép xây dựng các công trình thân thiện với môi trường phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí ngay trong rừng mà không làm thay đổi mục đích sử dụng đất rừng. Đây là chìa khóa để thu hút đầu tư tư nhân vào các dịch vụ liệu pháp rừng (tắm rừng) và nghỉ dưỡng chữa lành.
Đối với những khu vực người dân bản địa đã sinh sống lâu đời sâu trong vùng lõi, cần nghiên cứu chuyển đổi đất ở, đất sản xuất để họ an cư lạc nghiệp. Ngược lại, cần nhanh chóng nâng cấp các xã vùng đệm có giá trị ĐDSH cực kỳ cao và đặc sắc (như Tam Hợp, Na Ngoi, Nậm Càn, Đồng Văn) lên thành khu vực rừng đặc dụng để có chính sách ưu tiên bảo tồn nguồn gen nguy cấp.
7.2. Tối ưu hóa cơ chế tài chính sinh thái
Mức thu từ DVMTR hiện nay còn chưa tương xứng với giá trị khổng lồ mà hệ sinh thái mang lại.
Cần đề xuất điều chỉnh nâng mức thu tiền DVMTR để bù đắp chi phí cơ hội cho người giữ rừng. Cụ thể: tăng mức thu từ Thủy điện (từ 36 lên 50 đồng/Kwh), Nước sạch (từ 52 lên 60 đồng/m3) và Sản xuất công nghiệp (từ 50 lên 60 đồng/m3). Đồng thời, cần mở rộng đối tượng thu phí sang các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái có sử dụng cảnh quan rừng.
Ưu tiên phát triển thị trường tín chỉ carbon. Rừng tự nhiên tại đây có tiềm năng lưu trữ và giảm phát thải khoảng 40 triệu tấn CO2 mỗi năm, tương đương quy mô tài chính lên tới 4.000 tỷ đồng/năm. Cần nhanh chóng hoàn thiện quy định về quyền sở hữu các-bon rừng theo Nghị định số 107/2022/NĐ-CP để chủ động tìm kiếm các đối tác thương mại quốc tế, biến MTNA thành trung tâm cung cấp tín chỉ các-bon hàng đầu cả nước.
7.3. Phục hồi sinh thái và quản trị ứng dụng công nghệ
Cần thiết lập hành lang đa dạng sinh học nhằm chấm dứt tình trạng phân mảnh sinh cảnh, cần khẩn trương thực hiện quy hoạch hành lang xanh kết nối 3 vùng lõi (VQG Pù Mát - KBTTN Pù Huống - KBTTN Pù Hoạt) và thiết lập hành lang xuyên biên giới với nước bạn Lào (khu Nam Chouane - Nam Sang). Đây là giải pháp sống còn để các loài thú lớn như Sao la, Voi châu Á có không gian di cư và duy trì nòi giống.
Triển khai khoanh vùng và ưu tiên phục hồi 72.122,8 ha rừng đang bị suy thoái nằm trên 23 xã vùng đệm và hành lang sinh thái. Trong công tác quản trị, bắt buộc phải số hóa cơ sở dữ liệu, ứng dụng đồng bộ công nghệ tin học, viễn thám GIS, bẫy ảnh hồng ngoại, thiết bị bay không người lái và phần mềm FORMIS để giám sát biến động tài nguyên rừng theo thời gian thực.
7.4. Phát triển sinh kế dựa vào hệ sinh thái và tri thức bản địa
Bảo tồn chỉ thực sự bền vững khi đời sống của người dân địa phương được ấm no. Do vậy cần:
Áp dụng mạnh mẽ cơ chế hợp tác Công - Tư (PPP) thông qua sự liên kết chặt chẽ của 4 nhà: Nông dân (cung cấp tư liệu sản xuất) - Doanh nghiệp xã hội (tiêu thụ) - Nhà khoa học (hỗ trợ kỹ thuật) - BQL Khu DTSQ (quản lý, bảo vệ).
Khuyến khích mô hình trồng cây dược liệu (Trà hoa vàng, Ba kích tím, Sâm Puxailaileng), trồng nấm, chăn nuôi dưới tán rừng gắn với chứng nhận GACP-WHO. Đồng thời, hỗ trợ người dân quy hoạch vùng trồng tre, mét, lùng nguyên liệu đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) để gia tăng giá trị xuất khẩu gỗ.
Thể chế hóa các luật tục, hương ước bảo vệ rừng thiêng, rừng cấm, mó nước của đồng bào dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú, Đan Lai vào quy chế quản lý nhà nước. Tri thức ứng phó biến đổi khí hậu qua canh tác ruộng bậc thang, hệ thống thủy lợi Phai - Mương - Cọn nước cần được hệ thống hóa và chuyển giao.
Tích cực đưa thương hiệu chứng nhận KDTSQ MTNA vào các sản phẩm nông - lâm nghiệp đặc trưng (như Gà Thanh Chương, Cam Vinh, dược liệu, thổ cẩm Hoa Tiến) để gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
8. Kết luận
KDTSQ MTNA không chỉ là kho báu đa dạng sinh học vô giá của Việt Nam và toàn cầu, mà còn là địa bàn nuôi dưỡng sinh kế, văn hóa và tinh thần cho hàng triệu đồng bào các dân tộc thiểu số. Quá trình dịch chuyển tư duy từ việc coi rừng là kho cung cấp gỗ sang việc tối ưu hóa 5 nhóm DVHST (cung cấp, điều tiết, văn hóa, hỗ trợ và tri thức bản địa) chính là bước đi có tính nền tảng.
Việc mạnh dạn áp dụng triết lý phúc lợi rừng thông qua các dịch vụ tắm rừng, giáo dục môi trường, du lịch chữa lành, kết hợp với các đòn bẩy tài chính khổng lồ từ DVMTR (PFES) và thị trường tín chỉ các-bon (ERPA) sẽ giúp cho bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế hoàn toàn có thể song hành. Để làm được việc này, cần có sự quyết liệt trong cải cách thể chế, sự chung tay của cộng đồng quốc tế, khối doanh nghiệp tư nhân, và quan trọng nhất là phải đặt người dân bản địa vào vị trí trung tâm, biến họ trở thành những người chủ thực sự của đại ngàn miền Tây xứ Nghệ.
Phạm Hồng Long1
1Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 6/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Ban quản lý Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. (2026). Báo cáo Đánh giá định kỳ 10 năm lần thứ 2 (2017 - 2027) Khu Dự trữ Sinh quyển Miền Tây Nghệ An, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Báo cáo đệ trình UNESCO.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2023). Đề án Phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng. Hà Nội.
3. Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (n.d.). Phúc lợi rừng (Forest Welfare) - Một cách tiếp cận mới trong việc sử dụng giá trị từ rừng.
4. Phạm, T. T., Ngô, H. C., & Nông, N. K. N. (2019). 10 Xu thế lâm nghiệp trên thế giới Việt Nam cần xem xét trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2020-2030 (Báo cáo chuyên đề 256). Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR).
5. Phạm Hồng Long. (n.d.). Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng trong Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. UBND tỉnh Nghệ An. (2023). Kế hoạch Quản lý và Bảo vệ môi trường Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An giai đoạn 2023-2027, định hướng 2030. Dự án Lồng ghép quản lý tài nguyên thiên nhiên và các mục tiêu về bảo tồn ĐDSH (Dự án BR), Nghệ An.