Phát biểu khai mạc Hội thảo, bà Mai Kim Liên, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu nhấn mạnh, BĐKH đang diễn biến ngày càng cực đoan, khó lường và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các quốc gia dễ bị tổn thương như Việt Nam. Những năm gần đây, nhiệt độ trung bình toàn cầu liên tục gia tăng, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, thương mại, sinh kế và an ninh lương thực.

Nông nghiệp tiếp tục được xác định là lĩnh vực chịu tác động mạnh nhất của BĐKH. Chỉ riêng năm 2024, khoảng 294.600 ha lúa và hơn 87.000 ha hoa màu bị thiệt hại do thiên tai cực đoan. Các hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lớn và bão mạnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất mà còn làm gián đoạn chuỗi cung ứng, gia tăng chi phí logistics và suy giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản.
Trong bối cảnh đó, thích ứng với BĐKH không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với phát triển bền vững. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung chính sách thích ứng thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 và đặc biệt là Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH (NAP cập nhật) được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024.
NAP cập nhật là “bản thiết kế chiến lược” cho quá trình thích ứng quốc gia, với 161 nhiệm vụ cụ thể trải rộng trên nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, hạ tầng, tài nguyên nước, y tế, an sinh xã hội, khoa học công nghệ và quản trị rủi ro thiên tai. Trong đó, nông nghiệp là một trong những trụ cột trọng tâm với 27 nhiệm vụ liên quan đến phát triển nông nghiệp thông minh, thích ứng khí hậu và giảm phát thải.
Chính sách thương mại trong liên kết thích ứng BĐKH
Trong bối cảnh yêu cầu thích ứng với BĐKH ngày càng cấp thiết, vấn đề đặt ra không chỉ là hoàn thiện chính sách mà còn là tăng cường tính liên kết trong tổ chức thực hiện. Trong chuỗi liên kết đó, chính sách thương mại được nhìn nhận là một công cụ quan trọng thúc đẩy thích ứng khí hậu thông qua mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ, tiếp cận tài chính xanh và nâng cấp tiêu chuẩn sản xuất.
Theo Báo cáo Thương mại Thế giới 2022 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), BĐKH có thể làm gián đoạn các tuyến vận tải biển, vốn chiếm đến 80% khối lượng thương mại toàn cầu, đồng thời tác động tiêu cực đến sản lượng nông sản và hàng hóa xuất khẩu từ các nền kinh tế dễ tổn thương, làm tăng chi phí và rủi ro trong thương mại quốc tế.
Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ và hạn hán không chỉ làm suy giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường quốc tế, từ đó tác động trực tiếp đến kim ngạch thương mại và an ninh lương thực toàn cầu. Có thể thấy rõ, thương mại và thích ứng với BĐKH có mối quan hệ hai chiều. Một mặt, thương mại tạo điều kiện tiếp cận công nghệ thích ứng, tạo nguồn lực tài chính và thúc đẩy nâng cấp tiêu chuẩn sản xuất. Mặt khác, các hoạt động thích ứng cũng góp phần ổn định nguồn cung, nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh thương mại xanh đang trở thành xu thế toàn cầu, các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), dấu chân các-bon, truy xuất nguồn gốc và cơ chế điều chỉnh các-bon xuyên biên giới đang tái định hình thị trường xuất khẩu nông sản. Điều này đòi hỏi các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam, phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình sản xuất theo hướng phát thải thấp, minh bạch và bền vững hơn.

Thúc đẩy nông nghiệp xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Tại Hội thảo, một số mô hình được giới thiệu cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc kết hợp thích ứng khí hậu với thương mại và chuỗi giá trị. Điển hình là mô hình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. So với phương thức truyền thống, mô hình này giúp giảm hơn 50% lượng giống gieo sạ, giảm trên 30% lượng phân đạm, tiết kiệm 30 - 40% lượng nước tưới và giảm 20 - 30% chi phí sản xuất. Đồng thời, lợi nhuận của nông dân tăng đáng kể và phát thải khí nhà kính giảm khoảng 2 - 6 tấn CO2 tương đương/ha.
Bên cạnh đó, nhiều mô hình thích ứng dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái và cộng đồng cũng đang được triển khai rộng khắp cả nước. Theo thống kê của Cục Biến đổi khí hậu, đến năm 2024, Việt Nam đã có 936 mô hình thích ứng với BĐKH, bao gồm 174 mô hình dựa vào tự nhiên, 75 mô hình dựa vào hệ sinh thái và 687 mô hình dựa vào cộng đồng. Các mô hình này tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường.
Đáng chú ý, nhiều mô hình đã bước đầu gắn thích ứng khí hậu với thị trường và tạo giá trị gia tăng cho địa phương. Mô hình trồng rừng gỗ lớn đạt chứng chỉ FSC tại Tuyên Quang giúp tăng thu nhập 15 - 20% so với phương thức truyền thống; mô hình thanh long “xanh” tại Bình Thuận cắt giảm khoảng 68% lượng phát thải các-bon nhờ ứng dụng điện mặt trời và công nghệ truy xuất nguồn gốc; hay mô hình “Cây xoài nhà tôi” tại Đồng Tháp cho phép người tiêu dùng trực tiếp giám sát toàn bộ quy trình canh tác thông qua nền tảng số, qua đó tăng niềm tin thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.

Tuy nhiên, Hội thảo cũng chỉ ra nhiều rào cản trong quá trình kết nối giữa thích ứng khí hậu và chính sách thương mại. Các chuyên gia cho rằng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết chuỗi giá trị còn yếu; chi phí chứng nhận xanh và truy xuất nguồn gốc cao; hệ thống dữ liệu số chưa đồng bộ; trong khi các chính sách xúc tiến thương mại xanh vẫn chưa thực sự rõ nét.
Một trong những khoảng trống lớn hiện nay là việc lồng ghép nội dung thích ứng BĐKH vào chính sách thương mại và các hiệp định thương mại tự do. Dù Việt Nam đã tham gia 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), song các nội dung liên quan đến thích ứng khí hậu vẫn chưa được tích hợp đầy đủ vào các công cụ hỗ trợ thương mại, xúc tiến thị trường hay phát triển chuỗi giá trị xuất khẩu.
Để khắc phục các hạn chế này, các chuyên gia đề xuất cần xây dựng Chương trình quốc gia về xúc tiến thương mại nông sản bền vững; thúc đẩy tín dụng xanh, bảo hiểm chỉ số thời tiết và chi trả dịch vụ hệ sinh thái; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về phát thải thấp và truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, tăng cường phối hợp liên ngành giữa môi trường, nông nghiệp, công thương, tài chính và khoa học công nghệ nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai các hoạt động thích ứng.
Trong bối cảnh các rào cản xanh và tiêu chuẩn các-bon ngày càng trở thành xu thế chủ đạo của thương mại toàn cầu, thích ứng với BĐKH không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là điều kiện để duy trì năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia. Theo đó, thương mại cần được nhìn nhận như một động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh, thay vì chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa đơn thuần. Việc tích hợp thích ứng khí hậu vào chính sách thương mại không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro trước các cú sốc khí hậu mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát thải thấp và có giá trị gia tăng cao hơn.
Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh. Trong tiến trình đó, việc kết nối giữa thích ứng BĐKH và chính sách thương mại được xem là bước đi cần thiết nhằm nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm sinh kế cho người dân và thúc đẩy phát triển bền vững trong dài hạn.