
Phát biểu khai mạc Hội thảo Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững TS. Nguyễn Song Tùng cho biết: “Cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và nâng cao mức sống của người dân, lượng CTRSH phát sinh ngày càng lớn, trong khi yêu cầu đối với công nghệ, chất lượng dịch vụ và tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao. Điều đó, đặt ra nhu cầu đầu tư rất lớn cho hệ thống quản lý chất thải. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách nhà nước có hạn, không thể chỉ dựa vào đầu tư công để giải quyết bài toán này. Huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy hợp tác công tư cần được xem là một trong những hướng đi quan trọng để hình thành hệ thống quản lý chất thải hiện đại, hiệu quả và bền vững. Vấn đề này càng có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay, khi chủ trương phát triển kinh tế tư nhân đang đặt ra yêu cầu tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, khơi thông các nguồn lực cho phát triển, đồng thời, yêu cầu bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ mới đòi hỏi phải đổi mới phương thức quản trị và huy động hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội.
Hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá tổng thể, toàn diện các chính sách hợp tác công tư, thu hút đầu tư tư nhân; thực trạng thu hút đầu tư tư nhân, sự tham gia của doanh nghiệp, bao gồm các công ty Nhà nước, nhà đầu tư tư nhân trong thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH; giải pháp và chính sách thu hút đầu tư, hợp tác công tư đối với các dự án xử lý CTRSH tại Việt Nam…; thảo luận, đóng góp ý kiến về các chính sách, đặc biệt là Dự án sửa đổi Luật BVMT năm 2020”.

Tham luận về thực trạng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư tư nhân vào xử lý CTRSH trong bối cảnh sửa đổi Luật BVMT năm 2020, TS. Dương Thị Thanh Xuyến, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho biết, khu vực tư nhân ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư, xây dựng và vận hành các cơ sở xử lý CTRSH, góp phần giảm áp lực đầu tư công và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hạ tầng và quy hoạch được hoàn thiện, nhiều địa phương quy hoạchkhu xử lý tập trung và thu hút doanh nghiệp đầu tư theo hình thức xã hội hóa. Cơ chế cung cấp dịch vụ công được đổi mới, chuyển từ giao nhiệm vụ sang đấu thầu, tạo môi trường cạnh tranh, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia; Áp dụng công nghệ hiện đại, từng bước thay thế chôn lấp, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải… Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập như cơ chế xã hội hóa chưa đủ mạnh, thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro; giá dịch vụ chưa theo cơ chế thị trường; chưa phát triển thị trường đầu ra… Vì vậy, việc sửa đổi Luật BVMT năm 2020 là cần thiết để hoàn thiện khung pháp lý, chuyển mạnh từ tư duy quản lý chất thải sang phát triển thị trường dịch vụ môi trường và kinh tế tuần hoàn.

Chia sẻ về hoàn thiện chính sách về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn tại Việt Nam, ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chánh Văn phòng PPP, Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Tài chính cho biết, theo kết quả rà soát, thống kê của Bộ Tài chính, đa số dự án đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải được các địa phương triển khai theo hình thức đầu tư kinh doanh theo pháp luật về đầu tư; chưa nhiều dự án triển khai theo phương thức PPP. Trong đó, có các nhóm vấn đề được nhiều địa phương phản ánh như: Quy mô và hiệu quả tài chính của dự án; định mức, đơn giá cho công nghệ xử lý mới; thủ tục lựa chọn nhà đầu tư; hợp đồng mẫu và cơ chế chia sẻ rủi ro khi khối lượng rác đầu vào biến động; sự đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng xử lý rác thải và quy hoạch sử dụng đất… Do đó, cần hoàn thiện khung pháp lý, đồng thời cần phân định rõ phương thức đầu tư và ban hành hướng dẫn chuyên ngành.
Kiến nghị sửa đổi Luật BVMT năm 2020 có liên quan đến các dự án đầu tư tư nhân, hợp tác công tư trong xử lý CTRSH, PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam đề xuất 5 nội dung ưu tiên: Thiết lập cơ chế giá dịch vụ xử lý chất thải đủ hấp dẫn nhà đầu tư; quy định cam kết khối lượng rác và thanh toán dài hạn cho dự án PPP; thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro Nhà nước - nhà đầu tư; công nhận và tạo lập thị trường cho sản phẩm tái chế, compost, vật liệu từ chất thải và năng lượng thu hồi; áp dụng quy trình thí điểm về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) và quản lý số toàn bộ dòng chất thải, làm cơ sở thanh toán và giám sát hợp đồng.

Thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi về những khó khăn mà dự án xử lý chất thải đang vướng mắc như: thời hạn thuê đất, lựa chọn công nghệ, lựa chọn nhà đầu tư, giá dịch vụ, nguồn chất thải đầu vào, hợp đồng dài hạn, khả năng thu xếp vốn và phân bổ rủi ro giữa Nhà nước với nhà đầu tư… Đồng thời, kiến nghị, bổ sung một số nội dung hoàn thiện Luật BVMT năm 2020, cụ thể: Nguyên tắc phát triển thị trường dịch vụ môi trường; quy định cơ chế lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ thông qua đấu thầu, đặt hàng, PPP; làm rõ trách nhiệm của Nhà nước trong phát triển thị trường xử lý CTRSH; Hoàn thiện cơ chế giá dịch vụ theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí; có cơ chế điều chỉnh giá theo biến động đầu vào; khuyến khích hợp đồng dịch vụ công dài hạn…