Trong khuôn khổ chương trình khảo sát các mô hình nông nghiệp bền vững tại TP. Đà Nẵng, đoàn công tác Tạp chí Môi trường, thuộc Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã tìm hiểu hoạt động sản xuất, liên kết tiêu thụ và các giải pháp bảo vệ môi trường tại Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất và tiêu thụ rau an toàn Túy Loan (HTX Rau an toàn Túy Loan), xã Hòa Vang.

Trao đổi với đoàn công tác, bà Đặng Thị Yến Khanh, Giám đốc HTX Rau an toàn Túy Loan, cho biết vùng đất ven sông Túy Loan có truyền thống canh tác rau màu lâu đời. Trước đây, hoạt động sản xuất chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng hộ, trong khi việc kiểm soát chất lượng và tìm kiếm thị trường tiêu thụ còn nhiều hạn chế.
Từ thực tế đó, việc hình thành mô hình hợp tác xã đã tạo điều kiện để các hộ nông dân liên kết sản xuất, từng bước áp dụng quy trình kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm và chủ động hơn trong tổ chức tiêu thụ.
Chuyển đổi phương thức canh tác, nâng cao giá trị nông sản
Theo bà Đặng Thị Yến Khanh, quá trình phát triển của HTX gắn liền với sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người nông dân địa phương. Năm 2002, các hộ dân hình thành tổ hợp tác, câu lạc bộ trồng rau với 15 hộ tham gia, diện tích khoảng 1 ha. Đến năm 2011, HTX được thành lập với 22 hộ, diện tích khoảng 3 ha. Năm 2016, quy mô phát triển lên 40 thành viên, canh tác khoảng 8 ha với khoảng 20 loại rau.

Trong tài liệu phục vụ chương trình khảo sát, bà Khanh cho biết vùng chuyên canh rau Túy Loan có quy mô khoảng 20 ha, cung ứng các loại rau, củ, quả cho thị trường Đà Nẵng. Sản phẩm được tiêu thụ thông qua hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, bếp ăn tập thể, trường học và chợ truyền thống.
Điểm đáng chú ý là sự thay đổi trong phương thức tổ chức sản xuất. Thay vì từng hộ tự lựa chọn cây trồng và tìm kiếm đầu ra, HTX định hướng cơ cấu cây trồng theo mùa vụ, nhu cầu thị trường và phối hợp lịch xuống giống giữa các thành viên nhằm hạn chế tình trạng sản xuất thiếu đồng bộ.
Cùng với tổ chức sản xuất, HTX chú trọng xây dựng thương hiệu, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc. Theo bà Khanh, nhóm sản phẩm rau ăn lá đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, trong khi nhóm rau củ, quả đạt OCOP 4 sao.
Việc xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ góp phần nâng cao giá trị nông sản, tạo điều kiện để người dân ổn định đầu ra, đồng thời từng bước hình thành phương thức sản xuất chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và trách nhiệm đối với môi trường.
Bảo vệ tài nguyên đất, nước và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp
Một trong những nội dung được đoàn công tác Tạp chí Môi trường quan tâm là các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, hạn chế tác động đến môi trường trong quá trình canh tác.

Trao đổi về vấn đề này, bà Đặng Thị Yến Khanh cho biết HTX đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật theo hướng sản xuất an toàn, trong đó chú trọng cải tạo đất, quản lý nguồn nước tưới, hạn chế sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Đối với đất canh tác, các hộ sản xuất được hướng dẫn tăng cường sử dụng phân hữu cơ hoai mục, phân vi sinh, phân trùn quế và phân xanh nhằm cải thiện độ phì nhiêu, duy trì cấu trúc đất và hệ vi sinh vật có lợi. Việc luân canh giữa các nhóm cây trồng như cây họ đậu, rau ăn lá và rau ăn quả cũng được áp dụng nhằm hạn chế suy giảm dinh dưỡng, giảm nguy cơ tích tụ mầm bệnh trong đất.
Bên cạnh đó, HTX sử dụng các biện pháp làm đất phù hợp, kết hợp che phủ bề mặt bằng rơm rạ để giữ ẩm, hạn chế xói mòn và rửa trôi, nhất là trong điều kiện mưa lớn tại khu vực ven sông.

Đối với nguồn nước tưới, bà Khanh cho biết HTX chú trọng kiểm soát chất lượng nước, đồng thời ứng dụng các hình thức tưới tiết kiệm như tưới nhỏ giọt, phun sương. Việc phân bổ nước phù hợp với nhu cầu cây trồng góp phần hạn chế thất thoát, giảm nguy cơ xói mòn bề mặt đất và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước.
Trong phòng trừ sâu bệnh, HTX ưu tiên sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc sinh học, bảo vệ các loài thiên địch có lợi và áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được thực hiện theo nguyên tắc “4 đúng”, tuân thủ danh mục cho phép và thời gian cách ly trước thu hoạch.
Đáng chú ý, HTX còn chú trọng thu gom, xử lý và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp. Theo bà Khanh, các loại gốc rau, lá già, dây leo, vỏ quả sau thu hoạch được thu gom, kết hợp với chế phẩm vi sinh Trichoderma để ủ thành phân hữu cơ, bổ sung trở lại cho đất canh tác.
Rơm rạ cũng được tận dụng làm vật liệu che phủ, giúp giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và bổ sung chất hữu cơ khi phân hủy. Việc thu gom, tái sử dụng phụ phẩm thay vì đốt bỏ tại đồng ruộng góp phần hạn chế phát sinh khói bụi, giảm nguy cơ ô nhiễm không khí và tạo thêm nguồn vật tư phục vụ sản xuất.

Những giải pháp này cho thấy hướng tiếp cận kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp, khi phụ phẩm được tận dụng làm nguyên liệu đầu vào cho chu kỳ canh tác tiếp theo, góp phần tiết kiệm tài nguyên và giảm áp lực đối với môi trường.
Kiểm soát chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu
Song song với các giải pháp bảo vệ môi trường, HTX chú trọng duy trì quy trình sản xuất rau an toàn, kiểm soát chất lượng từ khâu lựa chọn giống, chăm sóc, thu hoạch đến sơ chế và đóng gói.
Bà Đặng Thị Yến Khanh cho biết các hộ thành viên được hướng dẫn ghi chép nhật ký sản xuất, tuân thủ quy trình kỹ thuật đối với từng loại cây trồng. HTX tổ chức kiểm tra nội bộ, phối hợp với cơ quan chức năng thực hiện lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm, trong đó có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng nitrat và vi sinh vật gây hại.
Sau thu hoạch, sản phẩm được phân loại, sơ chế và đóng gói, dán tem nhãn nhận diện thương hiệu cùng mã QR truy xuất nguồn gốc. Việc minh bạch thông tin sản phẩm góp phần nâng cao trách nhiệm của các hộ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của các kênh phân phối và người tiêu dùng.
Tuy nhiên, quá trình phát triển sản xuất rau an toàn tại Túy Loan vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan.
Theo bà Khanh, mưa lớn, bão lũ và nắng hạn kéo dài có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng rau màu. Tình trạng ngập úng, hư hại nhà màng, nhà lưới hoặc sâu bệnh phát triển trong điều kiện thời tiết bất lợi cũng gây gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sản phẩm.
Trong khi đó, chi phí đầu tư hệ thống nhà màng, nhà lưới, tưới tự động và kho bảo quản sau thu hoạch còn khá lớn so với nguồn lực của HTX và các hộ thành viên. Việc duy trì quy trình sản xuất an toàn cũng đòi hỏi thường xuyên tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và giám sát chất lượng.
Ở khâu tiêu thụ, sản phẩm rau an toàn phải cạnh tranh với các nguồn rau có giá thấp hơn trên thị trường, trong khi chi phí sản xuất, kiểm định, sơ chế, đóng gói và truy xuất nguồn gốc tạo thêm áp lực đối với hoạt động kinh doanh. Đặc tính dễ hư hỏng của rau tươi cùng sự biến động sản lượng theo mùa vụ cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực bảo quản và tổ chức chuỗi cung ứng.
Trước những thách thức đó, HTX định hướng tiếp tục hoàn thiện quy trình sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng liên kết tiêu thụ.

Bên cạnh hoạt động sản xuất, HTX còn hướng tới phát triển mô hình tham quan, trải nghiệm nông nghiệp gắn với không gian văn hóa làng cổ Túy Loan. Thông qua việc tìm hiểu quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch rau, hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, về sản xuất nông nghiệp an toàn và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Từ thực tiễn mô hình rau an toàn Túy Loan cho thấy, chuyển đổi sang nông nghiệp xanh cần được triển khai đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, quản lý tài nguyên đến xây dựng thương hiệu và liên kết thị trường.
Việc tiếp tục hỗ trợ các hợp tác xã đầu tư hạ tầng, ứng dụng công nghệ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tại TP. Đà Nẵng.