Tham dự và chủ trì Hội thảo có PGS.TS. Lưu Thế Anh, Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường (TN&MT); GS. TS. Richard D. Webster, Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Môi trường và Nước, Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore); đại diện Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Quỹ nghiên cứu LEF; các chuyên gia của Viện nghiên cứu và hộ nông dân chăn nuôi lợn…

Phát biểu khai mạc Hội thảo PGS.TS. Lưu Thế Anh, Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường cho biết, nước thải chăn nuôi lợn phát sinh với khối lượng lớn và chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ cũng như các chất dinh dưỡng. Do đó, không được xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường, nguồn nước thải có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh và chất lượng sống của cộng đồng. Xuất phát từ thực tế này, Viện Nghiên cứu về Môi trường và Nước, Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore) phối hợp Viện TN&MT thực hiện nhiệm vụ: “Áp dụng quy trình kết tinh tạo hạt tầng sôi để loại bỏ kết kết hợp thu hồi ni tơ, phốt pho trong nước thải chăn nuôi lợn và tiềm năng sử dụng hạt struvite thu hồi làm phân bón nhả chậm: Quy mô 5m3/ngày”. Sau 2 năm triển khai áp dụng thử nghiệm vào thực tiễn, mô hình xử lý nước thải tại hộ chăn nuôi lợn tại phường Tùng Thiện, bước đầu đã mang lại kết quả khả thi, góp phần giảm ô nhiễm nước thải trong chăn nuôi lợn và nâng cao thu nhập cho hộ nuôi.

Giới thiệu về các hoạt động của Viện Nghiên cứu về Môi trường và Nước, Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore), GS. TS. Richard D. Webster cho biết, với vai trò nghiên cứu các giải pháp về công nghệ sinh học và quy trình sinh học; thu hồi tài nguyên từ chất thải; hóa học môi trường và vật liệu; mô hình hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý môi trường. Ngoài ra, Viện còn vận hành Quỹ nghiên cứu LEF nhằm phát triển năng lực và giải pháp bền vững cho châu Á. Tại Việt Nam, trong thời gian qua, Viện đã hỗ trợ và đồng hành cùng với nhóm nghiên cứu triển khai nhiệm vụ nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tận dụng nguồn chất thải tại địa phương để thu hồi những thành phần có giá trị, từ đó tạo ra sản phẩm có khả năng phục vụ trở lại cho hoạt động nông nghiệp. Đây là cách tiếp cận vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa thúc đẩy việc tái sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục theo dõi quá trình vận hành và đánh giá hiệu quả lâu dài của hệ thống và đặc biệt quan tâm đến việc so sánh kết quả vận hành của hệ thống này với những hệ thống tương tự đang được triển khai tại các quốc gia khác...

Trình bày kết quả nghiên cứu và ứng dụng công nghệ kết tinh tạo hạt tầng sôi, thu hồi struvite trong nước thải chăn nuôi lợn, TS. Lê Văn Giang, Viện TN&MT cho biết: Trong hai năm triển khai nhiệm vụ, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại nhiều địa bàn của Hà Nội. Theo đó, nhóm nghiên cứu đã tiến lắp đặt và phát triển hệ thống pilot có khả năng xử lý tối đa khoảng 5 m³ nước thải chăn nuôi lợn mỗi ngày. Nước thải sau công đoạn xử lý ban đầu được đưa vào bể điều hòa, sau đó chuyển tới hệ thống thu hồi dinh dưỡng (nitơ và phốtpho), đây là những chất có tiềm năng tiếp tục được sử dụng để sản xuất phân bón nhả chậm. Dưới những điều kiện phản ứng thích hợp, các thành phần nitơ và photpho trong nước thải được kết tinh và thu hồi dưới dạng hạt struvite (một khoáng chất có công thức hóa học MgNH₄PO₄•6H₂O). Sau công đoạn thu hồi struvite, nước thải vẫn còn một lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng nhất định nên tiếp tục được dẫn qua hệ thống xử lý sinh học. Đây là công đoạn xử lý tiếp theo nhằm giảm các chất ô nhiễm còn lại trước khi nước được đưa ra môi trường. Như vậy, quy trình được thiết kế theo hướng khép kín gồm các công đoạn chính: tiếp nhận và điều hòa nước thải - thu hồi dinh dưỡng - xử lý sinh học - kiểm soát chất lượng nước đầu ra.
Đối với sản phẩm thu hồi, các hạt struvite được tiếp tục phân tích thành phần dinh dưỡng và kiểm tra các chỉ tiêu liên quan đến an toàn. Kết quả bước đầu cho thấy, sản phẩm có chứa các nguyên tố dinh dưỡng có giá trị đối với cây trồng. Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu liên quan đến kim loại nặng nhằm đánh giá khả năng sử dụng sản phẩm thu hồi trong nông nghiệp. Bên cạnh nước thải, bùn phát sinh từ quá trình xử lý và hệ thống biogas cũng được nhóm nghiên cứu xem xét như một nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng. Thay vì thải bỏ hoàn toàn, bùn có thể được xử lý và phối trộn theo quy trình phù hợp để sản xuất phân compost hoặc phân bón hữu cơ, qua đó tiếp tục giảm lượng chất thải cần xử lý.
Sau khi tham quan thực tế mô hình xử lý nước thải lắp đặt tại hộ chăn nuôi lợn ở địa phương, các đại biểu đánh giá cao ưu điểm của hệ thống pilot, được thiết kế theo hướng tự động hóa, dễ thao tác, thuận lợi cho người chăn nuôi trong quá trình sử dụng. Ngoài ra, công nghệ có khả năng mở rộng công suất, khi quy mô chăn nuôi tăng và lượng nước thải phát sinh lớn hơn, hệ thống có thể được điều chỉnh hoặc nâng công suất của các thiết bị chính mà không nhất thiết phải mở rộng diện tích theo tỷ lệ tương ứng. Đây là yếu tố quan trọng đối với các trang trại lợn có kế hoạch phát triển đàn trong tương lai. Về triển vọng ứng dụng, công nghệ này phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn tại Việt Nam, đặc biệt là các trang trại quy mô vừa và nhỏ, cần nhân rộng áp dụng ở các địa phương.