Bài viết làm rõ sự cần thiết chuyển từ tiếp cận cấp xã sang cấp thôn, bản - nơi chính sách tác động trực tiếp và phản ánh rõ nhất mức độ thụ hưởng của người dân. Thông qua phân tích thực trạng và các thách thức chủ yếu, một số nhóm giải pháp chính sách được đề xuất nhằm tăng cường phân cấp, phát huy nội lực cộng đồng và nâng cao hiệu quả triển khai. Đồng thời, khung tiêu chí nông thôn mới cấp thôn, bản được gợi ý theo ba trụ cột: điều kiện sống cơ bản, năng lực tự quản cộng đồng và sinh kế - an sinh, hướng tới phát triển thực chất, bền vững và lấy người dân làm trung tâm.
Từ khóa: Nông thôn mới, cấp thôn, bản, dân tộc thiểu số và miền núi, khung tiêu chí.
New Rural Development at the village level in ethnic minority and mountainous areas: Issues, policies and criteria
Abstract
New rural development in the 2026-2030 period is taking place in a context of significant changes in local governance structures, administrative reorganization, and the integration of national target programs, which calls for a renewed approach, particularly in disadvantaged ethnic minority and mountainous areas. This paper highlights the necessity of shifting from a commune-level to a village-level approach, where policies directly affect and most clearly reflect people’s actual benefits. Based on an analysis of current conditions and key challenges, several policy solutions are proposed to strengthen decentralization, enhance community-driven development, and improve implementation effectiveness. In addition, a framework for village-level new rural development criteria is suggested, structured around three pillars: basic living conditions, community self-governance capacity, and livelihoods and social welfare, aiming at substantive, sustainable development with people at the center.
Keywords: New rural development, village level, ethnic minority and mountainous areas; criteria framework.
JEL Classifications: R20, R22, Q56.
1. Bối cảnh và yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới
Sau 15 năm triển khai (2010-2025), Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) đã có những tác động sâu rộng, góp phần thay đổi rõ rệt diện mạo nông thôn và nâng cao chất lượng đời sống người dân. Tuy nhiên, kết quả đạt được giữa các vùng chưa đồng đều, còn có sự chênh lệch đáng kể giữa khu vực đồng bằng với vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) [1, 2].
Bước sang giai đoạn mới, bối cảnh thể chế và hành chính có những thay đổi lớn ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng NTM, đó là việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; sắp xếp lại đơn vị hành chính; tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị; và tích hợp ba Chương trình MTQG thành một Chương trình thống nhất cho giai đoạn 2026-2035 [3, 4]. Đáng chú ý, Chương trình tích hợp được phân chia thành hai hợp phần, trong đó hợp phần thứ hai dành riêng cho vùng đồng bào DTTS&MN [4], khẳng định đây là địa bàn có những yêu cầu mang tính đặc thù, đòi hỏi cách tiếp cận phù hợp với bản sắc văn hóa, điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển riêng.
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2026-2030 [5] đã phân loại xã thành 3 nhóm, trong đó xã nhóm 3 là xã khu vực II và III thuộc vùng DTTS&MN. Dù định mức đạt chuẩn cho nhóm này thấp hơn, thực tế cho thấy việc đạt chuẩn NTM đối với các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) vẫn là thách thức rất lớn: giai đoạn 2021-2025, chỉ 15,6% số xã khu vực III đạt chuẩn NTM; 1.585 xã chưa đạt chuẩn đa phần là xã khu vực II và khu vực III [6].
Bên cạnh đó, sắp xếp đơn vị hành chính đã làm thay đổi căn bản quy mô xã. Theo thống kê, sau sắp xếp, diện tích bình quân một xã mới là 115 km², gấp 2,9 lần trước sắp xếp (39,4 km²); số thôn bình quân của một xã mới là 24,15 thôn, gấp 2,8 trước sắp xếp (8,73 thôn) [7]. Điều này có nghĩa xã phải quản lý địa bàn rộng gấp ba, số thôn gần gấp ba, trong khi bộ máy được tinh gọn. Khoảng cách từ thôn xa nhất đến trung tâm xã tăng lên đáng kể, có nơi lên tới 35 km [8], đặt ra yêu cầu cấp thôn phải đảm nhiệm vai trò tự quản mạnh mẽ hơn.
Trong bối cảnh đó, các thôn, bản - với tư cách là thiết chế tự quản của cộng đồng - nổi lên như không gian nền tảng, nơi chính sách tác động trực tiếp và mức độ thụ hưởng của người dân được phản ánh rõ nhất. Đặc biệt, trong khi xã được vận hành như một “huyện thu nhỏ” thì thôn dù không phải là cấp hành chính nhưng theo định hướng sắp xếp lại [9] sẽ ngày càng đảm nhiệm vai trò như một “xã thu nhỏ” ở quy mô cộng đồng. Thôn vì vậy trở thành cầu nối quan trọng giữa chính quyền và người dân, nhất là tại các địa bàn khó khăn, nơi nhiều tiêu chí NTM cấp xã khó có đủ điều kiện đạt chuẩn [6, 10, 11]. Tiếp cận xây dựng NTM cấp thôn, bản vì thế không chỉ phù hợp với định hướng “đảm bảo thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững” [12], mà còn là không gian thích hợp để thực hiện Chương trình MTQG sau tích hợp, đáp ứng yêu cầu của Hợp phần 2 dành riêng cho vùng DTTS&MN.
2. Sự cần thiết tiếp cận xây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản
Theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg, việc phân cấp cho UBND cấp tỉnh “trong trường hợp cần thiết ban hành tiêu chí thôn NTM” [5] là chủ trương có tính kế thừa và tạo sự linh hoạt cho các địa phương. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, từ thực tiễn 15 năm qua và bối cảnh mới, tiếp cận xây dựng NTM cấp thôn, bản ở vùng ĐBKK không còn là một lựa chọn “nếu cần”, mà đã trở thành một yêu cầu cấp thiết, vì:
Thứ nhất, đối với cấp xã, phần lớn các xã khu vực II và khu vực III có địa hình chia cắt, dân cư phân tán, suất đầu tư cao. Để đạt chuẩn những tiêu chí về hạ tầng cần nguồn lực rất lớn. Các xã này cũng khó có thể hoàn thành đồng bộ các tiêu chí như thu nhập, hộ nghèo, tổ chức sản xuất, môi trường do xuất phát điểm thấp, tỷ lệ nghèo cao, sinh kế thiếu bền vững. Khi xã được sáp nhập với quy mô rộng lớn hơn, thách thức này càng gia tăng [6].
Thứ hai, đối với cấp thôn, bản, tại vùng ĐBKK, sự gắn kết và đồng thuận thường thể hiện rõ nét nhờ các yếu tố tương đồng về văn hóa, tập quán, các mối quan hệ dòng họ - láng giềng - cộng đồng. Xây dựng NTM từ cấp thôn chính là phát huy các giá trị bản địa, văn hóa truyền thống, sức mạnh cộng đồng, tạo nền tảng góp phần giúp cấp xã đạt được kết quả tốt hơn trong thực hiện các tiêu chí NTM [10].
Thứ ba, mục tiêu cốt lõi của xây dựng NTM là nâng cao chất lượng đời sống người dân. Con đường đi tới mục tiêu đó không nhất thiết phải dựa trên kết quả hoàn thành các tiêu chí cấp xã. Việc cứng nhắc theo đuổi các tiêu chí cấp xã có thể trở thành hình thức, cần chuyển “tư duy tiêu chí” để đi vào thực chất những vấn đề trọng tâm cần ưu tiên giải quyết, trực tiếp tác động tới cộng đồng dân cư ở phạm vi các thôn nhằm giúp người dân được tham gia và thụ hưởng tốt hơn [13].
Thứ tư, tiếp cận từ cộng đồng thôn cũng là quá trình giúp tăng cường nhận thức, thay đổi tư duy phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự tham gia của cộng đồng, giảm tải áp lực “chỉ tiêu” cho cán bộ cơ sở. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng: “...đem lại sự chuyển biến tích cực rõ nét hơn về nếp sống tới từng thôn, bản, ấp, hộ gia đình và cuộc sống trực tiếp của mỗi người dân sinh sống ở nông thôn” [14].
Chính vì thế, có thể nói xây dựng NTM từ cấp thôn, bản là hướng đi tất yếu, không phụ thuộc vào việc có được coi là “trường hợp cần thiết” hay không. Chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh, cần chủ động triển khai hướng tiếp cận này như một nguyên tắc nền tảng. Thôn, bản chính là đơn vị không gian cốt lõi - nơi chính sách được hiện thực hóa, nơi người dân thực hành vai trò chủ thể, và nơi những giá trị cốt lõi của NTM được tạo lập một cách bền vững nhất.
Tất nhiên, có ý kiến cho rằng NTM cấp xã đã đủ mang lại lợi ích cho thôn, bản và việc thêm tiêu chí thôn chỉ gây phức tạp thủ tục. Quan điểm này đáng được xem xét. Tuy nhiên, khi xã được sáp nhập rộng lớn, một bộ tiêu chí cấp xã dù được thiết kế tốt đến đâu cũng khó bảo đảm sự công bằng và lan tỏa đến từng thôn, nhất là các thôn vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, việc triển khai xây dựng NTM xuống cấp thôn chính là cơ chế để gắn trách nhiệm của chính quyền xã với nhu cầu thực tế của cộng đồng dân cư, qua đó bảo đảm nguồn lực và chính sách được phân bổ công bằng, minh bạch. Ngược lại, việc bỏ qua cấp thôn có thể dẫn đến những hệ lụy lớn hơn: kết quả NTM thiếu tính bền vững, làm gia tăng khoảng cách về mức độ thụ hưởng giữa các thôn trong cùng một xã, và nguy cơ chương trình chỉ đạt được thành tích về mặt hình thức mà không tạo ra sự thay đổi thực chất trong đời sống cộng đồng dân cư. Cần xác định rõ xây dựng NTM cấp thôn, bản không phải là một cấp triển khai bổ sung, mà là sự chuyển đổi căn bản từ tiếp cận hành chính sang tiếp cận cộng đồng trong phát triển nông thôn.
3. Thực trạng và thách thức
3.1. Tổng quan về xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Theo thống kê của Bộ Dân tộc và Tôn giáo [15, 16], giai đoạn 2026-2030, cả nước có 1.489 xã, phường thuộc vùng đồng bào DTTS&MN (chiếm 44,8%), trong đó có 305 xã khu vực I (xã đang phát triển), 285 xã khu vực II (xã khó khăn) và 899 xã khu vực III (xã ĐBKK). Trong khi các xã khu vực I gồm nhiều phường thì các xã khu vực II và III hầu hết đều là đơn vị hành chính với tên gọi xã.
Thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2026-2030, xã khu vực II và khu vực III được phân định vào xã nhóm 3. Như vậy, tổng số xã nhóm 3 là 1.184 xã, chiếm 45,2% trong số 2.621 xã của cả nước. Gần một nửa số xã nhóm 3 tập trung ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc với 548 xã (chiếm 46,3%), riêng xã khu vực III có 449 xã (chiếm 49,9%).

Tổng số thôn, bản, tổ dân phố, khu phố… (gọi chung là thôn) thuộc vùng đồng bào DTTS&MN là 33.582 thôn, trong đó số thôn ĐBKK là 13.029 thôn. Theo Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025, tổng số thôn của cả nước tại thời điểm 01/7/2025 là 63.619 thôn, như vậy số thôn ĐBKK chiếm 20,5%. Các thôn ĐBKK cũng tập trung chủ yếu ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc với 8.391 thôn (chiếm 64,4% tổng số thôn ĐBKK).
Bức tranh chung cho thấy, vùng DTTS&MN - đặc biệt là các xã nhóm 3 và các thôn ĐBKK - vẫn là “lõi nghèo” và là địa bàn trọng tâm cần ưu tiên nguồn lực trong giai đoạn 2026-2030. Đây cũng chính là không gian mà việc tiếp cận xây dựng NTM cấp thôn, bản có ý nghĩa thực tiễn và cấp thiết nhất.
3.2. Những thách thức chủ yếu
Kết quả nghiên cứu cho thấy các xã và thôn ĐBKK thuộc vùng đồng bào DTTS&MN đang đối mặt với nhiều thách thức:
Thứ nhất, địa hình phức tạp, núi cao, chia cắt mạnh, khiến chi phí đầu tư hạ tầng cao gấp 2-3 lần vùng đồng bằng. Nhiều thôn, bản chỉ có đường đất, mùa mưa bị cô lập. Lũ quét, sạt lở đất, rét đậm, rét hại xuất hiện thường xuyên, làm hư hỏng các công trình mới xây dựng. Nhiều thôn thiếu đường giao thông bảo đảm, nước sinh hoạt hợp vệ sinh, điện lưới, nhà văn hóa và điểm sinh hoạt cộng đồng.
Thứ hai, sinh kế chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp quy mô nhỏ, năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và biến động thị trường. Mô hình sản xuất tự cung tự cấp vẫn chiếm ưu thế. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, khả năng tích lũy và chống chịu rủi ro kém. Các mô hình sinh kế mới, liên kết sản xuất phát triển chậm do thiếu vốn, kỹ thuật và kết nối thị trường.
Thứ ba, trình độ dân trí và tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (chỉ 15-25% tại nhiều địa phương). Thanh niên di cư tìm việc làm xa khiến lực lượng lao động tại chỗ suy giảm, già hóa. Ở một số địa phương, rào cản ngôn ngữ làm hạn chế tiếp cận thông tin, đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật.
Thứ tư, năng lực của bộ máy chính quyền cơ sở còn hạn chế, nhiều xã chỉ có một cán bộ không chuyên trách phụ trách NTM và kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực. Cán bộ thôn thiếu kỹ năng tổ chức cộng đồng, lập kế hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ. Sự tham gia của người dân nhiều nơi còn hình thức, thụ động. Các thiết chế cộng đồng truyền thống (già làng, trưởng bản) có xu hướng suy yếu ở một số nơi.
Thứ năm, việc tích hợp ba Chương trình MTQG diễn ra song hành với tinh gọn bộ máy, sáp nhập địa giới và luân chuyển cán bộ. Nhiều cán bộ cơ sở lần đầu tiếp nhận nhiệm vụ về xây dựng NTM, lại kiêm nhiệm nhiều mảng khác. Sự phân cấp và trao quyền thực sự cho cấp thôn chưa rõ ràng về cơ chế. Nguồn vốn phân bổ chậm, giải ngân thấp và không ổn định.
Thứ sáu, tình trạng tảo hôn, ma túy (đặc biệt ở xã biên giới), lừa đảo trực tuyến, tín dụng đen, mất cân bằng giới tính do di cư vẫn tồn tại. Bản sắc văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một. Môi trường sống tại nhiều thôn chưa được cải thiện, ô nhiễm từ rác thải, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi; tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp ở nhiều nơi.
Thứ bảy, mục tiêu của Chương trình đến năm 2030 là “phấn đấu vùng DTTS&MN cơ bản không còn xã, thôn ĐBKK” [3, 4]. Trong khi đó, số liệu thống kê cho thấy cả nước hiện còn tới 899 xã ĐBKK (khu vực III) và 13.029 thôn ĐBKK [15, 16], chiếm tỷ lệ không nhỏ. Với tiến độ và nguồn lực hiện tại, việc đưa các xã, thôn này thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn trong vòng 5 năm (2026-2030) là một áp lực rất lớn, đòi hỏi những giải pháp đột phá, có tính hệ thống và nguồn lực tập trung cao.
4. Giải pháp chính sách
Thực trạng, thách thức và những vấn đề đặt ra cho thấy để thúc đẩy xây dựng NTM cấp thôn, bản ở vùng đồng bào DTTS&MN theo hướng thực chất và bền vững giai đoạn 2026-2030, cần tập trung vào các nhóm giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng trao quyền thực chất cho cấp thôn. Trong bối cảnh xã được sáp nhập với quy mô địa giới rộng lớn, cần có cơ chế cho phép thôn chủ động tiếp nhận hỗ trợ, lập kế hoạch, quản lý và giám sát các hoạt động cộng đồng quy mô nhỏ. Thí điểm cấp kinh phí hoạt động hằng năm cho Ban Phát triển thôn do cộng đồng quản lý.
Hai là, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu theo hướng phân tán, đa điểm. Với địa bàn xã rộng, cần bố trí các điểm dịch vụ thiết yếu theo các thôn/cụm thôn, như điểm trường, nơi sơ tán khẩn cấp, điểm cấp nước sinh hoạt, địa chỉ tạm lánh hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, điểm y tế lưu động… Các điểm này do lực lượng tại chỗ (tổ tự quản thôn, đội xung kích, cộng tác viên xã hội) vận hành và phối kết hợp.
Ba là, phát triển sinh kế bền vững dựa trên lợi thế bản địa và thích ứng biến đổi khí hậu. Khuyến khích các mô hình sinh kế đặc thù theo vùng: vùng núi phát triển dược liệu bản địa, chăn nuôi đại gia súc, nông - lâm kết hợp, VACR; vùng ven biển phát triển nuôi trồng thủy sản thích ứng mặn, rừng ngập mặn, du lịch cộng đồng quy mô nhỏ. Hỗ trợ kỹ thuật, kết nối thị trường và tín dụng ưu đãi cho các hộ, nhóm hộ có khả năng dẫn dắt. Thúc đẩy liên kết sản xuất ở quy mô thôn, phát triển sản phẩm OCOP gắn với văn hóa bản địa. Vai trò của tổ khuyến nông cộng đồng cần được phát huy để hỗ trợ các thôn.
Bốn là, xây dựng đội ngũ Ban Phát triển thôn kết hợp hài hòa giữa người có uy tín và lực lượng trẻ năng động. Người có uy tín (già làng, trưởng bản) đóng vai trò cố vấn, tạo đồng thuận, vận động cộng đồng. Lực lượng trẻ (bí thư chi đoàn, trưởng thôn) đảm nhận vai trò điều hành, lập kế hoạch, ứng dụng công nghệ, kết nối thị trường. Tổ chức đào tạo bài bản theo phương pháp “cầm tay chỉ việc” về kỹ năng lập kế hoạch thôn, tổ chức họp dân, quản lý xung đột, giám sát đầu tư.
Năm là, tăng cường kết nối giữa xã và thôn trong mô hình chính quyền hai cấp. Xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng, trong đó xã đóng vai trò kiến tạo, hỗ trợ kỹ thuật, phân bổ nguồn lực; thôn là chủ thể tổ chức thực hiện, vận động cộng đồng. Ứng dụng công nghệ thông tin (nhóm Zalo, nền tảng số) để quản lý thông tin, báo cáo, giám sát tiến độ, rút ngắn khoảng cách địa lý.
Sáu là, phát huy vai trò chủ thể của người dân và củng cố sự gắn kết cộng đồng. Tăng cường các hình thức truyền thông; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản; hoàn thiện và thực thi hương ước, quy ước thôn; khuyến khích các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao truyền thống; xây dựng cơ chế tôn vinh thôn điển hình, chấm điểm thi đua giữa các thôn; tạo không gian để thanh niên, phụ nữ trẻ tham gia vào các tổ tự quản, nhóm sở thích, câu lạc bộ khởi nghiệp, tạo nguồn lực kế cận cho quản trị cộng đồng.
Bảy là, từng bước thay đổi tư duy trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ bên ngoài. Thực hiện các hình thức khuyến khích dựa trên mức độ tham gia và đóng góp của cộng đồng, dựa trên khối lượng công việc hoàn thành hàng năm, theo nguyên tắc “làm nhiều, được hỗ trợ nhiều”. Các khoản hỗ trợ (xi măng, kinh phí, vật tư) đóng vai trò “vốn mồi” để kích thích đối ứng từ người dân. Qua đó, khơi dậy tinh thần tự lực, tự quản và trách nhiệm của người dân trong xây dựng NTM cấp thôn.
Tám là, xây dựng lộ trình và cơ chế đặc thù để xóa xã, thôn ĐBKK. Trước mục tiêu “cơ bản không còn xã, thôn ĐBKK” vào năm 2030, cần rà soát, phân loại chi tiết từng xã, thôn ĐBKK theo mức độ khó khăn và nguyên nhân (hạ tầng, sinh kế, địa hình, dân cư phân tán...). Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, áp dụng cơ chế đặc thù về định mức vốn và tiêu chí đạt chuẩn cho nhóm địa bàn này.
5. Định hướng khung tiêu chí nông thôn mới cấp thôn, bản
5.1. Một số vấn đề đặt ra
Cần xác định rõ xây dựng NTM cấp thôn, bản không phải là sự thu nhỏ hay sao chép máy móc từ bộ tiêu chí cấp xã mà là một mô hình phát triển dựa vào cộng đồng với logic hoàn toàn khác. Bởi vì:
- Bản chất của thôn, bản là một cộng đồng tự quản, không phải là một cấp hành chính. Khác với xã - đơn vị có tư cách pháp nhân, ngân sách riêng và hệ thống chính quyền chính thức, thôn vận hành dựa trên sự đồng thuận, gắn kết xã hội và các thiết chế cộng đồng. Do đó, thước đo thành công của NTM cấp thôn không thể chỉ là các chỉ tiêu về hạ tầng hay kinh tế, mà còn phải là mức độ trưởng thành của cộng đồng, năng lực tự quản và sự gắn kết xã hội;
- Mục tiêu cốt lõi của xây dựng NTM cấp thôn là thay đổi tư duy, nhận thức và hành vi của người dân, khơi dậy tinh thần tự lực, hợp tác và trách nhiệm cộng đồng. Đây là những yếu tố “mềm”, khó đo lường bằng các chỉ tiêu cứng về tỷ lệ bê tông hóa hay số mét đường giao thông. Một khung tiêu chí phù hợp cần phản ánh được những chuyển biến về chất trong đời sống cộng đồng, chứ không chỉ dừng lại ở các kết quả đầu tư vật chất;
- Trong bối cảnh các xã được sáp nhập với quy mô địa giới rộng lớn hơn, số lượng thôn, bản trong mỗi xã tăng lên đáng kể, khoảng cách từ thôn đến trung tâm xã xa hơn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thôn, bản phải đảm nhiệm ngày càng nhiều vai trò tự quản, từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến giám sát và duy trì kết quả. Một khung tiêu chí định hướng rõ ràng sẽ là công cụ hữu ích để hướng dẫn và thúc đẩy quá trình phân cấp, trao quyền hiệu quả.
Chính vì thế, việc xây dựng tiêu chí NTM cấp thôn cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau: (1) Lấy người dân làm trung tâm. Mọi chỉ tiêu đều hướng đến việc nâng cao chất lượng sống, mức độ hài lòng và hạnh phúc của người dân; (2) Bảo đảm mức sống tối thiểu và an toàn. Khung tiêu chí cần xác định một “mức sàn” về các điều kiện sống cơ bản mà bất kỳ thôn nào cũng cần đạt; (3) Coi trọng nội lực cộng đồng và năng lực tự quản. Sức mạnh của thôn nằm ở sự đoàn kết, đồng thuận, các thiết chế cộng đồng và sự tham gia của người dân; (4) Linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng vùng, có phân loại thôn. Các địa phương cần thiết kế khung tiêu chí theo hướng phân vùng, phân loại thôn, với các ngưỡng yêu cầu khác nhau cho từng nhóm; (5) Bảo đảm tính khả thi trong bối cảnh xã rộng, dân cư phân tán. Các điểm dịch vụ xã hội thiết yếu cần được bố trí phân tán theo cụm thôn, do lực lượng tại chỗ vận hành.
5.2. Gợi ý khung tiêu chí
Trên cơ sở các nguyên tắc trên, khung tiêu chí NTM cấp thôn, bản được định hướng gồm 3 nhóm nội dung lớn, phản ánh ba trụ cột của một cộng đồng phát triển bền vững:
Nhóm 1: Điều kiện sống cơ bản và hạ tầng thiết yếu
Nhóm này tập trung vào việc bảo đảm các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày của người dân, bao gồm: giao thông nội thôn (ưu tiên khả năng đi lại bốn mùa, không nhất thiết phải cứng hóa toàn bộ), nước sinh hoạt hợp vệ sinh (chấp nhận giải pháp phân tán ở vùng khó khăn), nhà ở an toàn (xóa nhà tạm, nhà dột nát), điện sinh hoạt (đảm bảo an toàn, ổn định), vệ sinh môi trường (có điểm tập kết rác, nhà tiêu hợp vệ sinh), điểm sinh hoạt cộng đồng (có thể là nhà văn hóa hoặc địa điểm linh hoạt), và năng lực phòng chống thiên tai cơ bản (tổ xung kích, điểm sơ tán an toàn).
Nhóm 2: Nội lực cộng đồng và năng lực tự quản
Nhóm này phản ánh sức mạnh tinh thần và tổ chức của cộng đồng, bao gồm: chất lượng hoạt động của Ban Phát triển thôn (được thành lập dân chủ, có kế hoạch, minh bạch, hoạt động hiệu quả, có sự kết hợp hài hòa giữa người có uy tín - già làng, trưởng bản - và lực lượng trẻ năng động có khả năng tiếp thu công nghệ, lập kế hoạch, kết nối thị trường); sự thực thi của hương ước, quy ước thôn; tính minh bạch trong quản lý tài chính và các hoạt động cộng đồng; mức độ tham gia của người dân vào các cuộc họp và các tổ, nhóm tự quản; tình hình an ninh trật tự; và việc duy trì bản sắc văn hóa truyền thống. Đây là nhóm yếu tố quyết định tính bền vững của kết quả NTM.
Nhóm 3: Sinh kế, an sinh và mức độ hài lòng của người dân
Nhóm này hướng đến chất lượng sống thực chất và mục tiêu cuối cùng của phát triển, bao gồm: sự đa dạng hóa sinh kế (tỷ lệ hộ có từ 2 nguồn thu nhập trở lên), sự tồn tại của các mô hình kinh tế phù hợp với đặc thù địa phương, kết quả giảm nghèo đa chiều (giảm bền vững, không tái nghèo), các hoạt động hỗ trợ nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người già, hộ khó khăn, người dân tộc thiểu số), khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế cơ bản, và đặc biệt là mức độ hài lòng, hạnh phúc của người dân đối với cuộc sống tại thôn.
Khung định hướng nêu trên không phải là một bộ tiêu chí cứng nhắc để áp dụng máy móc, mà là một khung tham chiếu giúp các địa phương, cộng đồng thôn, bản tự xác định lộ trình và ưu tiên phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của mình. Trên cơ sở đó, các tỉnh, thành phố có thể xây dựng bộ tiêu chí thôn NTM cụ thể cho địa phương mình, với các chỉ tiêu lượng hóa phù hợp, có phân vùng, phân tầng theo mức độ khó khăn và đặc điểm sinh thái. Việc thiết kế tiêu chí cần tính đến sự đa dạng của các loại hình thôn (miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, hải đảo) để bảo đảm tính công bằng và khả thi. Quan trọng nhất là quá trình xây dựng và thực hiện tiêu chí phải có sự tham gia thực chất của cộng đồng, bảo đảm các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo thành công.
Nguyễn Ngọc Luân1
1Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Báo cáo tổng kết Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình MTQG xây dựng NTM ngày 22/6/2025.
2. Nguyễn Ngọc Luân (2025). Xây dựng NTM: Thành tựu và định hướng đến năm 2035. Tạp chí Môi trường, 8. ISSN: 2615-9597.
3. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035.
4. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030.
5. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2026-2030.
6. Trung tâm Tư vấn chính sách nông nghiệp (2025). Báo cáo đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM ở các địa bàn ĐBKK khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2026-2030. Báo cáo nghiên cứu.
7. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2026 Trung ương (2026). Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2026.
8. VTV (2025). Xóa khoảng cách bản - xa trung tâm sau sáp nhập. Truy cập từ https://vtv.vn/xoa-khoang-cach-ban-xa-trung-tam-sau-sap-nhap-100250710073435649.htm.
9. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 08/4/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới.
10. Nguyễn Ngọc Luân (2022). Tiếp cận xây dựng NTM cấp thôn, bản ở vùng ĐBKK nhằm khơi dậy nội lực cộng đồng, phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Sách: Thực hiện Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tr 335-349). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.
11. Trần Công Thắng & Nguyễn Ngọc Luân (2025). Xây dựng Bộ tiêu chí NTM giai đoạn 2026-2030: Một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới. Tạp chí Môi trường, 8. ISSN: 2615-9597.
12. Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
13. Nguyễn Ngọc Luân, Hồ Văn Bắc, Hà Quang Trung (2025). Tổng quan một số vấn đề lý luận về xây dựng NTM cấp thôn, bản. Tạp Chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(12), 1661-1671.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
15. Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026). Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/01/2026 công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào DTTS&MN, thôn ĐBKK, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030;
16. Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026). Quyết định số 104/QĐ-BDTTG ngày 27/2/2026 công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào DTTS&MN, thôn ĐBKK, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030 đợt 2.