Phát triển lâm nghiệp bền vững, duy trì tỷ lệ che phủ rừng 42%
Việc điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch có liên quan. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, định hướng phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh và tăng trưởng bền vững.
Theo Quyết định, ngành lâm nghiệp được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, đa giá trị, phát huy toàn diện vai trò của tài nguyên rừng đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, nâng cao chất lượng rừng, tăng khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu là những nhiệm vụ quan trọng, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của đất nước. Cùng với phát triển kinh tế, Quy hoạch chú trọng vai trò của lâm nghiệp trong cung cấp dịch vụ hệ sinh thái, tạo việc làm, giảm nghèo và cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn, miền núi, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; gắn phát triển rừng với bảo đảm quốc phòng, an ninh và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Về chỉ tiêu cụ thể, giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân phấn đấu đạt 5,0 - 5,5%/năm. Đến năm 2030, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD, giá trị tiêu thụ tại thị trường trong nước đạt 6 - 7 tỷ USD. Tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề tăng từ 20% lên 30%, đồng thời bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận cơ hội việc làm và phát triển sinh kế. Đáng chú ý, Quy hoạch đặt mục tiêu duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ở mức 42%. Diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 được xác định là 15.550,53 nghìn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 14.074,89 nghìn ha. Giai đoạn 2026 - 2030, cả nước phấn đấu trồng mới 1.250 - 1.500 nghìn ha rừng và phát triển từ 300 - 330 triệu cây trồng phân tán.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành việc giao rừng gắn với giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư vào năm 2030, đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp đang tạm giao UBND cấp xã trực tiếp quản lý. Đây là cơ sở quan trọng để xác lập trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia và hưởng lợi từ phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Nâng cao giá trị tài nguyên rừng, mở rộng nguồn tài chính từ dịch vụ môi trường
Bên cạnh mục tiêu duy trì diện tích, Quy hoạch nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Trong đó, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao vào hoạt động theo dõi, giám sát, quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Việc quản lý các khu rừng đặc dụng phải tuân thủ nghiêm nguyên tắc ưu tiên bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; bảo đảm ổn định diện tích, ranh giới, chức năng bảo tồn và không làm suy giảm các giá trị của rừng.

Đối với hoạt động khai thác, Quy hoạch hướng tới sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, đồng thời phát triển các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, khai thác lợi thế đặc trưng của từng địa phương. Công tác bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm tiếp tục được tăng cường, gắn với bảo tồn và phát triển nguồn gen có giá trị. Đến năm 2030, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung phấn đấu đạt trên 30 triệu m³/năm; sản lượng từ cây trồng phân tán, cây vườn nhà và cây cao su đạt 10 triệu m³/năm. Cùng với đó, ngành lâm nghiệp sẽ thiết lập, vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp, tăng cường ứng dụng công nghệ và thiết bị hiện đại trong khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản.
Trong lĩnh vực chế biến và thương mại, định hướng ưu tiên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đầu tư công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu và gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu. Việc kiểm soát chuỗi cung ứng, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và phát triển thị trường nội địa cũng được chú trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Đặc biệt, phát triển kinh tế rừng đa giá trị được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng. Theo đó, hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí được khuyến khích phát triển trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu về bảo tồn thiên nhiên, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Đối với dịch vụ môi trường rừng, Quy hoạch tiếp tục định hướng thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó có dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon. Đồng thời, thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng, tạo nguồn tài chính ổn định, bền vững để tái đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng. Mục tiêu đặt ra là tổng thu từ dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân 4.000 tỷ đồng/năm. Các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục nghiên cứu mở rộng loại hình dịch vụ và đối tượng chi trả, từng bước khai thác hiệu quả hơn giá trị kinh tế từ các chức năng sinh thái của rừng. Tầm nhìn đến năm 2050, lâm nghiệp được định hướng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, làm chủ công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, chủ động tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việc điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng mà còn hướng tới chuyển đổi phương thức phát triển, từ khai thác giá trị gỗ truyền thống sang phát huy tổng hợp các giá trị kinh tế, sinh thái và xã hội. Qua đó, tạo nền tảng phát triển kinh tế xanh, nâng cao đời sống người dân miền núi, giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số và đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng đất nước xanh, an toàn, thịnh vượng.