Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Mai Thanh Dung, Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết: “ Chuyển đổi sang mô hình KTTH đã trở thành định hướng lớn trong chiến lược phát triển bền vững của nhiều quốc gia và Việt Nam đã triển khai, quy định trong hệ thống chính sách, pháp luật, cụ thể: Luật BVMT năm 2020; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết tiêu chí, lộ trình và trách nhiệm thực hiện KTTH; Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đã xác lập khuôn khổ hành động cho các ngành, lĩnh vực và địa phương trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, KTTH chỉ đi vào cuộc sống khi được tổ chức theo chuỗi giá trị, với sự tham gia đồng bộ của các chủ thể trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ khâu quy hoạch và thiết kế, cung ứng đầu vào, sản xuất, phân phối, tiêu dùng cho đến giai đoạn sau tiêu dùng. Trong khi đó, hệ thống chính sách và công cụ phát triển chuỗi giá trị trong KTTH ở nước ta còn thiếu tính liên kết giữa các khâu và giữa các ngành, cơ sở lý luận chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Xuất phát từ yêu cầu đó, Hội thảo được tổ chức nhằm tham vấn ý kiến của các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia để hoàn thiện cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hệ thống chính sách, thực trạng và công cụ phát triển chuỗi giá trị trong KTTH”.

Giới thiệu về cơ sở lý luận về hệ thống chính sách và công cụ phát triển chuỗi giá trị trong KTTH, Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường TS. Nguyễn Trung Thắng cho biết, theo Ellen MacArthur Foundation, chuỗi giá trị trong KTTH là hệ thống các hoạt động nhằm giữ cho sản phẩm, linh kiện và vật liệu luôn ở mức giá trị cao nhất thông qua thiết kế tuần hoàn, kéo dài vòng đời sản phẩm và tái tạo hệ sinh thái tự nhiên. Ngoài ra, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng, tiếp cận chuỗi giá trị tuần hoàn dưới góc độ hệ thống sản xuất và tiêu dùng, trong đó các dòng vật liệu được duy trì trong nền kinh tế thông qua tái sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất và tái chế nhằm giảm khai thác tài nguyên nguyên sinh. Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á - ERIA (2023) nhấn mạnh, trong KTTH, các tổ chức không chỉ duy trì dòng tuần hoàn của tài nguyên mà còn phải phục hồi, giữ lại và gia tăng giá trị của tài nguyên trong toàn bộ vòng đời của chúng. Giá trị ở đây bao gồm cả giá trị chức năng, giá trị kinh tế và giá trị môi trường. Như vậy, khái niệm chuỗi giá trị trong KTTH là hệ thống các hoạt động và các chủ thể có mối liên kết chặt chẽ nhằm tạo lập, duy trì, phục hồi và gia tăng giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên trong toàn bộ vòng đời, qua đó tối ưu hóa đồng thời giá trị kinh tế, môi trường và xã hội.
Chính sách chuỗi giá trị KTTH là các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các quy định của Nhà nước nhằm định hướng, điều chỉnh, khuyến khích và hỗ trợ tạo lập, duy trì, phục hồi và gia tăng giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên, đồng thời tạo giá trị kinh tế, môi trường và xã hội. Có 5 nhóm chính sách và công cụ thúc đẩy thực hiện chuỗi giá trị KTTH, bao gồm: (i) pháp lý; (ii) kinh tế, tài chính; (iii) công nghệ, kỹ thuật, chuyển đổi số; (iv) Nâng cao nhận thức; (v) Hỗ trợ khác.

Tham luận về khung chính sách, công cụ và thực tiễn áp dụng KTTH ở Việt Nam, TS. Lại Văn Mạnh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết, hiện nay khung chính sách về KTTH cơ bản đã được hoàn thiện, nhiều sáng kiến, mô hình áp dụng KTTH trong thực tiễn đã mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra như: kiến thức của doanh nghiệp, người dân (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông hộ) còn hạn chế; công nghệ, kỹ thuật thiếu tiêu chí, hướng dẫn; một số chính sách khó áp dụng vào thực tiễn (thiếu phương pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn...); nhiều chính sách cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện (ưu đãi, hỗ trợ...); sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm tái chế, vật liệu thứ cấp khó tiêu thụ; chưa kết nối tạo ra các chuỗi giá trị tuần hoàn bền vững; hoạt động thu gom, phân loại, xử lý chất thải gặp khó khăn…

Chia sẻ về thực trạng ngành giấy nhìn từ góc độ chuỗi giá trị trong KTTH, TS. Lương Chí Hiếu, Chánh Văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam cho biết, năm 2025, tổng sản lượng giấy đạt 6,343 triệu tấn, trong đó giấy bao bì (5,621 triệu tấn); giấy in và viết (0,293 triệu tấn); giấy tissue (0,429 triệu tấn). 7 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng giấy đạt 4,280 triệu tấn (giảm 3,1% so với cùng kỳ); giấy bao bì 3,625 triệu tấn (giảm 5,3%); giấy in và viết 0,216 triệu tấn (giảm 6,3%); giấy tissue 0,439 triệu tấn (tăng 27,6%).
Về thực trạng áp dụng KTTH trong ngành giấy, nhu cầu giấy thu hồi lớn cho thấy tính tuần hoàn cao của ngành, 7 tháng đầu năm 2026, nhu cầu giấy thu hồi là 4,580 triệu tấn; thu gom trong nước là 2,569 triệu tấn, nguồn trong nước chiếm 56,1%. Hiện có 3 mô hình KTTH tiềm năng trong ngành giấy như: (1)Vòng sợi tuần hoàn (từ giấy sau sử dụng trở lại sản xuất); (2) Nhà máy giấy tuần hoàn & cộng sinh công nghiệp; (3) Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) cộng với thiết kế để tái chế và hệ sinh thái thu gom.
TS. Cao Lệ Quyên, Trung tâm CFEP, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam trình bày tham luận về thực trạng ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản nhìn từ góc độ chuỗi giá trị trong KTTH. Báo cáo cho thấy, ngành nuôi trồng thủy sản có vai trò lớn trong tăng trưởng kinh tế, là trụ cột của ngành thủy sản, đóng góp 56 - 58% tổng sản lượng toàn ngành. Hiện nước ta có gần 4.400 cơ sở chế biến thủy sản (cả xuất khẩu và nội địa). Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 là 11,3 tỷ USD, với 170 thị trường trên thế giới. Để đẩy mạnh phát triển KTTH trong nuôi trồng và chế biển thủy sản, nhiều chính sách đã được Nhà nước ban hành như: Quyết định số 911/QĐ-TTg 29/7/2022 về Đề án BVMT trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021-2030; Quyết định số 125/QĐ-BNN-TCTS, ngày 4/1/2023 về kế hoạch thực hiện BVMT trong hoạt động thủy sản…
Thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu đánh giá cao nội dung của các báo cáo chuyên đề về thực trạng áp dụng KTTH đối với ngành nông nghiệp, nuôi trồng, chế biến thủy sản, giấy, thiết bị điện và điện tử, du lịch cho thấy, mức độ áp dụng KTTH theo từng công đoạn của chuỗi giá trị, các mô hình tiềm năng, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, thách thức đang đặt ra. Các ý kiến thống nhất với cách tiếp cận của đề tài, về cơ sở lý luận đã xác định chuỗi giá trị trong KTTH, làm rõ thêm nội hàm, các giai đoạn, đặc trưng, chức năng và vai trò của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị. Đồng thời, ghi nhận nhiều bài học kinh nghiệm của thế giới có giá trị tham khảo trong việc thiết kế hệ thống chính sách và công cụ phát triển chuỗi giá trị tuần hoàn, đặc biệt là các công cụ về thiết kế sinh thái, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, mua sắm công xanh, tiêu chuẩn và nhãn sinh thái, tín dụng xanh và hạ tầng dữ liệu phục vụ quản lý vòng đời sản phẩm… Qua đó, cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiện toàn hệ thống chính sách, công cụ nhằm phát triển chuỗi giá trị trong KTTH trong thời gian tới.