Vai trò điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là nền tảng khoa học cho quản trị biển, quy hoạch không gian biển và phát triển kinh tế biển. Bài viết phân tích kết quả điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của Việt Nam, trong đó bổ sung số liệu sơ kết 5 năm thực hiện Chương trình trọng điểm theo Quyết định số 28/QĐ-TTg giai đoạn 2020-2025. Trên cơ sở tổng hợp các kết quả về bản đồ địa hình đáy biển, hải đồ, địa chất - khoáng sản, khí hydrate, tài nguyên nước đảo, đa dạng sinh học, hiện trạng môi trường và sức tải vùng ven bờ, bài viết làm rõ vai trò của dữ liệu điều tra cơ bản đối với quản trị biển, quy hoạch không gian biển và phát triển kinh tế biển. Bài viết cũng chỉ ra các hạn chế về nguồn lực, tiến độ, công nghệ và chia sẻ dữ liệu; từ đó đề xuất định hướng hiện đại hóa điều tra cơ bản biển đến năm 2030.

Từ khóa: Điều tra cơ bản biển, Quyết định số 28/QĐ-TTg, tài nguyên môi trường biển, cơ sở dữ liệu biển, kinh tế biển.

BASIC SURVEYS OF MARINE AND ISLAND RESOURCES AND ENVIRONMENT IN SUPPORT OF SUSTAINABLE MARINE ECONOMIC DEVELOPMENT IN VIET NAM

Abstract

Basic surveys of marine and island resources and environment provide a scientific foundation for marine governance, marine spatial planning and blue economy development. This paper analyzes the outcomes of baseline surveys of marine and island resources and environment in Viet Nam, with updated evidence from the five-year review of the national key survey programme under Decision No. 28/QD-TTg for 2020-2025. By synthesizing findings on seabed mapping, nautical charts, marine geology and minerals, gas hydrates, island water resources, biodiversity, marine environmental quality and coastal carrying capacity, the paper clarifies the role of baseline survey data in marine governance, marine spatial planning and blue-economy development. It also identifies remaining constraints related to financial resources, project progress, technology and data sharing. Based on these findings, the paper proposes orientations for modernizing baseline marine surveys toward 2030 through digital transformation, integrated databases, advanced technologies and stronger intersectoral coordination.

Keywords: Baseline marine survey, Decision No. 28/QD-TTg, marine resources and environment, marine database, blue economy.

JEL Classifications: O13, O44, Q56. 

1. Đặt vấn đề

Biển và hải đảo giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển bền vững của Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và cạnh tranh sử dụng không gian biển ngày càng gia tăng, yêu cầu quản lý biển theo phương thức tổng hợp, dựa trên bằng chứng khoa học và dữ liệu đáng tin cậy trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định phát triển bền vững kinh tế biển phải dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản lý tổng hợp và sử dụng hiệu quả tài nguyên, môi trường biển. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 7/1/2020 phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tạo khuôn khổ quan trọng để tổ chức các dự án điều tra có quy mô lớn, liên vùng và liên ngành.

Dữ liệu điều tra cơ bản biển là đầu vào thiết yếu cho nhiều ngành kinh tế biển. Bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ phục vụ phát triển cảng biển, logistics, giao thông hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và quốc phòng - an ninh; dữ liệu địa chất - khoáng sản biển cung cấp luận cứ cho phát triển vật liệu xây dựng, năng lượng và công nghiệp biển; dữ liệu tài nguyên sinh vật, môi trường nước, trầm tích, hệ sinh thái và sức tải môi trường là cơ sở cho bảo tồn, nuôi biển công nghiệp, du lịch sinh thái, kiểm soát ô nhiễm và quản lý rủi ro thiên tai.

Bài viết hệ thống hóa các kết quả nổi bật của công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đặc biệt là các kết quả sơ kết thực hiện Quyết định số 28/QĐ-TTg giai đoạn 2020-2025; phân tích giá trị ứng dụng của các kết quả này trong quản lý, quy hoạch và phát triển bền vững kinh tế biển; đồng thời đề xuất một số định hướng hoàn thiện trong giai đoạn 2026-2030.

2. Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

2.1. Tổ chức thực hiện Chương trình trọng điểm theo Quyết định số 28/QĐ-TTg

Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 28/QĐ-TTg gồm 41 nhiệm vụ, dự án, trong đó giai đoạn 2020-2025 dự kiến thực hiện 36 dự án và giai đoạn 2026-2030 dự kiến thực hiện 5 dự án. Trong quá trình triển khai, do yêu cầu chuyên môn phức tạp, điều kiện khảo sát biển khó khăn, thiếu đồng bộ về quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá và nhất là hạn chế về nguồn vốn, danh mục dự án đã được rà soát, điều chỉnh theo hướng tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ ưu tiên.

Sau điều chỉnh, giai đoạn 2020-2025 thực hiện 18 dự án và giai đoạn 2026-2030 thực hiện 23 dự án. Đến thời điểm sơ kết, 16/18 dự án thuộc giai đoạn 2020-2025 đã được phê duyệt; trong đó 2 dự án đã hoàn thành và bàn giao sản phẩm về Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo quốc gia, 8 dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2025 và 6 dự án đang triển khai, đề xuất tiếp tục sang giai đoạn 2026-2030. Tổng kinh phí phê duyệt của 16 dự án là 1.854.818 triệu đồng; kinh phí đã cấp đến năm 2025 đạt 1.301.929 triệu đồng, tương đương khoảng 70% tổng mức phê duyệt.

2.2. Đo đạc, thành lập bản đồ địa hình đáy biển, hải đồ và dữ liệu địa không gian đảo trọng yếu

Đo đạc, thành lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ là một trong những nhiệm vụ điều tra cơ bản có ý nghĩa nền tảng, nhằm xây dựng hạ tầng thông tin địa lý phục vụ phát triển kinh tế biển, bảo đảm an toàn hàng hải, quản lý tài nguyên - môi trường và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Đến nay, hệ thống hải đồ tỷ lệ 1:200.000 đã được thành lập trên diện tích khoảng 819.500 km². Bên cạnh đó, nhiều bộ hải đồ và bản đồ địa hình đáy biển ở các tỷ lệ chi tiết từ 1:100.000 đến 1:5.000 đã được xây dựng tại khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, vùng biển ven bờ, cửa sông, cảng biển và các đảo có vị trí chiến lược. Trong giai đoạn 2020-2025, việc triển khai thêm 2 dự án đã bổ sung 74 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tại khu vực vịnh Bắc bộ và vùng biển thềm lục địa Khánh Hòa đến An Giang.

Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu địa không gian các đảo trọng yếu và khu vực DK đã thu thập, cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:2.000, 1:10.000 và bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:25.000, 1:50.000 cho nhiều đảo trọng yếu và đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ quy hoạch tổng thể các đảo, tính toán thiết kế công trình, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và tăng cường năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo.

2.3. Điều tra địa chất - khoáng sản, tài nguyên mới và tai biến địa chất biển

Công tác điều tra địa chất - khoáng sản biển được triển khai liên tục trong nhiều thập kỷ theo hướng tích hợp, đa mục tiêu, với các tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:50.000 và một số khu vực chi tiết hơn. Trước năm 2020, diện tích điều tra tỷ lệ 1:500.000 đạt 244.761 km², chủ yếu từ vùng biển nông ven bờ đến độ sâu khoảng 100 m nước. Sau năm 2020, diện tích điều tra bổ sung đạt 142.384 km², nâng tổng diện tích điều tra tỷ lệ 1:500.000 lên khoảng 387.145 km². Ở tỷ lệ 1:100.000, tổng diện tích điều tra đạt khoảng 75.360 km².

Các kết quả điều tra đã khoanh định nhiều vùng triển vọng tài nguyên. Trước giai đoạn 2020, các kết quả điều tra nhận diện 62 vùng sa khoáng titan - zircon - đất hiếm với tài nguyên dự báo khoảng 164 triệu tấn và 50 vùng triển vọng vật liệu xây dựng với tổng tài nguyên dự báo khoảng 200 tỷ m³. Trong giai đoạn thực hiện Chương trình trọng điểm, các dự án tiếp tục mở rộng điều tra tới vùng biển sâu và thềm lục địa, trong đó dự án điều tra tiềm năng khí hydrate tại vùng biển Phú Khánh - Tư Chính - Vũng Mây đã hoàn thành điều tra 75.460 km², bước đầu xác định 14 vùng triển vọng khí hydrate loại I và 08 vùng triển vọng loại II, với tổng tiềm năng dự báo khoảng 4.418,5 km³ khí methane; đồng thời xác định các vùng triển vọng vỏ sắt - mangan, với tổng tài nguyên dự báo khoảng 52,734 triệu tấn.

Bên cạnh tài nguyên khoáng sản, các dự án điều tra còn làm rõ đặc điểm cấu trúc địa chất, địa động lực, môi trường trầm tích, dị thường địa hóa và các dạng tai biến tự nhiên dưới đáy biển. Các kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với quy hoạch không gian biển, lựa chọn vị trí công trình biển, phát triển hạ tầng ven biển, đánh giá rủi ro động đất, trượt lở ngầm, xói lở - bồi tụ và quản lý khai thác tài nguyên biển theo hướng thận trọng, bền vững.

2.4. Địa chất công trình, tài nguyên nước đảo, viễn thám và dữ liệu phục vụ thích ứng biến đổi khí hậu

Điều tra địa chất công trình vùng ven bờ và khu vực đảo, nhà giàn đã cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy về cấu trúc địa chất, tính chất cơ lý đất đá, nền san hô, đới đất yếu, đứt gãy, mức độ ổn định nền đất và các quá trình địa chất động lực như ngập lụt, xói lở, bồi tụ, nhiễm mặn. Kết quả này phục vụ trực tiếp quy hoạch, xây dựng và bảo trì các công trình ven biển, đảo, nhà giàn, đặc biệt là tại khu vực Trường Sa và DK, nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, yêu cầu kỹ thuật cao và gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.

Về tài nguyên nước, điều tra địa chất thủy văn tỷ lệ 1:200.000 vùng ven biển đã xác định tổng trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất khoảng 16,73 triệu m³/ngày. Sau năm 2020, điều tra chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước trên 14 đảo đã cung cấp dữ liệu về nước dưới đất, nước mặt, nước mưa và hiện trạng khai thác - sử dụng nước ở tỷ lệ 1:25.000. Kết quả này hỗ trợ xác định vị trí khai thác tối ưu, dự báo nguy cơ xâm nhập mặn, bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao đời sống dân cư, thúc đẩy du lịch, dịch vụ và củng cố quốc phòng - an ninh trên các đảo.

Ứng dụng công nghệ viễn thám kết hợp địa vật lý để xác định dịch chuyển bờ ngầm và địa chất tầng nông đới bờ đã bước đầu chuẩn hóa dữ liệu đường bờ các năm 1990, 2000, 2010 và cập nhật biến động đường bờ giai đoạn 2015-2024 với tần suất cao. Các chuỗi dữ liệu này hỗ trợ đánh giá xâm thực bờ biển, dự báo xu thế biến động đường bờ, lựa chọn giải pháp phòng chống sạt lở và phục vụ quy hoạch không gian ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

2.5. Tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học và môi trường biển

Điều tra tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học biển đã tạo lập nguồn dữ liệu nền về nguồn lợi hải sản, hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, bãi bồi, cửa sông và đầm phá. Trước năm 2020, công tác điều tra đã đánh giá nguồn lợi hải sản theo các tầng sinh thái, phát hiện và bổ sung một số loài san hô mới, xây dựng bản đồ phân bố hệ sinh thái rừng ngập mặn, đầm phá, cỏ biển và nguồn lợi hải sản tầng đáy, đồng thời lập quy hoạch chi tiết cho một số khu bảo tồn biển. Giai đoạn 2020-2025, điều tra đa dạng sinh học tại các bãi cạn, gò đồi ngầm tiếp tục ghi nhận bức tranh sinh thái phong phú và chi tiết hơn. Các dữ liệu này có ý nghĩa quan trọng trong nhận diện khu vực có giá trị bảo tồn cao, định hướng khai thác bền vững nguồn lợi hải sản và phát triển các mô hình quản lý dựa trên hệ sinh thái.

Về môi trường biển, kết quả điều tra cho thấy khu vực ven bờ, nhất là vùng đảo có dân cư, cửa sông, cảng biển, vịnh kín và đô thị ven biển, chịu tác động mạnh từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hoạt động tàu thuyền. Một số điểm ghi nhận ô nhiễm cục bộ với các biểu hiện tăng chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ, dầu mỡ khoáng và kim loại nặng. Trong khi đó, vùng biển xa bờ nhìn chung duy trì chất lượng môi trường nước và trầm tích ổn định hơn, ít chịu tác động trực tiếp của nguồn thải lục địa.

Các dự án xác định khả năng chống chịu, sức tải môi trường và hệ sinh thái vùng ven bờ đã xây dựng các bộ bản đồ chuyên đề tỷ lệ 1:500.000 cho khu vực từ Bình Định đến Kiên Giang và tỷ lệ chi tiết hơn tại vịnh Xuân Đài. Các kết quả này làm rõ cấu trúc địa mạo, nền đáy, động lực sóng, gió, dòng chảy, chất lượng môi trường nước - trầm tích, mức độ đa dạng hệ sinh thái, phân bố hoạt động nhân sinh và phân vùng khả năng chống chịu, sức tải môi trường. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng cho quy hoạch không gian biển, quản lý nuôi trồng thủy sản, bố trí đô thị ven biển, bảo tồn hệ sinh thái và chủ động ứng phó sự cố môi trường, thiên tai.

3. Giá trị ứng dụng của kết quả điều tra cơ bản trong quản lý và phát triển bền vững kinh tế biển

Thứ nhất, kết quả điều tra cơ bản là nền tảng dữ liệu cho xây dựng chiến lược, quy hoạch và quản lý không gian biển. Các thông tin về địa hình, địa mạo, địa chất, khoáng sản, hệ sinh thái, chất lượng môi trường, sức tải và tài nguyên vị thế giúp nhận diện tiềm năng, giới hạn khai thác, mức độ nhạy cảm môi trường và xung đột sử dụng không gian biển. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định khu vực ưu tiên phát triển, khu vực cần bảo vệ, khu vực hạn chế hoặc cấm khai thác, từ đó giảm chồng chéo trong sử dụng không gian biển.

Thứ hai, dữ liệu điều tra cơ bản là công cụ hỗ trợ quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Trong bối cảnh nguồn thải từ đất liền, rác thải nhựa đại dương, suy giảm hệ sinh thái và áp lực khai thác ven bờ ngày càng lớn, các dữ liệu về môi trường nước, trầm tích, sức tải môi trường và vùng nhạy cảm giúp cơ quan quản lý thực hiện giám sát, cảnh báo sớm, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và đánh giá tác động môi trường một cách khoa học hơn.

Thứ ba, kết quả điều tra đóng góp trực tiếp cho bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo. Bản đồ địa hình đáy biển, dữ liệu đảo, nhà giàn, địa chất công trình, địa mạo đáy biển và tài nguyên biển sâu không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn có giá trị trong tuần tra, giám sát, bố trí công trình, quản lý vùng biển và củng cố cơ sở khoa học cho bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia.

Thứ tư, công tác điều tra cơ bản thúc đẩy khoa học - công nghệ biển và chuyển đổi số. Việc ứng dụng viễn thám, GIS, mô hình hóa, phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong thu thập, xử lý, quản lý dữ liệu biển đang từng bước hình thành nền tảng quản trị biển dựa trên dữ liệu. Khi được tích hợp vào cơ sở dữ liệu biển quốc gia thống nhất, các kết quả điều tra sẽ tạo ra nguồn thông tin dùng chung cho bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu, qua đó nâng cao hiệu quả hoạch định chính sách và giảm chi phí xã hội trong tiếp cận thông tin.

Thứ năm, dữ liệu điều tra cơ bản góp phần phát triển bền vững kinh tế biển. Doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể sử dụng dữ liệu về tài nguyên, môi trường, địa chất công trình, sức chịu tải sinh thái và rủi ro thiên tai để lựa chọn địa điểm, thiết kế dự án và kiểm soát rủi ro trong các lĩnh vực như cảng biển, logistics, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo, nuôi biển công nghiệp… Cách tiếp cận này giúp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn hệ sinh thái và an sinh xã hội vùng biển, đảo.

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo vẫn còn một số hạn chế, cụ thể: (1) Tiến độ triển khai Chương trình trọng điểm còn chậm so với kế hoạch ban đầu; (2) Hệ thống quy định kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật và đơn giá cho một số lĩnh vực điều tra biển mới còn thiếu hoặc chưa đồng bộ, nhất là các nhiệm vụ liên quan đến biển sâu, năng lượng tái tạo ngoài khơi, sinh dược học biển, sức tải môi trường và dữ liệu số đại dương…; (3) Cơ chế chia sẻ, chuẩn hóa và tích hợp dữ liệu giữa các Bộ, ngành, địa phương còn hạn chế...

4. Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện giai đoạn 2026-2030

Một là, tiếp tục triển khai mục tiêu đến năm 2030 tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000, đồng thời điều tra chi tiết hơn tại các vùng trọng điểm theo yêu cầu quản lý. Trọng tâm cần mở rộng điều tra ra vùng biển sâu, thềm lục địa, khu vực đảo tiền tiêu, khu vực có tiềm năng tài nguyên mới và vùng nhạy cảm về môi trường, quốc phòng - an ninh.

Hai là, hiện đại hóa công nghệ điều tra biển thông qua đo sâu đa tia độ phân giải cao, viễn thám, GIS, quan trắc tự động, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mô hình số đáy biển, phương tiện khảo sát không người lái và phần mềm xử lý số liệu chuyên dụng. Công nghệ cần được áp dụng đồng bộ trong toàn bộ chu trình điều tra, từ thiết kế nhiệm vụ, khảo sát hiện trường, xử lý mẫu, phân tích dữ liệu đến công bố, cập nhật và khai thác kết quả.

Ba là, hoàn thiện cơ sở dữ liệu nền quốc gia về tài nguyên, môi trường biển theo hướng thống nhất, liên thông, cập nhật và chia sẻ có kiểm soát. Các sản phẩm điều tra sau nghiệm thu cần được chuẩn hóa về cấu trúc, định dạng, siêu dữ liệu và tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển quốc gia, phục vụ trực tiếp Quy hoạch không gian biển quốc gia, quản lý tổng hợp vùng bờ và ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học.

Bốn là, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định cho Chương trình trọng điểm, tránh tình trạng dàn trải, gián đoạn hoặc điều chỉnh nhiều lần do thiếu vốn. Cần ưu tiên vốn cho các dự án đã phê duyệt, các nhiệm vụ cấp bách về biển sâu, bản đồ đáy biển, quan trắc môi trường, rủi ro ô nhiễm, biến đổi khí hậu và tài nguyên mới. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế huy động hợp tác quốc tế, vốn ODA và hợp tác công - tư đối với các nhiệm vụ phù hợp, song vẫn bảo đảm vai trò quản lý thống nhất của Nhà nước đối với dữ liệu nền quốc gia về biển.

Năm là, tăng cường điều phối liên ngành và kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai dự án. Cơ quan thường trực cần phát huy vai trò điều phối tổng thể, hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi tiến độ, xử lý vướng mắc và đôn đốc giao nộp sản phẩm. Các bộ, ngành, địa phương cần phối hợp từ khâu xây dựng thuyết minh, lập dự toán, khảo sát hiện trường, nghiệm thu đến khai thác dữ liệu nhằm tránh trùng lặp, nâng cao chất lượng và bảo đảm tính liên thông của sản phẩm.

Sáu là, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế. Cần đào tạo đội ngũ chuyên gia liên ngành về hải dương học, địa chất biển, sinh thái biển, môi trường biển, công nghệ số, dữ liệu lớn và quản trị đại dương; đồng thời thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế có năng lực mạnh về công nghệ biển sâu, quan trắc đại dương, bản đồ số đáy biển và bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Kết luận

Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã tạo lập nguồn dữ liệu khoa học quan trọng về điều kiện tự nhiên, địa hình đáy biển, địa chất - khoáng sản, tài nguyên nước đảo, đa dạng sinh học, môi trường biển, sức tải vùng ven bờ và dữ liệu không gian đảo. Các kết quả điều tra cơ bản đã góp phần trực tiếp vào hoàn thiện cơ sở dữ liệu biển, hỗ trợ quản lý tổng hợp vùng bờ, quy hoạch không gian biển, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế biển xanh và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn mới đòi hỏi công tác điều tra cơ bản phải được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn, dữ liệu phải được số hóa, chuẩn hóa, cập nhật, liên thông và khai thác hiệu quả trong quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và quyết định đầu tư.

Giai đoạn 2026-2030 cần được xem là giai đoạn tăng tốc của công tác điều tra cơ bản biển, với trọng tâm là hoàn thành mục tiêu điều tra tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam ở tỷ lệ 1:500.000, mở rộng khảo sát biển sâu, phát triển cơ sở dữ liệu biển quốc gia, nâng cao năng lực công nghệ và bảo đảm nguồn lực ổn định. Đây là điều kiện then chốt để Việt Nam xây dựng nền quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển bền vững và từng bước trở thành quốc gia mạnh về biển.

Nguyễn Ngọc Sơn1, Nguyễn Hữu Tới1

1Cục Biển và Hải đảo Việt Nam

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 5/2026)

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.2. Chính phủ (2020). Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW.

3. Quốc hội (2015). Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13.

4. Quốc hội (2024). Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

5. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 7/1/2020 phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030.

6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 216/QĐ-TTg ngày 19/2/2021 ban hành Quy chế phối hợp quản lý thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030.

7. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 7/10/2024 phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

8. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển đến năm 2030 giai đoạn 2020-2025.

9. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

10. Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2025). Tổng hợp kết quả công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Đặt mua Tạp chí Môi trường