Sinh kế và hội nhập của tộc người Đan Lai tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát: Từ lịch sử đến hiện tại

Bài báo nghiên cứu về tiến trình lịch sử, sự biến đổi phương thức sinh kế và quá trình hội nhập của tộc người Đan Lai tại vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát (miền Tây Nghệ An).

Từ cội nguồn lịch sử di cư đầy bi kịch cách đây hơn 200 năm để trốn chạy bạo chúa, người Đan Lai đã hình thành lối sống khép kín cùng những tập tục sinh tồn khắc nghiệt như "ngủ ngồi", "đẻ ngồi". Trải qua các giai đoạn triển khai các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các chương trình tái định cư từ năm 2001-2002, sinh kế của người Đan Lai đến nay đã có những bước chuyển đổi vượt bậc từ tự nhiên (phát nương làm rẫy, hái lượm, săn bắt) sang kinh tế hàng hóa đa dạng (canh tác lúa nước, chăn nuôi khoa học, trồng và bảo vệ rừng, làm công nhân tại các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động). 
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đột phá về hạ tầng, y tế và giáo dục, cộng đồng người Đan Lai hiện vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn như tỷ lệ nghèo đa chiều còn cao, tình trạng thiếu đất sản xuất nghiêm trọng, hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện và nguy cơ mai một bản sắc văn hóa. Trên cơ sở bài học kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, tác giả đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm phát triển bền vững cho tộc người Đan Lai, bao gồm: đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng gắn liền với bảo tồn di sản; ứng dụng chuyển đổi số và mô hình y tế từ xa (Telemedicine); thay đổi tư duy hỗ trợ từ cấp phát sang hướng dẫn kỹ thuật và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi; và thực hiện cơ chế đồng quản lý tài nguyên rừng thông qua chi trả dịch vụ môi trường rừng, ứng dụng công nghệ trong phát triển nông lâm thủy sản và bán tín chỉ carbon. 
Từ khóa: Người Đan Lai, Sinh kế bền vững, Hội nhập văn hóa, Vườn Quốc gia Pù Mát, Tái định cư, Chuyển đổi số, Du lịch cộng đồng.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số miền núi đóng vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng, chủ quyền biên giới và bảo vệ hệ sinh thái quốc gia. Trong tiến trình phát triển chung của đất nước, khu vực này hiện đang phải đối mặt với hai nguy cơ lớn: suy thoái môi trường tự nhiên, xói mòn đa dạng sinh học và xu hướng tụt hậu về kinh tế - xã hội; chủ trương “miền núi tiến kịp miền xuôi” ở đâu đó vẫn còn là một khẩu hiệu xa vời.
Trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, tộc người Đan Lai sinh sống tại vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát là một trong những nhóm cư dân dễ bị tổn thương nhất. Họ mang trong mình một lịch sử di cư đầy kỳ bí và sầu thảm nhưng cũng thấm đẫm chất nhân văn; cùng với đó là những thách thức to lớn trong quá trình định canh định cư và chuyển đổi mô hình sinh kế từ tự nhiên sang thích ứng với cơ chế thị trường. 
Bối cảnh hiện nay đòi hỏi một góc nhìn toàn diện: Vườn Quốc gia Pù Mát không chỉ đơn thuần là một Vườn di sản ASEAN hay vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận, mà nơi đây còn là không gian sinh tồn khép kín suốt nhiều thế kỷ của người Đan Lai. Do đó, việc nghiên cứu thấu đáo và toàn diện về sinh kế, các biến động văn hóa và tiến trình chuyển đổi số, hội nhập của tộc người Đan Lai không chỉ có ý nghĩa khoa học trong việc bảo tồn một mảnh ghép di sản độc đáo, mà còn cung cấp những luận cứ thực tiễn, những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới. 
1. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.1. Khái quát các vấn đề dân tộc trên phạm vi toàn cầu
Vấn đề sắc tộc và chính sách dân tộc luôn là một trong những chủ đề thời sự nóng bỏng, có tác động sâu sắc đến sự ổn định chính trị - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Tại các quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa như Mỹ, Anh, Canada, Ấn Độ hay Sri Lanka, những mâu thuẫn mang tính sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ diễn ra gay gắt, thúc đẩy hiện tượng "thức tỉnh dân tộc" và đặt ra bài toán khó khăn về quản lý nhà nước trong việc dung hợp các giá trị đa văn hóa. 
Ở một khía cạnh lịch sử khác, hệ thống các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) từng đạt được những thành tựu có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết vấn đề dân tộc giai đoạn đầu. Tuy nhiên, những sai lầm mang tính hệ thống sau đó như: vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, thiếu quan tâm hoặc hạ thấp lợi ích đặc thù của các dân tộc thiểu số, cùng với xu hướng hành chính hóa các quan hệ tộc người đã dẫn đến sự rạn nứt nghiêm trọng. Hệ quả là khi bối cảnh chính trị biến động, các xung đột sắc tộc đã bùng nổ, dẫn đến sự ly khai, đổ máu và tan rã của các thể chế liên bang. 
1.2. Bài học và giá trị tham chiếu cho Việt Nam
Từ thực tiễn biến động địa chính trị tại Đông Âu và Liên Xô (cũ), khoa học về chính sách dân tộc rút ra bài học cốt lõi: tuyệt đối không được áp đặt các mô hình phát triển kinh tế, không nên lấy văn hóa “lấy ta làm trung tâm” (Egocentrism hay Self-centeredness) một cách máy móc, lấy cái “ta” và “chúng ta” để “đo” người khác, văn hóa khác, mang tính áp đặt, duy ý chí “từ trên xuống”. Mọi sự can thiệp chính sách cần phải dựa trên việc đi sâu vào bối cảnh thực tiễn tại địa phương. Ý chí chính trị cần tôn trọng một cách nghiêm túc ba trụ cột: lợi ích kinh tế thiết thân của đồng bào, truyền thống văn hóa tộc người và đặc điểm sinh thái - nhân văn của từng địa bàn cụ thể. Đối với Việt Nam, việc phát triển các tộc người thiểu số đặc biệt khó khăn như người Đan Lai cần phải tiếp thu bài học này để tránh gây ra các "cú sốc" trong quá trình phát triển và hội nhập vào dòng chảy chung của các dân tộc cùng có chung một Tổ quốc, là “đồng bào” cùng từ cái bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ. 
2. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
2.1. Giai đoạn trước năm 1975
Ở miền Bắc Việt Nam, từ năm 1955, hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước được xây dựng dựa trên nguyên tắc chiến lược: đoàn kết các dân tộc, tập trung xóa nạn mù chữ, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và chất lượng chăm sóc sức khỏe, giáo dục và từng bước khẳng định quyền làm chủ thực tế của đồng bào các dân tộc thiểu số. 
Mặc dù đã đạt được những kết quả căn bản về mặt xã hội; tuy nhiên, do bối cảnh lịch sử và tư duy quản lý thời kỳ đó, việc áp dụng mô hình hợp tác hóa nông nghiệp quá sớm và có phần "đốt cháy giai đoạn" đối với các tộc người còn mang nặng tàn dư của thiết chế công xã truyền thống hoặc cận nguyên thủy (tiêu biểu như người Đan Lai, người Khơ Mú) đã bộc lộ những hạn chế. Việc hành chính hóa sản xuất khi trình độ lực lượng sản xuất còn quá thấp kém đã gặp phải những trở ngại lớn, khiến cho hiệu quả kinh tế và xã hội không đạt được như kỳ vọng; và hơn thế, điều đó còn kìm hãm tính chủ động của nội lực tộc người. 
2.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã bước vào giai đoạn hoạch định chính sách một cách hệ thống hơn thông qua hàng loạt chương trình, dự án quốc gia có quy mô lớn như Chương trình Định canh định cư, Chương trình 327 (phủ xanh đất trống đồi núi trọc), Chương trình 135, cùng với chính sách chiến lược về giao đất giao rừng và các chương trình mục tiêu quốc gia như Nông thôn mới, Xóa đói giảm nghèo, v.v… 
Những thành tựu mang tính bước ngoặt: Hệ thống chính sách này đã thành công trong việc xây dựng khung hạ tầng cơ bản (hệ thống điện lưới, đường giao thông, trường học, trạm y tế), góp phần chấm dứt căn bản nạn du canh du cư tự do ở nhiều địa bàn chiến lược, từng bước ổn định đời sống định cư và thúc đẩy sản xuất nông-lâm nghiệp hàng hóa
Những hạn chế và thách thức thực tế: Công tác quy hoạch di dân từ miền xuôi lên miền núi và thành lập các nông-lâm trường quốc doanh thiếu đồng bộ trong một số giai đoạn đã vô tình làm thu hẹp quỹ đất sản xuất truyền thống của cư dân bản địa, dẫn đến các tranh chấp đất đai âm ỉ. Đồng thời, quá trình giao đất giao rừng ở nhiều địa phương mang nặng tính cào bằng hành chính, chưa tính toán đầy đủ đến tập quán canh tác luân canh nương rẫy có chu kỳ mang tính lịch sử của đồng bào. Hệ quả trực tiếp là người dân lâm vào tình trạng thiếu đất sản xuất nghiêm trọng, tạo áp lực ngược khiến một bộ phận đồng bào phải quay lại phương thức phá rừng làm rẫy để giải quyết nhu cầu lương thực trước mắt. 
3. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN
Vùng miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, đặc biệt là không gian thuộc Khu Dự trữ sinh quyển thế giới, được ví như một bức tranh thu nhỏ về mặt nhân học tộc người của cả nước. Đây là địa bàn quần tụ lâu đời của nhiều tộc người như Thái, Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu, Đan Lai-Ly Hà, Tày Pọong... Mỗi tộc người, do những điều kiện lịch sử và sinh thái khác nhau, sở hữu một trình độ phát triển kinh tế và phương thức thích ứng sinh kế riêng biệt. 
Người Thái chiếm số đông, có truyền thống và trình độ canh tác lúa nước thâm canh cao, sở hữu cấu trúc xã hội (bản, mường) tương đối phát triển và ổn định. Ngược lại, các nhóm tộc người như Mông, Khơ Mú và đặc biệt là Đan Lai trong một thời gian dài lại gắn chặt số phận với tập quán phát rừng làm nương rẫy, sống phụ thuộc gần như tuyệt đối vào các sản vật tự nhiên. Do đó, các cộng đồng này thường xuyên phải đối mặt với tình trạng đói nghèo kinh niên và là nhân tố chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự suy thoái môi trường sinh thái rừng. 
Trong bối cảnh hiện nay, toàn bộ vùng miền Tây Nghệ An đang trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ dưới tác động của kinh tế hàng hóa và giao lưu văn hóa mở rộng. Xu thế này một mặt mở ra cơ hội thoát nghèo nhưng mặt khác cũng đặt ra nguy cơ nhãn tiền về sự mai một, đồng hóa và biến đổi căn bản bản sắc văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số. 
4. NGƯỜI ĐAN LAI - LỊCH SỬ DI CƯ, QUAN HỆ TỘC NGƯỜI VÀ NHỮNG TẬP TỤC SINH TỒN BI THẢM VÀ KỲ BÍ
4.1. Nguồn gốc lịch sử và huyền thoại trốn chạy bạo chúa
Tộc người Đan Lai (trước đây còn gọi là nhóm Đan Lai - Ly Hà) có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Việt - Mường, sở hữu mối liên hệ cội nguồn rất gần gũi với tiếng người Kinh vùng Hoa Quân (Thanh Chương, Nghệ An). Theo các tài liệu khảo cứu cổ về dân tộc học và chuyên khảo như Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, người Đan Lai đã tách khỏi cộng đồng người Kinh Thanh Chương ít nhất là trên 200 năm. 
Huyền thoại trốn chạy của họ bắt đầu từ việc quan “phụ mẫu” bắt nộp cống phẩm phi lý: "Trăm cây nứa vàng và một chiếc thuyền liền mái chèo". Để tránh họa diệt tộc, họ dắt díu nhau chạy trốn theo dòng suối, ngược lên thượng nguồn sông Giăng giữa rú sâu đại ngàn Pù Mát lánh nạn. Trong quá trình đó, nhóm người Ly Hà đã hòa tan, đồng hóa hoàn toàn vào văn hóa, ngôn ngữ người Đan Lai, ngày nay chỉ còn phân biệt mơ hồ qua gốc gác họ tộc trong lịch sử (người họ Lê đa phầnlà gốc Ly Hà, người họ La đa phần là gốc Đan Lai). Có tài liệu cho rằng, họ vốn cùng một cội, là hai anh em ruột, người anh từ làng Đan Nhiệm, sau này thành người Đan Lai; người em ở xóm kế bên, cùng chạy họa theo anh nhưng rồi anh em tan tác, thành người Ly Hà; sau do “tiếng gọi” của huyết thống mà tìm về với nhau và hòa tan vào nhau.
4.2. Tập tục "ngủ ngồi", "đẻ ngồi" và những hủ tục sinh tồn khắc nghiệt
Chính không gian sinh tồn cô lập, hoang dã và đầy hiểm nguy của rừng sâu đã định hình nên những tập tục kỳ bí, có một không hai của người Đan Lai.

image001-1783325491.jpg
Một góc bản Cò Phạt của người Đan Lai ở vùng lõi Pù Mát

Tập tục "ngủ ngồi": Bị ám ảnh kinh hoàng bởi nỗi sợ hãi quan quân truy đuổi từ quá khứ, kết hợp với sự đe dọa thường trực của các loài thú dữ nơi rừng thiêng nước độc, người Đan Lai cổ xưa chọn cách quây quần bên bếp lửa, sử dụng một khúc gỗ hoặc gậy chống dưới cằm để ngủ trong tư thế ngồi. Tư thế này giúp họ sẵn sàng bật dậy tháo chạy hoặc phản kháng khi có biến. 
Hủ tục "đẻ ngồi" và tắm suối lạnh: Phụ nữ Đan Lai khi chuyển dạ phải ra sinh nở trong tư thế ngồi trên một cái chòi tạm bợ. Đứa trẻ vừa sinh ra, bất kể thời tiết nắng nóng hay rét mướt, đều bị nhúng xuống dòng suối lạnh từ 7 (con trai) đến 9 lần (con gái) để "thử thách" sinh mạng. Hủ tục này có lẽ bắt nguồn từ quan niệm của người Việt cố: đàn ông có 3 hồn 7 vía, phụ nữ có 3 hồn 9 vía. Hủ tục khắc nghiệt này từng gây ra tỷ lệ tử vong rất cao cho cả mẹ và bé. 
4.3. Thiết chế quan hệ tộc người và hệ quả của sự khép kín
Do vị thế yếu thế của lối sống lẩn trốn, người Đan Lai trong lịch sử chịu sự kỳ thị nặng nề của các tộc người tiến bộ hơn xung quanh. Người Thái bản địa gọi họ là "Tày pời lời" (hay "Xá lá vàng"), hàm ý chế giễu lối sống hoang dã, nhà cửa tạm bợ lợp mái bằng lá rừng nhanh úa vàng. 
Sự khép kín địa lý kéo dài nhiều thế kỷ buộc họ phải chấp nhận hôn nhân nội tộc đồng họ (họ La lấy họ La, họ Lê lấy họ Lê), dẫn đến nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, đẩy tộc người này vào nguy cơ suy thoái nòi giống nghiêm trọng. Người ngoài (Kinh, Thái) trước đây chê con gái Đan Lai "đầu có chấy" nên không kết hôn, càng khiến cộng đồng Đan Lai co cụm, tự ti, ngại tiếp xúc với người lạ. 
5. BIẾN ĐỔI PHƯƠNG THỨC SINH KẾ CỦA NGƯỜI ĐAN LAI - CUỘC "CÁCH MẠNG" LỘT XÁC VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG
5.1. Mô hình sinh kế truyền thống mang tính tự nhiên trong quá khứ
Trước đây, sinh kế của người Đan Lai hoàn toàn dựa vào nương rẫy ("dao canh hỏa chủng") và hái lượm tự nhiên. Họ phát rừng, đốt trồng cây kê xen lẫn ngô và các giống lúa địa phương (é ca, p'ke, lúa món). Do không bón phân, đất cằn cỗi rất nhanh nên năng suất lúa nương cực thấp (chỉ khoảng 15-20kg thóc/miếng ruộng). Đồng bào không những thiếu gạo mà còn thường xuyên đói cả sắn, phải vào rừng đào củ mài, chặt cây máu chó, hái măng và săn bẫy thú rừng để sống đắp đổi qua ngày. Sau này, khi gỗ rừng “có giá”, cuộc sống của họ cũng không khá hơn do bị phụ thuộc chặt chẽ vào các đầu nậu gỗ lậu người Kinh, họ lâm vào vòng luẩn quẩn nợ nần kiệt quệ. 
5.2. Chuyển đổi sinh kế qua các dự án tái định cư
Từ năm 1973-1976 và nhất là từ 2001-2002, Chương trình tái định cư của Nhà nước đã đưa các hộ dân Đan Lai từ vùng lõi Pù Mát (như Khe Cồn, Khe Nóng, Khe Khẳng) ra các bản định cư mới như bản Tân Sơn, Cửa Rào (xã Môn Sơn), Châu Sơn (xã Châu Khê), Thạch Sơn, Bá Hạ (xã Thạch Ngàn)... Đại đa số các hộ tái định cư trên vùng đất mới được nhà nước cấp một ngôi nhà xây kiên cố 3 gian kiểu người Kinh, được hỗ trợ lương thực, giống cây trồng và gia súc. 
So sánh giữa sinh kế truyền thống và sinh kế chuyển đổi của người Đan Lai

fc-1783325421.png

Những điểm sáng mang tính đột phá: Đến năm 2026, diện mạo đời sống người Đan Lai và bộ mặt làng bản của họ đã có những thay đổi vượt bậc, “có mơ cũng không thấy”, như lời một già làng bản Châu Sơn. Nhờ các mô hình khuyến nông và chính sách nông thôn mới phù hợp với thực tiễn, đồng bào đã biết dùng giống mới, cày bừa, cấy thưa, bón phân chuồng và NPK, năng suất lúa tăng vọt lên 50-60kg/miếng ruộng. Đàn gia súc phát triển mạnh mẽ nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo, dùng giống lai và trồng cỏ voi làm thức ăn, nuôi nhốt…; 100% hộ dân có xe máy, 2/3 số hộ sở hữu điện thoại di động thông minh và hầu như nhà nào cũng có TV. 
Tư duy mưu sinh có sự lột xác mang tính thời đại: Thanh niên Đan Lai đến tuổi lao động không còn vào rừng chặt gỗ, làm rẫy, bãy thú mà đi ra các tỉnh phía Bắc (Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội) hay vào Nam (Bình Dương) làm công nhân khu công nghiệp hoặc đi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản, Đài Loan, gửi tiền về cho gia đình xây dựng nhà cửa kiên cố, mua sắm tiện nghi sinh hoạt. Tấm gương vượt khó tiêu biểu như thầy giáo Đan Lai đầu tiên La Văn Thám (Nhà giáo Ưu tú được Nhà nước phong tặng năm 1996) hay các hộ gia đình như ông La Văn Đoàn (bản Cò Phạt) sở hữu máy kéo, máy xay xát trị giá hàng trăm triệu đồng là minh chứng rõ nét cho năng lực tự lực tự cường vươn lên của đồng bào. 
Những chới với và thách thức phát sinh: Mặc dù đạt thành tựu to lớn, sinh kế người Đan Lai hiện nay (tháng 6 năm 2026) vẫn đối mặt với nghèo đa chiều (chiếm tới 65.5% - 70% số hộ ở bản Châu Sơn là hộ nghèo). Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu đất ruộng nghiêm trọng (trung bình chỉ có 200-300m² lúa nước/hộ), đất đai cằn cỗi, đá sỏi; không có hoặc có hệ thống thủy lợi nhưng chưa đồng bộ, hoàn chỉnh nên ruộng lúa nước thường xuyên bị khô hạn, lúa chết héo trên đồng. 
Bên cạnh đó, dịch bệnh gia súc như dịch tả lợn châu Phi, viêm da nổi cục ở bò liên tục càn quét gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Hệ thống giáo dục còn khoảng cách lớn khi điểm trường Khe Nóng bị giải tán năm 2022, các cháu nhỏ muốn đi học phải lội qua 4 khe suối, đi bộ 7km ra trường tiểu học ngoài Khe Bu, dẫn đến tỷ lệ bỏ học cao. Tình trạng mâu thuẫn đất đai giữa Lâm trường và 53 hộ dân ở Khe Nóng kéo dài từ năm 2008 đến nay chưa được giải quyết khiến người dân không có đất canh tác, mâu thuẫn đất đai chưa khi nào nguôi ngoai, họ phải sống nghèo khổ trên đất lâm trường. 
6. PHÁT TRIỂN XANH, Y TẾ SỐ VÀ CÁC BÀI HỌC CHÍNH SÁCH HỘI NHẬP BỀN VỮNG
6.1. Chiến lược đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng tại bản Cò Phạt
Bản Cò Phạt hiện có 132 hộ với 547 nhân khẩu. Nằm giữa vùng lõi thâm nghiêm của Vườn Quốc gia Pù Mát, nơi đây sở hữu độ che phủ rừng tuyệt đối với dòng sông Giăng trong vắt, in bóng núi non xanh biếc. Cảnh quan hoang sơ này cực kỳ thu hút khách du lịch ưa mạo hiểm, phượt rừng. Trạm công an biên phòng cũ tại bản Cò Phạt nay đã được cải tạo làm nhà trẻ và mẫu giáo, tạo tiền đề xây dựng hạ tầng dân sinh phục vụ du lịch cộng đồng. 
Tập tục "ngủ ngồi", "đẻ ngồi" tuy hiện nay không còn nữa, hay các bài khấn epic bằng tiếng Đan Lai cổ xưa cần được nghiên cứu, phục dựng dưới dạng trình diễn di sản, kết hợp thưởng thức "cơm Mường Quạ, cá sông Giăng” đặc sản Pù Mát làm hạt nhân thu hút khách du lịch. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, Nhà nước cần đầu tư hoàn thiện con đường bộ kết nối từ đập Phà Lài vào bản nhằm chấm dứt tình trạng cô lập vào mùa mưa lũ, hoàn chỉnh hệ thống tưới-tiêu, ứng dụng công nghệ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sản xuất nông lâm thủy sản. 
6.2. Mô hình Y tế số (Telemedicine) và chuyển đổi số vùng sâu
Hiện tại, công tác y tế tại vùng lõi Cò Phạt phụ thuộc vào Trạm quân - dân y kết hợp của Đồn Biên phòng và Trạm xá xã Môn Sơn. Do khoảng cách địa lý biệt lập, mô hình Y tế số (Telemedicine) kết nối trực tuyến giữa y tế bản với Bệnh viện đa khoa huyện Con Cuông và Bệnh viện tỉnh Nghệ An là giải pháp cấp bách và hiệu quả. 
Dân bản có thể thông qua điện thoại thông minh kết nối mạng để được bác sĩ tuyến trên tư vấn, chẩn đoán bệnh án điện tử từ xa. Để làm được điều này, rào cản viễn thông cần được tháo gỡ bằng việc phủ sóng toàn vùng, bê tông hóa các cột điện thoại, trạm phát sóng 4G/5G ổn định, kể cả trong mùa mưa bão. Mô hình này cũng được áp dụng cho hệ thống Khuyến nông, Thông tin Thị trường và Thông tin Du lịch.
6.3. Bài học kinh nghiệm cho chính sách dân tộc
Hội nhập nhưng không hòa tan: Tiến trình đưa người Đan Lai thích ứng với đời sống hiện đại cần tôn trọng văn hóa bản địa. Sự biến mất của ngôn ngữ Ly Hà do bị hòa tan vào ngôn ngữ Đan Lai là bài học nhắc nhở về công tác bảo tồn tiếng nói truyền thống thông qua việc biên tập và xuất bản từ điển Đan Lai - Việt - Anh. 
Thay đổi phương thức hỗ trợ: Cần chuyển từ tư duy cấp phát cho không sang hỗ trợ kỹ thuật thực chất (thủy lợi dẫn nước từ suối lên ruộng, hỗ trợ cày bừa ruộng bậc thang), phát triển cây dược liệu và chế biến dược phẩm tại chỗ, phát triển nghề nuôi ong mật công nghệ cao, bảo tồn và phát triển nghề nuôi cá Mát, một đặc sản trời phú cho dòng sông Giăng, bằng các hình thức phù hợp (như lồng bè, đào ao, tạo điều kiện thuận lợi cho các Mát sinh sôi nảy nở…). Nhà nước cần có cơ chế quy hoạch, bố trí công ăn việc làm cho con em người Đan Lai sau khi tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng để tạo động lực học tập cho thế hệ trẻ trong cộng đồng, tránh tình trạng "học xong vẫn phải đi làm thuê" vì không đủ tiền và đủ quan hệ để “chạy việc”, gây tâm lý chán nản, làm héo mòn tinh thần ham học vừa mới được nhen nhóm của đồng bào. 
Đồng quản lý tài nguyên: Giao khoán bảo vệ rừng cộng đồng cần nâng mức chi trả xứng đáng và công bằng (năm 2025 bản Cò Phạt nhận được 2,852 tỷ đồng trên diện tích 225ha rừng, chia đều cho các hộ dân, vì là rừng cộng đồng, mọi người có nghĩa vụ và trách nhiệm như nhau trong việc bảo vệ rừng); sắp tới, bà con còn được nhận thêm tiền từ kinh phí bán tín chỉ carbon, thu nhập từ bảo vệ rừng của đồng bào sẽ tăng thêm đáng kể; điều đó giúp gắn lợi ích sinh kế của đồng bào với sự trường tồn của rừng xanh Pù Mát, từ đó bà con có thể sống bằng nghề rừng và làm giầu từ rừng. 
KẾT LUẬN
Hành trình chuyển đổi phương thức mưu sinh của tộc người Đan Lai từ lẩn trốn bạo chúa giữa đại ngàn sâu thẳm đến các bản định cư hiện đại ven quốc lộ 7 hay bản Đan Lai đổi mới giữa vùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát là một kỳ tích nhân văn lớn. Tuy nhiên, để sự hội nhập này vững chắc trong tương lai, bài toán kinh tế nông nghiệp cần được “giải” trên cơ sở đất đai cằn cỗi, thiếu nước canh tác và tranh chấp đất đai lịch sử với các lâm trường cần phải được giải quyết dứt điểm theo hướng đứng về phía người dân, có lợi cho đồng bào. Đánh thức tiềm năng kinh tế xanh bằng du lịch cộng đồng, ứng dụng công nghệ cao trong phát triển kinh tế dược liệu, nghề nuôi ong và nuôi cá đặc sản; thu hẹp khoảng cách với miền xuôi bằng chuyển đổi công nghệ số, đó chính là chìa khóa để tộc người Đan Lai tự tin đồng hành cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em trên con đường phát triển của đất nước trong Kỷ nguyên mới. 

GS.TS.NGND. Trần Đức Viên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Dương Lịch. Nghệ An ký. Bản dịch Viện Sử học.
2. Bùi Minh Thuận (2021). Phương thức mưu sinh của người Đan Lai. NXB Khoa học Xã hội.
3. Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997). Tiếp cận Sinh thái Nhân văn và Phát triển bền vững miền núi Tây nam Nghệ An. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Ninh Viết Giao. Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ.
5. Nguyễn Đình Lộc (1993). Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An. NXB Nghệ An.
6. Trần Đức Viên (2026). Ghi chép thực địa chuyến điền dã Con Cuông - Châu Sơn – Cửa Rào - Cò Phạt (22/6 - 27/6/2026).
7. Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) & CRES (1998). Đánh giá tác động môi trường lưu vực sông Cả. Hà Nội.
8. A. Terry Rambo, Le Trong Cuc, Tran Duc Vien (1998). People in a Park: The Human Ecology of the Dan Lai Ethnic Minority in the Pu Mat Nature Reserve, Nghe An Province, Vietnam. East-West Center & CRES.
9. Trần Bình. (2011). Văn hóa mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam. Thời đại, Hà Nội.
10. Trần Đức Viên & Phạm Thị Hương (2001). Tác động của chính sách nông nghiệp, nông thôn đến quản lý tài nguyên và cuộc sống người dân vùng thượng nguồn lưu vực sông Cả. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.

Đặt mua Tạp chí Môi trường