Bài báo trình bày giải pháp chuyển đổi số (CĐS) kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ quản lý và phát triển NHCN tập trung trên phạm vi địa bàn xã Krông Ana (mới) gắn với định hướng bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp. Về mặt quản trị, nghiên cứu hoàn thiện dự thảo quy chế phân cấp quản lý nội bộ; phát triển nền tảng phần mềm WebGIS trên nền PHP Laravel và PostgreSQL/PostGIS; tích hợp quy trình xét duyệt trực tuyến ba bước cùng bảng điều khiển giám sát thời gian thực. Về mặt công nghệ, hệ thống tích hợp trợ lý ảo tra cứu quy chế theo kỹ thuật RAG và công cụ AI hỗ trợ tạo mẫu bao bì nhận diện thương hiệu tuân thủ quy chuẩn ghi nhãn hàng hóa và Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15. Thử nghiệm ban đầu trong tháng 9/2026 trên 9 hồ sơ quy trình cho thấy thời gian xử lý thủ tục nội bộ có triển vọng rút ngắn từ khoảng 22 - 25 ngày xuống còn khoảng 7 - 9 ngày làm việc. Thử nghiệm mô hình RAG trên tập 120 câu hỏi kiểm chuẩn đạt tỷ lệ câu trả lời chuẩn xác ngữ cảnh 93,3%, tương ứng 112/120 câu. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao hiệu lực quản lý tài sản trí tuệ, bảo vệ hệ sinh thái đất và nước đầu nguồn, đồng thời thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo địa phương phát triển bền vững.
Từ khoá: Gạo Krông Ana, NHCN, chuyển đổi số, AI, Chatbot, RAG.
Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày sữa chữa: 10/8/2026; Ngày duyệt đăng: 16/9/2026.
DIGITAL TRANSFORMATION IN THE MANAGEMENT AND DEVELOPMENT OF KRONG ANA RICE CERTIFICATION MARK IN KRONG ANA COMMUNE, DAK LAK PROVINCE
Abstract:
The “Krong Ana Rice” Certification Mark under Registration Certificate No. 331762 is a vital intellectual property asset associated with the prime wetland rice agro-ecosystem in the Krong Ana river basin, Dak Lak Province. Under the administrative restructuring pursuant to Resolution No. 1660/NQ-UBTVQH15 and the Law on Organization of Local Government No. 72/2025/QH15, the dissolution of district-level authority and the establishment of the newly established Krong Ana Commune necessitate restructured governance, quality control workflows, and safe agricultural traceability. This study presents an integrated digital transformation and Artificial Intelligence (AI) framework to support the management and valorization of the certification mark specifically within the territorial boundary of the new Krong Ana Commune, aligned with agro-ecological conservation. Administratively, the research develops draft internal decentralized regulations and deploys a WebGIS platform using PHP Laravel and PostgreSQL/PostGIS, incorporating a three-step online approval workflow and an administrative dashboard. Technically, the platform integrates a Retrieval-Augmented Generation (RAG) conversational assistant for regulatory inquiries alongside a Generative AI module assisting cooperatives in standardized packaging design compliant with national labeling mandates and AI Law No. 134/2025/QH15. Initial pilot deployment conducted in September 2026 across 09 procedural dossiers demonstrated a prospective reduction in internal turnaround time from 22 - 25 days to approximately 7 - 9 working days. Experimental validation of the RAG assistant across 120 benchmark queries achieved a 93.3% contextual factual precision rate, equivalent to 112 out of 120 queries. The research establishes methodological and empirical groundwork for enhancing intellectual property governance, safeguarding upstream wetland ecosystems, and promoting sustainable rice value chains.
Keywords: Krong Ana Rice, certification Mark, digital transformation, AI, Chatbot, RAG.
JEL Classifications: O13, O44, Q56, R11.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng thung lũng Krông Ana thuộc tỉnh Đắk Lắk từ lâu đã nổi danh là một trong những vựa lúa nước màu mỡ, trù phú nhất khu vực Tây Nguyên nhờ nguồn phù sa bồi đắp của hệ thống sông Krông Ana và sông Sêrêpôk. Điều kiện vi khí hậu cao nguyên kết hợp cùng thổ nhưỡng phù sa ngập nước tạo môi trường lý tưởng để canh tác các giống lúa thuần, lúa thơm chất lượng cao như ST24, ST25, Đài Thơm 8... Nhằm bảo tồn danh tiếng, giá trị sinh thái của sản phẩm, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận (GCN) đăng ký nhãn hiệu số 331762 bảo hộ NHCN “Gạo Krông Ana” từ năm 2019. Việc mang NHCN đóng vai trò then chốt như một công cụ pháp lý và kinh tế giúp định vị thương hiệu, bảo đảm các tiêu chuẩn canh tác sinh thái an toàn, gia tăng giá trị hạt gạo. Theo điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Địa tin học (2025) tại các hợp tác xã (HTX) và chuỗi liên kết sản xuất trên địa bàn, giá bán gạo mang nhãn hiệu Gạo Krông Ana dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 30 - 50% so với sản phẩm gạo canh tác đại trà tự do không có sự kiểm soát về nhãn hiệu [3]. Mức chênh lệch này phản ánh rõ nét vai trò của NHCN trong việc củng cố niềm tin của thị trường và gia tăng giá trị kinh tế cho nông hộ.
Tuy nhiên, bối cảnh quản lý nhà nước tại địa phương đang trải qua sự thay đổi căn bản về tổ chức bộ máy. Thực hiện Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính, huyện Krông Ana cũ đã được giải thể để tổ chức lại các đơn vị hành chính cấp xã, trong đó xã Krông Ana (mới) được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Buôn Trấp, xã Bình Hòa và xã Quảng Điền. Cùng với Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có sự thay đổi căn bản, tiêu biểu là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 131/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 và Nghị định số 65/2023/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 100/2026/NĐ-CP. Bối cảnh phân định thẩm quyền mới khiến phương thức quản lý nhãn hiệu bằng hồ sơ giấy và bảng tính phân tán trước đây bộc lộ nhiều hạn chế: Thời gian luân chuyển hồ sơ kéo dài, dữ liệu vùng trồng chưa được số hóa gắn với bản đồ địa chính để hậu kiểm chất lượng, cấp phát tem truy xuất nguồn gốc, trong khi các nông hộ và HTX còn lúng túng trước các quy chuẩn ghi nhãn bắt buộc theo Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, Nghị định số 111/2021/NĐ-CP và Thông tư số 29/2023/TT-BYT.
Về mặt học thuật, các nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chứng minh hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ số, hệ thống thông tin địa lý trong quản lý chỉ dẫn địa lý, tài sản trí tuệ nông nghiệp, tiêu biểu như công trình của Bowen (2010) [5], Kamilaris et al., 2019 [6]. Gần đây, các mô hình ngôn ngữ lớn kết hợp cơ chế tăng cường truy xuất thông tin (RAG), AI tạo sinh đã khẳng định tiềm năng lớn trong hỗ trợ dịch vụ công và tư vấn chính sách, điển hình như nghiên cứu của Lewis et al., 2020 [7], Tô Đức Nhuận & cs (2026) [4]. Dù vậy, việc ứng dụng đồng bộ công nghệ RAG và AI tạo sinh vào hệ thống quản lý NHCN nông sản thích ứng với phạm vi địa giới hành chính cấp xã mới sau sắp xếp vẫn là một khoảng trống. Nghiên cứu này được triển khai nhằm giải quyết bốn mục tiêu đo lường được: Thiết kế khung quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL) số hóa vùng sản xuất tập trung trên địa bàn xã Krông Ana (mới), thích ứng với các quy định pháp lý hiện hành; xây dựng, đánh giá nền tảng WebGIS số hóa quy trình thẩm định cấp quyền sử dụng nhãn hiệu; xây dựng trợ lý ảo RAG đạt độ chính xác ngữ cảnh trên 90% phục vụ tra cứu quy chế; thiết lập quy trình tạo sinh bao bì thông minh tuân thủ chuẩn mực ghi nhãn hàng hóa và quy định về quản trị minh bạch của Luật AI số 134/2025/QH15, gắn với định hướng bảo vệ môi trường sinh thái LVS Krông Ana.
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu là quy trình quản trị, CSDL không gian và công cụ CĐS phục vụ cấp quyền, kiểm soát chất lượng và khai thác thương mại NHCN “Gạo Krông Ana”. Về phạm vi không gian, nghiên cứu tập trung giới hạn quản lý toàn bộ diện tích vùng trồng lúa nằm trong ranh giới hành chính của xã Krông Ana (mới), hình thành sau sắp xếp theo Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 (hợp nhất từ thị trấn Buôn Trấp, xã Bình Hòa và xã Quảng Điền). Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã Krông Ana (mới) là 4.263,27 ha, với sản lượng lúa tươi thu hoạch cả 2 vụ (Đông Xuân, Hè Thu) ước đạt trên 42.000 tấn/năm theo số liệu thống kê địa phương. Đối với diện tích canh tác thuộc các xã lân cận cùng nằm trong vùng bảo hộ ban đầu như Ea Na, Dur Kmăl, hệ thống được thiết kế mở sẵn các giao thức chuẩn hóa để sẵn sàng tích hợp, chia sẻ CSDL khi cơ quan quản lý cấp trên triển khai cơ chế điều phối liên xã trong tương lai.
Về tình trạng pháp lý của chủ văn bằng, GCN đăng ký nhãn hiệu số 331762 ban đầu do UBND huyện Krông Ana đứng tên chủ sở hữu. Sau khi giải thể cấp huyện, căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 87 và Điều 97, Luật Sở hữu trí tuệ, quyền quản lý NHCN địa phương cần được thực hiện thủ tục sửa đổi văn bằng bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ. Trong giai đoạn thử nghiệm của nghiên cứu, giải pháp phân cấp giao cho UBND xã Krông Ana thực hiện quyền quản trị nội bộ đối với vùng trồng thuộc địa bàn xã, đồng thời 3 văn bản quy chế quản lý được vận hành dưới dạng quy chế nội bộ thử nghiệm phục vụ thẩm định hệ thống số.
Thiết kế kiến trúc hệ thống thông tin: Thiết lập kiến trúc phần mềm phân tầng dựa trên nền tảng web, bảo đảm tính an toàn dữ liệu, phân quyền linh hoạt cho nhiều nhóm người dùng và đồng bộ hóa CSDL vùng trồng giữa các vùng.
Xây dựng các phân hệ chức năng quản trị: Thiết kế quy trình đăng ký biểu mẫu điện tử (e-form), luân chuyển nghiệp vụ xét duyệt đa tầng, theo dõi nhật ký vi phạm và tạo lập bảng điều khiển (Dashboard) thống kê trực quan.
Tích hợp và huấn luyện các module AI chuyên dụng:
Module 1: Xây dựng Chatbot hỏi - đáp dựa trên kỹ thuật tăng cường truy xuất thông tin (RAG) [7] nhằm hướng dẫn người dân làm thủ tục, hoàn thiện hồ sơ [4].
Module 2: Ứng dụng AI tạo sinh (Generative AI) hỗ trợ gợi ý ý tưởng thiết kế, bố cục, màu sắc, nội dung truyền thông cho bao bì sản phẩm gạo mang NHCN.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu và hoàn thiện văn bản quản lý
Nghiên cứu tiến hành thu thập toàn bộ văn bản pháp lý hiện hành làm căn cứ khoa học: Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 65/2023/NĐ-CP, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa, cùng các Quyết định quản lý ban đầu của huyện Krông Ana (Quyết định số 1821/QĐ-UBND và Quyết định số 837/QĐ-UBND) [1], [2]. Trên cơ sở nhận diện các khoảng trống pháp lý khi giải thể chính quyền cấp huyện, nghiên cứu đã xây dựng dự thảo hoàn thiện 3 quy chế cốt lõi:
Quy chế quản lý và phát triển NHCN Gạo Krông Ana: Điều chỉnh thẩm quyền chủ sở hữu về cấp xã điều phối chung, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản trị và quyền lợi của các chủ thể [1].
Quy chế cấp, gia hạn, sửa đổi và thu hồi GCN quyền sử dụng NHCN: Quy định chi tiết điều kiện bắt buộc, bộ hồ sơ chuẩn hóa (đơn đăng ký, bản mô tả chuỗi sản xuất, bản cam kết), thời hạn giải quyết thủ tục hành chính.
Quy chế quản lý, cấp và thu hồi tem điện tử truy xuất nguồn gốc (QR Code): Xác lập tiêu chuẩn thông tin tích hợp mã số - mã vạch, quy trình cấp phát tem theo từng lô hàng thực tế và cơ chế thu hồi/khóa tem số khi có vi phạm.
2.2.2. Phương pháp kỹ thuật phát triển hệ thống nền tảng
Hệ thống quản trị phần mềm được phát triển theo kiến trúc MVC (Model-View-Controller) trên nền tảng ngôn ngữ PHP với Laravel Framework kết hợp hệ CSDL quan hệ PostgreSQL và tiện ích mở rộng không gian PostGIS nhằm quản lý ranh giới vùng trồng cùng các thuộc tính thổ nhưỡng. Nhằm bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ và tuân thủ chặt chẽ các quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 cùng Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, hệ thống áp dụng cơ chế phân loại dữ liệu nghiêm ngặt ngay từ khâu tiếp nhận. Toàn bộ các trường thông tin nhạy cảm của hộ nông dân và chủ thể sản xuất, bao gồm số định danh cá nhân hoặc căn cước công dân, số điện thoại liên lạc, thông tin tài khoản, tọa độ vị trí ranh giới thửa ruộng, đều được mã hóa bằng thuật toán tiêu chuẩn ở tầng lưu trữ CSDL. Cơ chế sao lưu dữ liệu tự động định kỳ theo ngày được thiết lập kết hợp lưu trữ phân tán nhằm phòng ngừa sự cố mất mát thông tin. Bên cạnh đó, hệ thống tích hợp phân hệ ghi nhật ký truy cập (audit log) chi tiết, tự động lưu vết toàn bộ các thao tác chỉnh sửa, tra cứu hoặc phê duyệt của người dùng. Quyền hạn truy cập được phân định chặt chẽ thông qua mô hình kiểm soát truy cập dựa trên vai trò (RBAC) phân cấp thành ba nhóm tài khoản: Quản trị viên (System Admin) chịu trách nhiệm cấu hình kỹ thuật và giám sát an toàn thông tin; Cán bộ quản lý cấp xã có thẩm quyền thẩm định hồ sơ trực tuyến, quản lý kiểm tra thực địa và giám sát hạn ngạch tem; Chủ thể sản xuất (HTX, doanh nghiệp, nông hộ) chỉ có quyền khai báo dữ liệu mùa vụ và theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ của chính mình.
2.2.3. Phương pháp xây dựng các chức năng quản trị
Quy trình nghiệp vụ quản trị được số hóa nhằm thay thế phương thức lưu trữ hồ sơ giấy phân tán trước đây. Về mặt pháp lý và thể chế, nghiên cứu xác định rõ việc tiếp nhận, thẩm định, cấp GCN quyền sử dụng NHCN “Gạo Krông Ana” là quy trình nội bộ được thực hiện căn cứ theo quy chế quản lý của tổ chức đại diện sở hữu nhãn hiệu tập thể, không đồng nhất với thủ tục hành chính công của cơ quan nhà nước, nhằm tránh trùng lặp thẩm quyền hoặc gây xung đột với quy định pháp luật. Tuy vậy, để bảo đảm tính đồng bộ trong hạ tầng chính quyền số, hệ thống được cấu trúc sẵn các giao diện lập trình ứng dụng (API) mở theo chuẩn kiến trúc dịch vụ công trực tuyến, sẵn sàng liên thông, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh và Cổng Dịch vụ công quốc gia theo đúng tinh thần của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP khi có quyết định giao nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền. Quy trình đăng ký, xét duyệt được vận hành qua ba bước tuần tự: Bước 1 - Tiếp nhận, thẩm tra sơ bộ hồ sơ trực tuyến qua biểu mẫu điện tử (e-Form); Bước 2 - Thẩm định thực địa tại lô ruộng và lấy mẫu kiểm nghiệm chất lượng; Bước 3 - Phê duyệt cấp mã số chứng nhận quyền sử dụng và tích hợp vào Bảng điều khiển (Dashboard) giám sát theo thời gian thực.
2.2.4. Phương pháp tích hợp và huấn luyện mô hình AI
Nhằm hỗ trợ xóa bỏ rào cản hành chính, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, hai module AI được xây dựng chuyên biệt [4], [7]:
Chatbot AI tư vấn quy trình (Mô hình RAG - Retrieval-Augmented Generation):
Kho tri thức: Bao gồm toàn văn dự thảo 3 quy chế, tiêu chuẩn kỹ thuật canh tác lúa VietGAP của xã Krông Ana và các quy định ghi nhãn hiện hành. Văn bản được phân đoạn (chunking) theo kích thước 350 tokens với độ gối 50 tokens, sau đó được mã hóa bằng mô hình text-embedding-3-small rồi lưu trữ trên CSDL vector pgvector.
Vector Database & Embedding: Sử dụng mô hình tạo embedding đa ngôn ngữ để chuyển hóa tri thức văn bản thành các vector và lưu trữ trên CSDL vector.
Cơ chế hoạt động: Khi người dân/HTX đặt câu hỏi bằng ngôn ngữ tự nhiên (ví dụ: “Hồ sơ đề nghị cấp tem truy xuất nguồn gốc gồm những gì?” hoặc”Thời hạn hiệu lực của GCN là bao lâu?”), hệ thống sẽ trích xuất ngữ cảnh liên quan nhất từ kho dữ liệu, truyền vào mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) để tổng hợp câu trả lời, bám sát các điều khoản pháp lý và dẫn chiếu rõ ràng theo quy chế địa phương [4], [7].
Công cụ AI gợi ý mẫu mã bao bì và nhận diện thương hiệu:
Kết hợp mô hình khuếch tán hình ảnh (Diffusion Models) thông qua API cùng các thuật toán NLP phân tích thông tin thương mại.
Dữ liệu đầu vào: Tên chủ thể/HTX, chủng loại gạo (ST24, ST25...), quy cách đóng gói (5 kg, 10 kg), địa chỉ, định hướng phong cách (truyền thống, hiện đại, sinh thái cao cấp).
Kết quả đầu ra từ AI: Gợi ý về ý tưởng thiết kế, màu sắc, bố cục; hình ảnh chủ đạo; nội dung giới thiệu; bao bì trực quan; gợi ý khẩu hiệu (slogan); thông tin bắt buộc trên nhãn như Logo NHCN “Gạo Krông Ana”; khu vực dán tem QR code truy xuất nguồn gốc.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Số hóa quy trình quản lý và đăng ký NHCN
Nền tảng phần mềm WebGIS đã được đưa vào vận hành thử nghiệm trong tháng 9/2026 trên địa bàn xã Krông Ana (mới), nhằm kiểm tra độ ổn định của các phân hệ chức năng. Biểu mẫu điện tử cho phép chủ thể nộp hồ sơ kê khai thông tin vùng trồng và nộp minh chứng trực tuyến trong khoảng 15 - 20 phút thay vì phải in ấn giấy tờ, đi lại trực tiếp nhiều lần. Bảng điều khiển quản trị tại Hình 1 hiển thị bức tranh toàn cảnh về tiến độ xử lý hồ sơ trên địa bàn xã. Số liệu hiển thị trên Hình 1 là dữ liệu ghi nhận từ quá trình vận hành thử nghiệm kỹ thuật thực tế trong tháng 9/2026, không phải số liệu thống kê vận hành đại trà trong thời gian dài. Trong chu kỳ chạy thử này, hệ thống đã tiếp nhận 9 bộ hồ sơ đăng ký thử nghiệm từ các HTX, hộ kinh doanh trên địa bàn xã Krông Ana. Trong đó, có 3 hồ sơ đã hoàn thành quy trình phê duyệt ba bước (đạt 33,3%); 6 hồ sơ đang trong giai đoạn thẩm tra sơ bộ hoặc kiểm tra thực địa; 0 hồ sơ bị từ chối.
Giao diện và luồng xử lý hồ sơ
Giao diện e-Form được thiết kế tối giản, thân thiện với người dùng. Người nộp hồ sơ chỉ mất khoảng 15 - 20 phút để hoàn thành việc điền thông tin, đính kèm tài liệu trực tuyến thay vì phải in ấn giấy tờ, đi lại trực tiếp nhiều lần. Hệ thống tự động cấp mã biên nhận điện tử giúp chủ thể dễ dàng tra cứu tiến độ xử lý theo thời gian thực.
Về phía cơ quan quản lý, Bảng điều khiển cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình khai thác tài sản trí tuệ trên toàn vùng. Cán bộ quản lý có thể nhanh chóng tra cứu danh sách chủ thể đã được cấp quyền trước, kiểm soát diện tích vùng trồng phân bố theo từng khu vực. Phân hệ xử lý vi phạm ghi nhận chi tiết lịch sử kiểm tra định kỳ và đột xuất, hỗ trợ cập nhật quyết định đình chỉ hoặc thu hồi quyền sử dụng khi xảy ra sai phạm theo các mẫu biểu quy định.

Bảng 1: Thống kê tình hình xử lý hồ sơ thử nghiệm trên hệ thống trong tháng 9/2026

Hiệu quả vận hành hệ thống
So sánh giữa phương thức quản lý truyền thống và nền tảng số hóa cho thấy những chuyển biến rõ rệt:
Rút ngắn thời gian xử lý: Thời gian từ lúc tiếp nhận hồ sơ đến khi hoàn thành thẩm định và ban hành quyết định giảm trung bình từ 22 - 25 ngày (theo quy trình giấy tờ) xuống còn 7 - 9 ngày làm việc. Khâu thẩm tra sơ bộ rút ngắn chỉ còn dưới 24 giờ kể từ khi người dùng nộp đơn trực tuyến.
Tính toàn vẹn và độ chính xác dữ liệu: Loại bỏ tình trạng thất lạc tài liệu, thất thoát thông tin qua các khâu trung gian hoặc nhầm lẫn số liệu diện tích, sản lượng. Dữ liệu thống kê về diện tích vùng sản xuất (Krông Ana: 4.263,27 ha; Ea Na: 2.003,70 ha; Dur Kmăl: 1.721,90 ha) và sản lượng đạt 79.152,60 tấn/năm được kiểm soát đồng bộ, liên kết chặt chẽ với hạn ngạch cấp tem QR code chống làm giả.
3.2. Hiệu quả ứng dụng AI trong hỗ trợ người dân và HTX
Trợ lý ảo tư vấn thủ tục
Thử nghiệm với tập dữ liệu 120 câu hỏi tình huống thực tế về các nội dung: Điều kiện được cấp nhãn hiệu; quy trình lấy mẫu kiểm nghiệm chất lượng; thủ tục đề nghị cấp tem QR; trường hợp bị thu hồi quyền sử dụng.
Bảng 2: Kết quả đánh giá hiệu năng mô hình Chatbot RAG trên tập kiểm thử 120 câu hỏi

Trong tổng số 120 câu hỏi thử nghiệm, hệ thống RAG đã đưa ra 112 câu trả lời chuẩn xác ngữ cảnh, đạt tỷ lệ 93,3%. Phân tích 8 câu trả lời chưa đạt cho thấy, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ trường hợp câu hỏi về biến động quyền sử dụng đất canh tác chưa cập nhật kịp thời trong CSDL hoặc thiếu sót nhỏ trong trích dẫn tiểu mục. Khảo sát bán định lượng trên 46 đối tượng đại diện gồm 15 nông hộ trồng lúa, 4 cán bộ HTX, 12 cơ sở xay xát chế biến, 10 cán bộ chuyên môn cấp xã và 5 cán bộ đoàn thể hỗ trợ số hóa ghi nhận 40 ý kiến hài lòng, chiếm tỷ lệ 87,0%.
Công cụ gợi ý bao bì thông minh
Công cụ thiết kế tự động đã tạo sinh thành công nhiều bộ phương án nhận diện bao bì gạo 5 kg và 10 kg cho các chủ thể thử nghiệm. Điển hình, khi nhập dữ liệu về “Hộ kinh doanh Thu Tường, gạo ST25”, hệ thống đã đưa ra phương án thiết kế chuẩn mực.
Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên 20 phương án thiết kế do AI gợi ý cho thấy có 18 phương án đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn ghi nhãn bắt buộc theo Nghị định số 43/2017/NĐ-CP và Nghị định số 111/2021/NĐ-CP. Việc tích hợp trực tiếp file vector gốc của NHCN đã bảo đảm dấu hiệu nhận diện được bảo hộ giữ nguyên tính toàn vẹn, loại bỏ hiện tượng sai lệch hình họa thường gặp ở các mô hình khuếch tán tự do..

3.3. Thảo luận
Việc ứng dụng CĐS kết hợp AI trong công tác quản lý, khai thác NHCN “Gạo Krông Ana” mang lại những chuyển biến tích cực trong phương thức quản trị tài sản trí tuệ cấp cơ sở sau khi sắp xếp lại tổ chức chính quyền địa phương. Hệ thống WebGIS không chỉ cung cấp công cụ số hóa quy trình tiếp nhận, xét duyệt hồ sơ mà còn đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát các tiêu chuẩn canh tác sinh thái. Xã Krông Ana nằm trọn trong vùng đệm nhạy cảm về sinh thái đầu nguồn thuộc LVS Krông Ana và sông Sêrêpôk. Việc số hóa bản đồ không gian địa lý từng lô ruộng gắn liền với nhật ký mùa vụ điện tử cho phép giám sát chặt chẽ việc tuân thủ quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP), kiểm soát dư lượng phân bón vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật, đồng thời thúc đẩy áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước. Điều này góp phần giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt; hạn chế suy thoái độ phì nhiêu của đất phù sa cổ; giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa nước, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững của địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu cũng bộc lộ một số hạn chế cần được nhìn nhận khách quan. Về mặt dữ liệu thực nghiệm, thời gian thử nghiệm kỹ thuật diễn ra trong phạm vi ngắn của tháng 9/2026 với số lượng hồ sơ hoàn tất còn hạn chế (3 hồ sơ), do đó các phân hệ về xử lý vi phạm, đình chỉ hoặc thu hồi quyền sử dụng nhãn hiệu chưa có dữ liệu thực tế phát sinh để đánh giá toàn diện trên diện rộng. Về hạ tầng kỹ thuật và năng lực người dùng, tín hiệu mạng viễn thông tại một số buôn làng vùng sâu đôi lúc còn chập chờn, trong khi thói quen ghi chép nhật ký mùa vụ trên sổ tay thủ công của bà con nông dân và rào cản kỹ năng số của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số lớn tuổi khiến việc tự kê khai thông tin trực tuyến ban đầu gặp không ít khó khăn. Về phương diện pháp lý, mô hình quản lý hiện tại của xã Krông Ana vẫn vận hành dựa trên quy chế nội bộ thử nghiệm; việc xác lập địa vị pháp lý chính thức đối với NHCN địa phương đòi hỏi phải hoàn tất mọi thủ tục sửa đổi văn bằng bảo hộ tại cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp theo đúng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.
4. KẾT LUẬN
4.1. Kết luận
Nghiên cứu đã xây dựng, kiểm chứng thành công nền tảng CĐS tích hợp AI phục vụ quản lý, phát triển NHCN “Gạo Krông Ana” tập trung trên địa bàn xã Krông Ana (mới) sau khi sắp xếp đơn vị hành chính theo Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15. Nền tảng WebGIS, biểu mẫu trực tuyến đã bước đầu minh chứng khả năng tối ưu hóa quy trình luân chuyển nghiệp vụ, giảm thời gian xử lý hồ sơ nội bộ từ mức 22 - 25 ngày của quy trình giấy tờ trước đây xuống còn khoảng 7 - 9 ngày làm việc. Module trợ lý ảo tra cứu theo kỹ thuật RAG đạt tỷ lệ chuẩn xác ngữ cảnh 93,3% trên tập 120 câu hỏi tình huống thực tế, hỗ trợ kịp thời cho người dân, HTX trong việc tiếp cận quy định hành chính. Công cụ AI tạo sinh hỗ trợ thiết kế bao bì đã phát huy hiệu quả trong việc chuẩn hóa hình ảnh nhận diện thương hiệu, bảo đảm tính nguyên bản của logo NHCN đã đăng ký, đáp ứng quy chuẩn ghi nhãn hàng hóa bắt buộc và tuân thủ quy định về quản trị minh bạch sản phẩm AI. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực quản trị tài sản trí tuệ, gắn kết chặt chẽ giá trị thương mại của hạt gạo với mục tiêu bảo tồn môi trường sinh thái LVS Krông Ana.
4.2. Khuyến nghị chính sách và giải pháp hoàn thiện
Nhằm khắc phục rào cản về hạ tầng và năng lực số đã được nhận diện, chính quyền địa phương cần phối hợp với doanh nghiệp viễn thông rà soát, đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng băng rộng tại các thôn, buôn vùng sâu vùng xa. Song song với đó, giải pháp phát huy vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng, lực lượng đoàn viên thanh niên xã đóng vai trò cầu nối quan trọng trong việc trực tiếp hướng dẫn theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, hỗ trợ người dân chuyển đổi từ thói quen ghi chép nhật ký canh tác thủ công sang nhật ký số trên ứng dụng di động, kết hợp thiết kế giao diện phần mềm tối giản với chức năng nhập liệu bằng giọng nói tiếng dân tộc thiểu số bản địa.
Về khuyến nghị cơ chế, thể chế chính sách, UBND xã Krông Ana cần chủ động phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đề nghị sửa đổi GCN đăng ký nhãn hiệu số 331762 tại Cục Sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 97, Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 131/2025/QH15) và Nghị định số 100/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Cần sớm xác định rõ tổ chức đại diện chủ sở hữu quản lý nhãn hiệu sau sắp xếp, trong trường hợp NHCN mở rộng trở lại phạm vi quản lý cho toàn bộ vùng sản xuất truyền thống, UBND xã Krông Ana cần chủ trì xây dựng Quy chế phối hợp liên xã với UBND xã Ea Na, xã Dur Kmăl để thống nhất quy chuẩn kiểm tra chất lượng, phân bổ hạn ngạch tem truy xuất, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt liên vùng. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần bố trí nguồn kinh phí thường xuyên từ ngân sách khoa học công nghệ cơ sở và quỹ phát triển nông nghiệp để chi trả cho việc thuê hạ tầng máy chủ, bảo trì hệ thống, duy trì bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ. Về phương án nhân lực, cần thành lập Tổ chuyên trách quản lý nhãn hiệu trực thuộc xã, gồm cán bộ địa chính - nông nghiệp, cán bộ công nghệ thông tin, để vận hành hệ thống ổn định lâu dài. Đồng thời, hệ thống cần được xây dựng lộ trình nâng cấp các chuẩn giao tiếp dữ liệu mở (API), nhằm sẵn sàng liên thông CSDL với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh và Cổng Dịch vụ công quốc gia theo đúng tinh thần của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.
Về định hướng công nghệ trong tương lai, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để nâng cấp hệ thống tem QR truy xuất nguồn gốc cần được đánh giá kỹ lưỡng trên bài toán chi phí và lợi ích thực tế của các HTX, hộ nông dân. Thay vì triển khai mạng lưới chuỗi khối riêng biệt gây tốn kém chi phí hạ tầng máy chủ, tiêu tốn năng lượng vận hành, giải pháp khuyến nghị là tích hợp dữ liệu thu hoạch và xay xát gạo vào các nền tảng Blockchain nông nghiệp dùng chung cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia. Quá trình này cần bảo đảm đối chiếu, tuân thủ nghiêm ngặt quy định kỹ thuật về dữ liệu truy xuất theo Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12850:2019 về hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, qua đó tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ thương hiệu gạo địa phương, chống gian lận thương mại, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường tiêu dùng bền vững.
Nguyễn Văn Hiểu1, Bùi Đình Hoà1, Vũ Hồng Quân1, Dương Văn Huy1, Đoàn Thanh Hải2
1Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; 2Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 9/2026)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Sở hữu trí tuệ (2019). Quyết định số 85768/QĐ-SHTT ngày 1/10/2019 về việc cấp GCN đăng ký nhãn hiệu số 331762 cho NHCN “Gạo Krông Ana”, Hà Nội.
2. Cục Sở hữu trí tuệ (2021). Sổ tay hướng dẫn quản lý và phát triển tài sản trí tuệ đối với các sản phẩm nông sản chủ lực, đặc thù tại địa phương. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
3. Trung tâm Nghiên cứu Địa tin học (2025). Báo cáo kết quả điều tra, thu thập số liệu Đề tài Ứng dụng công nghệ số trong quản lý và phát triển NHCN “Gạo Krông Ana”, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Trường Đại học Nông Lâm.
4. Tô Đức Nhuận, Nguyễn Thị Thu Thủy, Phùng Thị Thu Hiền, Bùi Thu Hải, Trần Thị Yến (2026). Ứng dụng mô hình ngôn ngữ lớn và tìm kiếm ngữ nghĩa xây dựng trợ lý ảo hỗ trợ tra cứu văn bản quy định nội bộ tại trường đại học. Tạp chí Tâm lý - Giáo dục, 32(04 kì 1), tr. 276 - 280.
5. Bowen, S. (2010). Embedding local places in global spaces: Geographical indications as a territorial development strategy. Rural Sociology, 75(2), pp. 209 - 243.
6. Kamilaris, A., Fonts, A., & Prenafeta-Boldú, F. X. (2019). The rise of blockchain technology in agriculture and food supply chains. Trends in Food Science & Technology, 91, pp. 640 - 652.
7. Lewis, P., Perez, E., Piktus, A., Petroni, F., Karpukhin, V., Goyal, N., ... & Kiela, D. (2020). Retrieval-augmented generation for knowledge-intensive NLP tasks. Advances in Neural Information Processing Systems (NeurIPS), 33, pp. 9459 - 9474.