Quảng Ngãi ban hành Bộ tiêu chí thôn nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh

Ngày 14/10/2026, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 158/2026/QĐ-UBND quy định Bộ tiêu chí thôn nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh.
qn-1792462817.jpg

Bộ tiêu chí gồm 8 tiêu chí với 25 nội dung, bao quát các lĩnh vực hạ tầng kinh tế - xã hội; phát triển kinh tế nông thôn; đào tạo nguồn nhân lực; văn hóa, giáo dục, y tế; giảm nghèo và an sinh xã hội; chuyển đổi số; môi trường và cảnh quan nông thôn; xây dựng hệ thống chính trị, tiếp cận pháp luật và bảo đảm an ninh, trật tự.

Trong nhóm tiêu chí phát triển kinh tế nông thôn, Quảng Ngãi quy định tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người đạt từ 9,5%/năm đối với thôn thuộc cả ba nhóm xã. Đối với tỷ lệ hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, thôn thuộc xã nhóm 1 phải đạt tối thiểu 60%; nhóm 2 đạt 50% và nhóm 3 đạt 40%.

Các yêu cầu về hạ tầng phục vụ sản xuất cũng được phân định theo từng nhóm xã. Cụ thể, tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động phải đạt từ 90% đối với thôn thuộc xã nhóm 1; từ 80% đối với nhóm 2 và từ 50% đối với nhóm 3.

Ngoài yêu cầu về tỷ lệ tưới, tiêu chủ động, thôn thuộc xã nhóm 1 phải áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp với phát triển nông nghiệp đô thị. Đối với nhóm 2, tỷ lệ áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm cho cây trồng chủ lực phải đạt tối thiểu 30%.

Về giao thông, tất cả các nhóm xã đều phải bảo đảm kết nối giao thông theo quy định, có ít nhất 50% chiều dài đường xã nằm trên địa bàn thôn được trồng cây xanh dọc tuyến và tổ chức bảo trì hằng năm đối với toàn bộ đường giao thông nông thôn. Tuy nhiên, tỷ lệ đường thôn, ngõ, xóm được cứng hóa có sự khác biệt: nhóm 1 phải đạt 100%, nhóm 2 đạt tối thiểu 90% và nhóm 3 đạt tối thiểu 50%.

Trong lĩnh vực giảm nghèo, Quảng Ngãi quy định tỷ lệ nghèo đa chiều đối với thôn thuộc xã nhóm 1 không vượt quá 2%; nhóm 2 không vượt quá 5% và nhóm 3 không vượt quá 13%. Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố tương ứng phải đạt ít nhất 95%, 85% và 75%.

Đối với nước sạch theo quy chuẩn, thôn thuộc xã nhóm 1 phải có tối thiểu 80% số hộ được sử dụng, trong đó ít nhất 10% từ công trình cấp nước tập trung. Nhóm 2 phải đạt tối thiểu 70%, trong đó ít nhất 5% từ công trình cấp nước tập trung; nhóm 3 đạt tối thiểu 40%.

Các chỉ tiêu về đào tạo lao động, giáo dục và đời sống văn hóa cũng được xác định theo từng nhóm xã. Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ phải đạt từ 40% đối với nhóm 1, 35% đối với nhóm 2 và 27% đối với nhóm 3.

Bên cạnh những yêu cầu về hạ tầng và thu nhập, Bộ tiêu chí giai đoạn 2026-2030 dành riêng một nhóm tiêu chí cho chuyển đổi số. Theo đó, mỗi thôn phải có tối thiểu một điểm truy cập số cộng đồng tại nhà văn hóa hoặc điểm sinh hoạt cộng đồng, được kết nối Internet cáp quang băng rộng. Tổ công nghệ số cộng đồng phải được thành lập, duy trì hoạt động. Người dân trong thôn được phổ biến, hướng dẫn hoặc tập huấn kỹ năng số ít nhất một lần mỗi năm.

Riêng đối với môi trường và cảnh quan nông thôn, tỉnh quy định tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân loại, thu gom, xử lý đạt tối thiểu 80%, tỷ lệ chất thải chăn nuôi, chất thải hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp được thu gom, xử lý, tái chế thành sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu hoặc phân bón phải đạt từ 90% đối với cả ba nhóm xã. Đây là yêu cầu gắn công tác bảo vệ môi trường với việc tận dụng phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở thúc đẩy các mô hình sản xuất theo hướng tuần hoàn ở nông thôn. Bên cạnh đó, 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và làng nghề, nếu có, phải phù hợp quy hoạch và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tiêu chí cảnh quan nông thôn cũng được lượng hóa. Tỷ lệ chiều dài đường trục thôn, liên thôn tại những nơi có điều kiện được trồng cây xanh bóng mát, cây cảnh, hoa hoặc thảm cỏ phải đạt ít nhất 80% đối với nhóm 1, 75% đối với nhóm 2 và 70% đối với nhóm 3. Các khu vực công cộng phải có cây xanh, với chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng trong đơn vị ở tối thiểu 2 m²/người. Ngoài ra, đường trục thôn, liên thôn phải được bố trí thùng rác hoặc điểm tập kết rác hợp lý; kênh, mương được vệ sinh, nạo vét, khơi thông dòng chảy; không để tồn đọng nước thải sinh hoạt tại khu dân cư tập trung và rác thải trong kênh, mương thoát nước.

Về tổ chức thực hiện, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành hướng dẫn, đôn đốc địa phương triển khai Bộ tiêu chí; tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện. UBND các xã có trách nhiệm rà soát, đánh giá mức độ đạt được của từng tiêu chí, xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp lộ trình của tỉnh; chỉ đạo các thôn triển khai và tổ chức kiểm tra, đôn đốc hằng năm.

Hồng Nhung

Đặt mua Tạp chí Môi trường