Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Việt Nam có tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo. Theo đó, Việt Nam đã và đang xây dựng chính sách, pháp luật cho việc triển khai, vận hành, hoạt động và phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Bài viết phân tích bối cảnh Việt Nam với việc thực thi cam kết zero, đánh giá chính sách, pháp luật Việt Nam về năng lượng tái tạo, từ đó, bài viết gợi mở một số đề xuất để năng lượng tái tạo thực sự phát huy hiệu quả trong thúc đẩy thực thi cam kết net zero.
Từ khóa: Net zero, năng lượng tái tạo, Việt Nam, thực thi cam kết net zero.
VIETNAM POLICIES AND LAWS ON RENEWABLE ENERGY AIMED AT IMPLEMENTING THE NET ZERO 2050 COMMITMENT: CURRENT SITUATION AND SOME PROPOSALS
Abtract
Vietnam, along with other countries, made a net-zero commitment at the 2021 Conference of Parties to the United Nations Framework Convention on Climate Change (COP26). Determined to fulfill international commitments and pursue sustainable development goals, Vietnam has developed and implemented a plan to enforce these international commitments using various tools and measures. Among these, the transition from fossil fuels to clean, renewable energy plays a fundamental role. Given its geographical location and natural conditions, Vietnam has significant potential for renewable energy development. Accordingly, Vietnam has been developing policies and laws for the deployment, operation, and development of renewable energy in Vietnam. This article analyzes the context of Vietnam's implementation of the net-zero commitment, evaluates Vietnam's policies and laws on renewable energy, and suggests some proposals to ensure renewable energy truly contributes to the effective implementation of the net-zero commitment.
Keywords: Net zero, Vietnam, Renewable energy, COP26.
JEL Classifications: Q55, Q56, Q57, Q58.
1. Đặt vấn đề
Theo Liên hợp quốc, Net zero còn được hiểu là lượng phát thải ròng bằng “0” tức là cắt giảm lượng khí thải các-bon xuống mức thấp và lượng khí thải còn lại này có thể được thiên nhiên và các biện pháp loại bỏ các-bon dioxide khác thấp thụ, từ đó không còn lượng các-bon dư thừa trong khí quyển . Trong đó, ngành năng lượng là nguồn gốc của khoảng ¾ lượng khí phát thải nhà kính hiện nay và nắm giữ chìa khóa để ngăn chặn những tác động xấu nhất của BĐKH. Vì thế, tại COP 28, các bên thống nhất các bên đã đưa ra cam kết về năng lượng tái tạo toàn cầu và sử dụng hiệu quả năng lượng “để toàn cầu đáp ứng mục tiêu chung của Thỏa thuận Paris là duy trì mức tăng nhiệt độ dưới 2°C trong khi theo đuổi các nỗ lực hạn chế mức nóng lên ở mức 1,5°C, tốc độ và quy mô triển khai năng lượng tái tạo và hiệu quả sử dụng năng lượng phải tăng lên đáng kể từ nay đến năm 2030, thúc đẩy xu hướng toàn cầu hướng tới các hệ thống năng lượng không sử dụng nhiên liệu hóa thạch không bị suy giảm trước và muộn nhất là vào giữa thế kỷ” . Theo đó, phát triển và sử dụng hiệu quả năng lượng tái tạo là điều cần thiết vừa đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển của các quốc gia và là công cụ hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính.
2. Thực trạng chính sách, pháp luật Việt Nam về năng lượng tái tạo nhằm thực thi cam kết Net Zero
a) Nội dung chính sách, pháp luật Việt Nam về năng lượng tái tạo
Quyết tâm đạt mức phát thải ròng về “0” vào năm 2050 của Việt Nam được khẳng định rõ ràng qua các chính sách, văn bản pháp luật Việt Nam. Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ngày 11/02/2020 đã đặt ra nhiệm vụ, giải pháp:“Xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Ưu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện” . Với phương châm “Điện là ngành hạ tầng quan trọng” , Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (gọi tắt là Quy hoạch điện VIII) và Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (được phê duyệt vào ngày 26/7/2023) đặt mục tiêu “hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tổng thể dựa trên năng lượng tái tạo, năng lượng mới”. Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch điện VIII xác định “phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 28 - 36% vào năm 2030. Định hướng đến năm 2050 tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 74 - 75%.” . Từ đó, hướng tới “Kiểm soát mức phát thải khí nhà kính từ sản xuất điện đạt khoảng 197 - 199 triệu tấn năm 2030 và còn khoảng 27 triệu tấn vào năm 2050. Hướng tới đạt mức phát thải đỉnh không quá 170 triệu tấn vào năm 2030 với điều kiện các cam kết theo JETP được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất” . Có thể thấy, tỷ trọng điện năng lượng tái tạo là minh chứng cho tham vọng phát triển năng lượng tái tạo là cốt lõi, trung tâm trong tiến trình đạt phát thải ròng về 0 của Việt Nam vào năm 2050. Để đạt mục tiêu này, Quy hoạch điện VIII đã đưa ra phương án phát triển với định mức phát triển cho từng loại nguồn điện, đặc biệt từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối…) và gia tăng tỷ trọng của năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện và điện năng sản xuất. Trong các nguồn năng lượng tái tạo, Việt Nam định hướng đẩy mạnh điện gió trên bờ, gần bờ và ngoài khơi, thúc đẩy khai thác tiềm năng điện mặt trời, ưu tiên, khuyến khích phát triển các loại hình điện sinh khối, điện sản xuất từ rác, chất thải rắn; và khai thác tối đa tiềm năng các nguồn thuỷ điện. Việc phát triển năng lượng tái tạo hướng đến hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng với kỳ vọng dự kiến hình thành 02 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng vào năm 2030 bao gồm sản xuất, truyền tải và tiêu thụ điện; công nghệ chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ liên quan, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng như Bắc bộ, Nam Trung bộ, Nam bộ.
Các dự án đầu tư năng lượng tái tạo được mở cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Theo đó, với đặc trưng của mỗi loại năng lượng tái tạo, điển hình như điện gió ngoài khơi, mọi hoạt động từ việc lựa chọn nhà đầu tư, thông qua chủ trương đầu tư, và cấp phép đầu tư cho các dự án. Đối với những dự án năng lượng như điện gió ngoài khơi phải được xem xét, quyết định trong bối cảnh bảo vệ quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới biển đảo quốc gia là chủ trương được khẳng định xuyên suốt nhiều văn kiện Đại hội Đảng, Quy hoạch, và văn bản pháp luật. Trên cơ sở Quyết định số 137/QĐ-BNNMT và Quyết định số 137/QĐ-BNNMT đã giao gần 64.000 ha mặt biển cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp – năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) để khảo sát đánh giá .
Đánh giá tác động môi trường đối với các dự án năng lượng tái tạo
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm tiểu tác động xấu đến môi trường. Theo Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các dự án đầu tư được phân thành nhóm I, II, III, IV theo mức độ tác động đến môi trường lần lượt là nhóm dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao, nhóm nguy cơ tác động xấu, nhóm ít có nguy cơ tác động xấu đến môi trường và nhóm dự án không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường . Phụ lục III, IV, V Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều cả Luật Bảo vệ môi trường đã lần lượt đưa ra danh mục dự án đầu tư nhóm I, nhóm II, nhóm III. Tuy các dự án điện năng lượng tái tạo như mặt trời, hay điện gió không được liệt kê cụ thể nên cần căn cứ vào các tiêu chí cụ thể để phân loại. Minh chứng dự án điện gió ngoài khơi là dự án có sử dụng khu vực biển, thuộc thẩm quyền giao khu vực biển của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ NN&MT) nên có thể xác định thuộc nhóm I.
Chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển điện năng lượng tái tạo
Khoản 9 Điều 5 Luật Điện lực năm 2024 khẳng định: “Có cơ chế ưu đãi, hỗ trợ cho từng loại hình nguồn điện, trong đó có các dự án thủy điện nhỏ được xác định theo quy định của pháp luật, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ và cơ chế đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi; khuyến khích đầu tư các dự án tham gia thị trường điện cạnh tranh.”. Pháp luật thiết lập cơ chế ưu đãi, hỗ trợ cho phát triển điện năng lượng tái tạo và các chính sách đối với mỗi loại năng lượng tái tạo không giống nhau. Minh chứng là đối với nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, để khuyến khích nhằm tăng cường sự hiện diện phổ biến của loại năng lượng này, Khoản Điều 13 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật điện lực về phát triển năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới được ban hành vào ngày 3/3/2024 đã quy định: “Hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ phát triển nguồn điện có công suất nhỏ hơn 100 kW có bán sản lượng điện dư vào hệ thống điện quốc gia được miễn hoặc không phải điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh”.

Ngoài ra, đối với các dự án điện năng lượng mới, “Căn cứ yêu cầu bảo đảm an ninh chung cấp điện, tiến bộ khoa học và công nghệ, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, Chính phủ quy định điều kiện và thời hạn áp dụng các cơ chế, chính sách sau đây đối với dự án điện năng lượng mới: a) Miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển; b) Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; c) Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn đối với dự án bán điện lên hệ thống điện quốc gia trên cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước và Nhân dân, an toàn hệ thống điện trong từng thời kỳ.” . Minh chứng, đối với điện gió ngoài khơi, Điểm b Khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư năm 2020, phát triển điện gió ngoài khơi là ngành, nghề được ưu đãi đầu tư. Các chính sách ưu đãi Nhà nước đưa ra đều căn cứ vào nhu cầu thực tiễn từ việc triển khai và vận hành dự án này. Cụ thể, theo Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới, các dự án điện gió ngoài khơi được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc chấp nhận chủ trương đầu tư trước ngày 31 tháng 12 năm 2030 được miễn tiền sử dụng khu vực biển và miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trong thời hạn 03 năm từ ngày khởi công và sau thời gian đó cũng được hưởng ưu đãi nhất định như giản 50% tiền sử dụng khu vực biển . Thậm chí, có những ưu đãi về vốn vay được quy định tại Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.
Cơ chế giá điện
Cơ chế giá điện áp dụng với mỗi loại năng lượng tái tạo không giống nhau. Bối cảnh thực tiễn quyết định đến cơ chế giá điện được đưa ra. Thậm chí, ngay cả đối một loại năng lượng như điện mặt trời, qua các giai đoạn phát triển khác nhau được áp dụng cơ chế khác nhau. Cụ thể, theo quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam đã thiết lập cơ chế FIT giá mua điện từ các dự án nối lưới tại thời điểm giao nhận điện là 2086 đồng/kWh (tương đương 9,35 Uscents/kWh chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) . Đối với dự án điện trên mái nhà “được thực hiện cơ chế bù trừ điện năng sử dụng hệ thống công tơ hai chiều. Trong một chu kỳ thanh toán, lượng điện phát ra từ các dự án trên mái nhà lớn hơn lượng điện tiêu thụ sẽ được chuyển sang chu kỳ thanh toán kế tiếp. Khi kết thúc năm hoặc khi kết thúc hợp đồng mua bán điện, lượng điện phát dư sẽ được bán cho bên mua điện” với giá bán điện như với dự án nối lưới. Quyết định này sau đó được thay thế bởi Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 6/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Theo đó, mức giá FiT được điều chỉnh thấp hơn và phân loại theo loại hình dự án. Giá điện đối với dự án điện mặt trời nổi là 1.783 VNĐ/kWWh (tương đương 7,69 Uscents/kWh), đối với dự án điện mặt trời mặt đất là 1.644 VNĐ/kWWh (tương đương 7,09 Uscents/kWh), đối với dự án điện mặt trời mái nhà là 1.953 VNĐ/kWWh (tương đương 8,38 Uscents/kWh) . Biểu giá này áp dụng đối với các dự án điện mặt trời nối lưới đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư trước ngày 23/11/2019 và có ngày vận hành thương mại của dự án hoặc một phần dự án trong giai đoạn từ ngày 01/7/2019 đến hết ngày 31/12/2020. Đối với dự án điện mặt trời mái nhà, được phép bán một phần hoặc toàn bộ điện năng sản xuất ra cho Bên mua là Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc Bên mua là tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp không sử dụng lưới điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam . Quy định về thời điểm vận hành thương mại dẫn đến “khoảng trống” trong pháp luật đối với những dự án chưa vận hành thương mại trước thời điểm 31/12/2020. “Khoảng trống” này đến năm 2022 và năm 2023 mới được giải quyết thông qua Thông tư số 15/2022/TT-BCT của Bộ Công thương ban hành ngày 3/10/2022 quy định phương pháp xây dựng khung giá phát điện nhà máy điện mặt trời, điện gió chuyển tiếp và Quyết định số 21/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương ngày 07/1/2023 ban hành khung giá phát điện nhà máy điện mặt trời, điện gió chuyển tiếp.
Hiện nay giá hợp đồng mua bán điện do bên bán điện và bên mua thoả thuận nhưng không vượt quá khung giá phát điện do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành tại năm cơ sở. Trường hợp năm cơ sở không có khung giá phát điện, giá hợp đồng mua bán điện được tính toán quy đổi các thành phần chi phí tương ứng để so với khung giá phát điện gần nhất sau năm cơ sở của loại hình nhà máy điện đó. Theo Quyết định số 988/QĐ-BCT ngày 10/4/2025 phê duyệt khung giá phát điện áp dụng cho loại hình nhà máy điện mặt trời đã xác định khung giá phát điện theo loại hình nhà máy điện mặt trời không có hệ thống pin tích trữ và nhà máy có hệ thống pin tích trữ trong năm 2025. Điều này mở ra mức giá trần có thể sẽ áp dụng cho cơ chế đấu thầù Theo Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội ban hành vào ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Cụ thể, đối với các dự án đầu tư kinh doanh điện lực có tiến độ vận hành từ năm 2026 đến hết năm 2030 trong hồ sơ mời thầu và có giai đoạn vận hành trong giai đoạn 2025 - 2030 theo quy hoạch phát triển điện lực hoặc theo phương án phát triển mạng lưới cấp điện theo quy hoạch tỉnh Điều 8 Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 quy định về giá điện trúng thầu khi đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh điện lực: “1. Trừ dự án nhiệt điện, dự án điện hạt nhân mô đun nhỏ và dự án điện gió ngoài khơi, dự án đầu tư kinh doanh điện lực có khung giá thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thì giá điện trúng thầu là giá hợp đồng mua bán điện và không cao hơn khung giá tại năm đấu thầu. Bên mua điện có trách nhiệm đàm phán và giao kết hợp đồng mua bán điện với nhà đầu tư trúng thầu theo quy định của pháp luật hiện hành” . Như vậy, qua các giai đoạn phát triển của năng lượng tái tạo, Việt Nam có sự thay đổi cơ chế giá điện cho phù hợp với bối cảnh thực tiễn hướng tới thu hút đầu tư, vừa dần thúc đẩy cơ hội, chủ động cho các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, đồng thời mở dần sang kinh tế thị trường có sự cạnh tranh.
b. Đánh giá chung
Mặc dù có tỷ lệ tăng trưởng năng lượng tái tạo nhanh đặc biệt giai đoạn 2019 – 2021 góp phần nâng cao tính bền vững môi trường của hệ thống năng lượng Việt Nam, nhưng an ninh năng lượng và công bằng năng lượng vẫn chưa thực sự được đảm bảo. Minh chứng là từng xảy ra thực trạng thiếu hụt điện vào năm 2023. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, với mức thiếu hụt điện năng trong thời gian tháng 5-6/2023 khoảng 500-600 triệu kWh, đã làm thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 1,4 tỷ USD, tương đương 0,3% GDP . Với tính toán như vậy, nếu không có sản lượng điện hàng năm bổ sung từ nguồn năng lượng tái tạo hiện nay thì chắc chắn thiệt hại cho nền kinh tế do thiếu điện sẽ rất lớn. Bên cạnh đó, hạ tầng lưới điện chưa đáp ứng được sản lượng điện. Minh chứng là một hệ thống điện mặt trời mái nhà quy mô công nghiệp nếu có mức dư thừa khoảng 20% sẽ phát gây áp lực lên lưới tương đương mức cao nhất khoảng 1000kw/h và đồng thời trong một khu vực địa lý hẹp, nhiều hệ thống điện mặt trời cùng dư thừa và gâp áp lực lên lưới thì lưới điện sẽ vượt quá giới hạn và gây sự cố gián đoạn. Đây cũng là lý do, hiện nay vào các “tháng cao điểm” hay “giờ cao điện”, thiếu hụt điện luôn là điều lo ngại bởi sự tác động đến đời sống, kinh tế - xã hội.
Như vậy, chính sách, pháp luật Việt Nam thực sự phát huy hiệu quả trong thu hút đầu tư vào năng lượng tái tạo nói chung, đặc biệt là điện mặt trời, điện gió. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy điểm bất cập về pháp lý để có thể đạt được mục đích hiệu quả, an ninh, an toàn năng lượng, cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật còn những “khoảng trống” dẫn đến thực tế còn có các dự án cần “chờ luật” để được điều chỉnh. Dự án điện mặt trời giai đoạn những năm 2000 – 2002. Hiện nay là các dự án điện gió ngoài khơi. “Khoảng trống” từ giao khu vực biển, quy hoạch vùng dẫn đến sự chậm trễ trong triển khai trên thực tế.
Thứ hai, số lượng các văn bản luật điều chỉnh năng lượng tái tạo được ban hành tương đối nhiều và không ít trong đó được sửa đổi, bổ sung trong khoảng thời gian ngắn dẫn đến khó tiếp cận, cập nhật.
Thứ ba, hướng đến an ninh năng lượng đồng thời gỉam phát thải khí nhà kính thì thị trường điện năng lượng tái tạo cần phải được thúc đẩy phát triển, vận hành, tránh gánh nặng cho ngân sách nhà nước nhưng cũng chi phí phù hợp cho người dân. Do đó, nên chăng thị trường điện cần được thiết lập cơ chế đấu thầu và cạnh tranh lành mạnh.
3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về năng lượng tái tạo để thực thi cam kết net zero của Việt Nam
Chính sách pháp luật hiện hành đang dần được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn ở quốc gia hiện nay. Các dự án năng lượng tái tạo tiếp tục được triển khai và mở rộng ở các vùng theo định hướng Quy hoạch điện VIII. Không thể phủ nhận hiệu quả bước đầu của các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là các dự án điện mặt trời, điện gió trên bờ, điện sinh khối . Để thu hút sự đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo và phù hợp với chủ trương của Nhà nước, bài viết gợi mở một số đề xuất sau:
Thứ nhất, Việt Nam nên ban hành luật năng lượng tái tạo
Năng lượng tái tạo không chỉ được phát triển ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Thực tế, không phải tất cả các quốc gia đều ban hành luật riêng quy định về năng lượng tái tạo, điển hình là Mỹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh ở Việt Nam cần thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào mảng này, việc tiếp cận các quy phạm pháp luật một cách rõ ràng, thống nhất là điều cần thiết. Mặc dù, Luật Điện lực năm 2024 đã bao quát các vấn đề pháp lý đối với một số loại năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, khi tiếp cận, muốn tìm hiểu chính sách, pháp luật để đầu tư, triển khai, vận hành và sử dụng một loại năng lượng tái tạo ở Việt Nam thì phải xem tìm đến nhiều văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật khác nhau. Điều này tạo ra những rào cản nhất định bởi các văn bản được ban hành có thể được thay thế rất nhanh như Nghị định số 56/2025/NĐ-CP được ban hành ngày 3/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực, sau đó vào ngày 8/5/2025 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 100/2025/NĐ-CP. Do đó, tập trung khung pháp lý cơ bản về năng lượng tái tạo trong một văn bản pháp luật sẽ thuận lợi trong việc tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu.
Thứ hai, xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật đảm bảo tính thống nhất, ổn định, tránh “khoảng trống” pháp luật
Hiện nay Việt Nam chưa có văn bản pháp luật riêng về năng lượng tái tạo mà nằm rải rác ở rất nhiều văn bản khác nhau. Mặc dù có một lượng lớn văn bản pháp luật nhưng vẫn tồn tại “khoảng trống” trong pháp luật. Cụ thể, trước hết, năng lượng tái tạo có thể bao gồm điện năng, nhiệt năng và nhiên liệu. Tuy nhiên, Khoản 14 Điều 4 Luật Điện lực năm 2024 mới quy định về điện năng. Các quy định về nhiệt năng và nhiên liệu đang được bỏ ngỏ trong hệ thống pháp luật. Đây là khoảng trống cần được nghiên cứu, bổ sung bởi thực tế Việt Nam cũng có tiềm năng với các loại năng lượng này như năng lượng được sản suất từ nguyên liệu sinh học, các cây trồng năng lượng… . Bên cạnh đó, bản thân các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực cũng vẫn còn khoảng trống. Cụ thể, trong lĩnh vực điện mặt trời, hiện nay áp dụng cơ chế đàm phán và quy định mức trần còn giá điện cụ thể phải đàm phán với EVN. Quy định này là điểm bỏ ngỏ bởi khi chưa biết trước được mức thấp nhất thì các nhà đầu tư khó xác định được hiệu quả đầu tư.
Ngoài ra, vào ngày 11/12/2025, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030. Nghị quyết bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 tạo nền tảng chính trị - pháp lý cho chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, nhiều quy định trong Nghị quyết cần được quy định chi tiết để có thể thực thi được trên thực tế như các quy định về đối tượng áp dụng cơ chế đấu thầu giá điện theo Điều 8 Nghị quyết số 253/2025/QH15; hay các quy định tại Điều 11 và Điều 12 về điện gió ngoài khơi,bao gồm: khảo sát dự án điện gió ngoài khơi, hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án điện gió ngoài khơim có chế phối hợp các cơ quan trong tiếp nhận hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư hay hồ sơ đề nghị khảo sát dự án điện gió ngoài khơi.
Thứ ba, xây dựng cơ chế đấu thầu đảm bảo phát triển thị trường cạnh tranh lành mạnh tạo nền tảng cho phát triển bền vững năng lượng tái tạo
Để thu hút đầu tư, phát triển, các dự án năng lượng tái tạo mới nhận được chính sách ưu đãi, hỗ trợ. Tuy nhiên, để thị trường điện năng lượng tái tạo có thể phát triển lâu dài, bền vững, tạo ra sản lượng điện theo yêu cầu mà giá điện vẫn phù hợp thì cần có cạnh tranh lành mạnh Theo đó, trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển của mỗi năng lượng tái tạo nên chăng thúc đẩy cơ chế đấu thầu không chỉ trong lựa chọn các nhà đầu tư mà ngay cả trong hoạt động mua bán điện. Hiện nay, thị trường điện mặt trời đã định hình tương đối rõ ràng nên cần hoàn thiện các định hướng đến cơ chế đấu thầu và mở rộng nhiều lựa chọn khách hàng mua điện (bên cạnh EVN là bên mua chính). Đối với các năng lượng đang ở giai đoạn khởi đầu như điện gió ngoài khơi, cần xây dựng, hoàn thiện hợp đồng mua bán điện minh bạch, công khai, xây dựng cơ chế mua bán điện rõ ràng.
Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về năng lượng tái tạo
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về năng lượng tái tạo gồm các loại năng lượng tái tạo, văn bản pháp luật điều chỉnh và các thông tin liên quan đến quy hoạch, khu vực phát triển năng lượng tái tạo,… Trong khi chưa xây dựng một văn bản luật khung về năng lượng tái tạo thì hệ thống giúp các nhà đầu tư tiếp cận chính xác hơn với chính sách hiện hành. Tiếp cận qua hệ thống cũng có thể góp phần mở rộng các nhà đầu tư không chỉ trong nước và quốc tế.
Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch để có thể chủ động trong việc phát triển hệ thống điện
Quy hoạch là căn cứ quan trọng để các cơ quan trung ương, các địa phương có triển khai trên thực tế, đồng thời cũng để các nhà đầu tư theo dõi, định hướng, xây dựng kế hoạch đầu tư phù hợp, hiệu quả, kịp thời. Do đó, nâng cao trách nhiệm trong công tác quy hoạch ở Trung ương và địa phương là điều cần thiết. Quy hoạch điện VIII đã đặt ra bức tranh tổng quan về các loại năng lượng tái tạo và khu vực phát triển loại năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, các quy định này mới là định hướng ban đầu. Để thực hiện hiệu quả, quy hoạch cần cụ thể hơn. Ví dụ, để phát triển điện gió ngoài khơi, Quy hoạch không gian biển đóng vai trò chiến lược, quan trọng. Do đó, hoàn thiện và công bố Quy hoạch không gian biển cần được tiến hành.
Kết luận
Năng lượng đóng vai trò tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia và năng lượng tái tạo đóng vai trò trung tâm trong lộ trình đạt mục tiêu net zero như cam kết quốc tế Việt Nam đã đưa ra. Cùng với tiềm năng về tài nguyên năng lượng tái tạo, và khung pháp lý dần được hoàn thiện, Việt Nam đang dần định hình và hình thành thị trường điện năng lượng tái tạo.
Dư Văn Toán1*, Phạm Thị Bắc Hà2
1Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn, môi trường và biển
2Đại học Luật Hà Nội
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Kỷ yếu diễn đàn kinh tế biển năm 2025.
2. Cục Điện lực và năng lượng tái tạo, Cục Năng lượng Đan Mạch. Hentet fra
https://ens.dk/sites/ens.dk/files/Globalcooperation/hvdc_for_pdp8_support_eng0107.pdf
3. Đóng góp do quốc gia tự quyết định năm 2022.
4. EREA & Danish energy (2024). Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam 2021 – Đường đến phát thải ròng bằng không.
5. Janet L. Sawin, Mainstreaming renewable energy in 21st century, World Watch Paper, 2004.
6. Pham Thị Bắc Hà (2025), Phát triển điện gió ngoài khơi – Pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2025.
7. Phạm Thị Bắc Hà (2025), Pháp luật Việt Nam về phát triển điện gió ngoài khơi: Thực trạng và đề xuất, Tạp chí luật học, Số 5 (300).
8. World Bank, Việt Nam 2045 tăng trưởng xanh hơn – con đường hướng tới tương lai bền vững,
9. Dư Văn Toán, Phạm Thanh Đảm & Phạm Quốc Sỹ (2023), Hiện trạng điện gió ngoài khơi và định hướng phát triển tại Việt Nam, Năng lượng Việt Nam.
10. Nguyễn Huy Hoạch. Nguồn điện LNG, điện gió ngoài khơi Việt Nam năm 2026 – cơ hội, rủi ro và phép thử thể chế, Năng lượng Việt Nam.
11. Viện Năng lượng. (2024). Mô hình hóa lưới điện cho kịch bản phát thải ròng bằng không, Báo cáo cơ sở cho Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam.
12. Viện Năng lượng. (2020). Phân tích HVDC cho Việt Nam. Phân tích lưới cao áp một chiều trong QHĐ8.
13. Website:
https://www.un.org
https://chinhphu.vn
https://nangluongvietnam.vn
https://www.un.org