Tóm tắt
Trà cổ thụ tại vùng núi cao phía Bắc Việt Nam vừa là nguồn tài nguyên sinh học và nguồn vật liệu di truyền có giá trị, vừa gắn với tri thức bản địa, văn hóa và sinh kế của cộng đồng dân tộc thiểu số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích dữ liệu, tiếp cận đối chiếu và kiểm chứng chéo thông tin giữa các nguồn dữ liệu, tập trung vào khoảng 600 cây trà cổ thụ trên 100 năm tuổi tại khu vực Xin Chải và Tả Lèng, xã Khổng Lào, tỉnh Lai Châu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quần thể trà cổ thụ có khả năng cung cấp khoảng 2.400 kg búp tươi/vụ, tương đương khoảng 480 kg trà khô; với ba vụ thu hái mỗi năm, sản lượng quy đổi đạt khoảng 1.440 kg trà khô. Giá thu mua búp tươi khoảng 60.000 đồng/kg, trong khi trà khô tại vùng có giá từ khoảng 1 triệu đồng/kg và sản phẩm thương mại có thể đạt khoảng 1,8 triệu đồng/kg, cho thấy dư địa đáng kể để gia tăng giá trị kinh tế trong chuỗi. Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn bị hạn chế bởi thị trường đầu ra chưa ổn định, liên kết giữa các tác nhân còn lỏng lẻo, năng lực tổ chức sản xuất và chế biến chưa đồng đều, cùng với chi phí thu gom, chế biến và tiếp cận thị trường còn cao. Bên cạnh bảo vệ quần thể trà cổ thụ hiện hữu, từ năm 2021 địa phương đã phát triển khoảng 22 ha trà mới từ nguồn vật liệu trà bản địa, tạo cơ sở cho việc mở rộng vùng nguyên liệu và duy trì nguồn vật liệu di truyền. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất xây dựng cơ chế phát triển tích hợp giữa quản lý cây mẹ, bảo tồn nguồn gen, phát triển vùng nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị, mở rộng thị trường và phân phối hợp lý lợi ích kinh tế cho cộng đồng, đây là điều kiện quan trọng để tạo động lực cho bảo tồn trà cổ thụ và phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
Từ khóa: Trà cổ thụ, nguồn gen, chuỗi giá trị, sinh kế cộng đồng, Lai Châu.
Ngày nhận bài: 1/9/2026; Ngày sửa chữa: 10/9/2026;
ENHANCING THE VALUE OF ANCIENT TEA IN ASSOCIATION WITH GENETIC RESOURCE CONSERVATION AND SUSTAINABLE LIVELIHOODS IN KHONG LAO COMMUNE, LAI CHAU PROVINCE
Abstract:
Ancient tea trees in the mountainous areas of northern Vietnam represent valuable biological and genetic resources while also being closely associated with indigenous knowledge, cultural practices, and the livelihoods of ethnic minority communities. This study employed data synthesis and analysis, comparative assessment, and cross-validation of information from multiple sources, focusing on approximately 600 tea trees over 100 years old in Xin Chải and Tả Lèng, Khổng Lào Commune, Lai Châu Province.
The results indicate that the ancient tea population can produce approximately 2,400 kg of fresh tea shoots per harvest, equivalent to about 480 kg of dried tea. With three harvests per year, the estimated annual output is approximately 1,440 kg of dried tea. The purchasing price of fresh tea shoots is approximately VND 60,000 per kilogram, while dried tea produced locally is priced from around VND 1 million per kilogram, and finished commercial products can reach approximately VND 1.8 million per kilogram. These price differences indicate considerable potential for value addition along the tea value chain.
However, this potential is constrained by unstable market outlets, weak linkages among value-chain actors, uneven production and processing capacities, and relatively high costs associated with collection, processing, and market access. In addition to conserving the existing population of ancient tea trees, since 2021, the locality has developed approximately 22 ha of new tea plantations using indigenous tea genetic materials, providing a basis for expanding the raw-material production area and maintaining valuable genetic resources.
Based on these findings, the study proposes an integrated development mechanism combining mother-tree management, genetic resource conservation, raw-material area development, value-chain upgrading, market expansion, and the equitable distribution of economic benefits among local communities. Such an integrated approach is considered essential for creating sustainable economic incentives for the conservation of ancient tea trees while supporting sustainable local livelihoods.
Keywords: Ancient tea trees, genetic resources, value chain, community livelihoods, Lai Chau.
JEL Classifications: O13, R32, P48, O44.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Gereffi, G., Humphrey, J. & Sturgeon, T. (2005). The governance of global value chains. Review of International Political Economy, 12(1), 78 - 104.
- Hồ Ngọc Ninh, Trương Ngọc Tín, Lại Phương Thảo & Mùa A Chinh (2022). Phát triển sản xuất chè Shan Tuyết: Trường hợp nghiên cứu tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(11), 1528 - 1539.
- Lê Chí Toàn (2023). Molecular phylogeny of Camellia sinensis var. assamica from Vietnam. Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Tự nhiên, 68(2).
- Bùi Thùy Liên và cộng sự (2025). Nghiên cứu đặc điểm trình tự gene rpoC1 ở cây chè Shan cổ thụ (Camellia sinensis var. assamica) tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên.
- Bùi Thùy Liên và cộng sự (2025). Genetic diversity of Shan tea (Camellia sinensis var. assamica) from Cao Son Commune, Lao Cai Province using RAPD-PCR. HPU2 Journal of Science: Natural Sciences and Technology.
- Li, M.M. et al. (2024). Genetic analyses of ancient tea trees provide insights into the breeding history and dissemination of Chinese Assam tea (Camellia sinensis var. assamica). Plant Diversity, 46(2), 229–237.
- Số liệu khảo sát thực địa và dữ liệu chuỗi sản xuất - thu mua trà cổ thụ tại Khổng Lào, Phương Nam Holdings - ANNVIESHAN, 2026.