Xây dựng mô hình ước tính các-bon cho các loài cây ngập mặn vùng ven biển tỉnh Hưng Yên, đồng bằng sông Hồng, Việt
Tóm tắt
Nghiên cứu đã xây dựng được các mô hình ước tính các-bon cho hai loài cây ngập mặn chủ yếu là Bần chua (Sonneratia caseolaris) và Trang (Kandelia obovata) cho khu vực ven biển tỉnh Hưng Yên, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng các-bon tích lũy của hai loài có mối quan hệ chặt chẽ với đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D1.3m). Các mô hình ước tính đều đạt độ tin cậy cao (R2 = 0,88 - 0,97), do vậy D1.3m là biến giải thích hiệu quả cho dự báo các-bon trong rừng ngập mặn. Đối với loài Bần chua (Sonneratia caseolaris), mô hình đa thức và lũy thừa cho kết quả tốt nhất (R2 = 0,97; RMSE = 0,20 kg), trong khi loài Trang (Kandelia obovata) đạt tối ưu ở mô hình đa thức và đa biến (R2 = 0,95; RMSE = 0,47 kg). Kết quả cũng cho thấy mối tương quan cao giữa các-bon trên mặt đất (AGC) và dưới mặt đất (BGC) là (R2 = 0,90 -0,91). Các kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ kiểm kê và đánh giá khả năng lưu trữ các-bon và hấp thụ CO2 của rừng ngập mặn ven biển tỉnh Hưng Yên, ĐBSH Việt Nam.
Từ khóa
Rừng ngập mặn
các-bon xanh
mô hình
ven biển
ĐBSH
Việt Nam
Tài liệu tham khảo
- Alongi, D. M. (2020). Global significance of mangrove blue carbon in climate change mitigation. Sci, 2(3), 67.
- Cao Huy Bình (2009): Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của quần thể dà quánh (Ceriops decandra Dong Hill) tự nhiên tại Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh).
- Clough, B. F., & Scott, K. (1989). Allometric relationships for estimating above-ground biomass in six mangrove species. Forest ecology and management, 27(2), 117-127.
- Donato, D. C., Kauffman, J. B., Murdiyarso, D., Kurnianto, S., Stidham, M., & Kanninen, M. (2012). Rừng ngập mặn trong những kiểu rừng giàu trữ lượng các-bon nhất ở vùng nhiệt đới. CIFOR Brief, 13.
- FAO (2020): Mangrove management. – http://www.fao.org/forestry/mangrove/en/.
- Haque, A. (2026). Blue Carbon and Mangrove Economics: Knowledge Hubs for the Pacific. Available at SSRN 6637098.
- Hoàng Văn Sâm, Nguyễn Hải Hòa, Trần Thị Mai Sen, Lê Sỹ Doanh, Dương Bích Ngọc, Phạm Văn Duẩn, Nguyễn Thị Bích Hảo, Lê Hồng Liên (2024). Rừng ngập mặn ĐBSH. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
- Inoguchi, A., Henry, M., Birigazzi, L., & Sola, G. (2012). Tree allometric equation development for estimation of forest above-ground biomass in Vietnam. UN-REDD Programme, Hanoi.
- Komiyama, Akira, Jin Eong Ong, and Sasitorn Poungparn (2008). Allometry, biomass, and productivity of mangrove forests: A review." Aquatic botany 89, no. 2 (2008): 128-137.
- Lư Ngọc Trâm, Anh, Tuấn Võ Hoàng Anh, and Nam Viên Ngọc (2017). Tích tụ các bon của rừng ngập mặn ở Cồn Trong, vườn Quốc gia Mũi Cà Mau theo từng giai đoạn. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kỳ 2-tháng 9/2017.
- Luong, V. N., Tu, T. T., Khoi, A. L., Hong, X.T., Hoan, T. N., & Thuy, T. L. H. (2019). Biomass estimation and mapping of Can Gio Mangrove Biosphere Reserve in South of Viet Nam using ALOS-2 PALSAR-2 data. Applied Ecology & Environmental Research, 17(1).
- Nguyễn Viết Lương (2017). Báo cáo chuyên đề điều tra ô tiêu chuẩn rừng ngập mặn Tiền Hải và Thái Thụy. Nghiên cứu hợp tác nghiên cứu giữa Viện Địa lý (nay là Viện Các khoa học Trái đất) và Viện Công nghệ vũ trụ (nay là Trung tâm Vũ trụ Việt Nam), Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Mai Sĩ Tuấn (2007). Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong việc tích lũy carbon giảm hiệu ứng nhà kính. Hội thảo Quốc gia “Phục hồi rừng ngập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu hướng tới phát triển bền vững’’, Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh 26 – 27/11/2007, 9 trang.
- Ong, J. E., Gong, W. K., & Wong, C. H. (2004). Allometry and partitioning of the mangrove, Rhizophora apiculata. Forest Ecology and Management, 188(1-3), 395-408.
- Pham, T. D., Le, N. N., Ha, N. T., Nguyen, L. V., Xia, J., Yokoya, N., ... & Takeuchi, W. (2020). Estimating mangrove above-ground biomass using extreme gradient boosting decision trees algorithm with fused sentinel-2 and ALOS-2 PALSAR-2 data in can Gio biosphere reserve, Vietnam. Remote Sensing, 12(5), 777.
- Phan Nguyên Hồng (chủ biên), Trần Văn Ba, Viên Ngọc Nam, Hoàng Thị Sản, Vũ Trung Tạng, Lê Thị Trễ, Nguyễn Hoàng Trí, Mai Sỹ Tuấn, Lê Xuân Tuấn (1999). Rừng ngập mặn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 205 trang.
- Viên Ngọc Nam (2011). Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng Cóc trắng (Lumnitzera racemosa Willd) trồng ở Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thônTNT, số 2+3/2011, tr 162-166.
- Wanthongchai P. and Piriyayota S., (2006). Role of mangrove plantation on carbon sink case study: Trat Province, Thailand. Office of Mangrove Conservation, Department of Marine and C o a s t a l Resource (DMCR), Thailand.
Tài trợ / Acknowledgment
Viện Các khoa học trái đất đã chia sẽ dữ liệu và Quỹ Đổi mới Sáng tạo Vingroup (VINIF) đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu này thông qua Dự án mã số VINIF. 2025. DA107
Các bài viết khác trong số này
- Sử dụng chỉ số tích hợp đánh giá mức độ ô nhiễm nước biển ven bờ do kim loại nặng ở Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025 Trang 066-072
- Bờ biển bùn - rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long: Vòng lặp suy thoái và giải pháp bảo vệ bờ đa cấp độ Trang 073-079
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước biển và trầm tích tại các bãi tắm ven biển tỉnh Ninh Bình Trang 087-095
- Bước đầu xây dựng một số tiêu chí thiết kế xây xanh cho các dự án công trình giao thông đường bộ vùng khí hậu phía Bắc Việt Nam hướng tới phát triển bền vững Trang 096-100