Từ khóa: Gia Lai, kinh tế biển, môi trường biển, hải đảo.
Current status of coastal and island waste source management in Gia Lai province and proposals
Abstract
Gia Lai province has a coastline of approximately 134 km, situated on an international shipping route, with 3 large lagoons covering nearly 8,000 hectares, and more than 30 islands. It also has the Nhon Hoi coastal economic zone, giving it many advantages for developing its marine economy. The development of marine economic sectors in recent years has contributed to the socio-economic development of the province, but it has also brought about pressure on environmental protection. This article analyzes the current state of coastal and island waste management in the province and, based on this analysis, proposes several measures to effectively manage waste sources and contribute to strengthening the control of marine and island environmental pollution.
Keywords: Gia Lai, marine economy, marine and island environment.
JEL Classifications: O13, P18, Q48, Q54.
1. Đặt vấn đề
Tỉnh Gia Lai hiện nay được hình thành từ việc sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Định trước đây (địa phương thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ) và tỉnh Gia Lai (địa phương thuộc vùng Tây Nguyên). Sau khi sắp xếp, tỉnh có diện tích tự nhiên là 21.576,53 km2 (lớn thứ hai cả nước), với quy mô dân số trên 3,58 triệu người. Địa phương nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên - Duyên hải Nam Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp nước Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông giáp biển Đông. Với vị trí địa lý giáp biển, tỉnh Gia Lai có chiều dài đường bờ biển khoảng 134 km, nằm trên tuyến hàng hải quốc tế, có 3 đầm lớn (Thị Nại, Đề Gi và Trà Ổ) với diện tích gần 8.000 ha, có khoảng hơn 30 hải đảo, trong đó có xã Nhơn Châu (đảo Cù Lao Xanh) là đảo duy nhất có dân cư sinh sống. Dọc bờ biển có nhiều bãi biển đẹp (Quy Hòa, Quy Nhơn, Hải Giang, Kỳ Co, Trung Lương...), có hệ thống cảng biển (gồm cảng Quy Nhơn, Thị Nại, Tân Cảng Quy Nhơn và Tân Cảng Miền Trung), có 3 cảng cá lớn (Quy Nhơn, Đề Gi và Tam Quan), đồng thời có khu kinh tế ven biển Nhơn Hội nên Gia Lai có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế biển. Sự phát triển của các ngành kinh tế biển trong thời gian qua đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, nhưng kéo theo đó là áp lực về bảo vệ môi trường vì lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế biển cũng như từ sinh hoạt hằng ngày của người dân địa phương. Trong thời gian qua, tỉnh Gia Lai đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm quản lý nguồn thải, xử lý chất thải sau thu gom, đánh giá chất lượng môi trường hằng năm nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh.
2. Hiện trạng công tác thu gom và xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh
Hiện nay, trên địa bàn phía Đông tỉnh có 2 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung là Nhà máy xử lý nước thải Nhơn Bình (công suất thiết kế 28.000 m3/ngày đêm) và Nhà máy xử lý nước thải 2A (công suất thiết kế 2.350 m3/ngày đêm) chủ yếu phục vụ cho khu vực Quy Nhơn. Trên địa bàn Khu kinh tế Nhơn Hội đã đầu tư Khu xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Nhơn Hội (phân kỳ I, giai đoạn 1) (công suất 2.000 m3/ngày đêm) phục vụ các dự án trong khu công nghiệp, đồng thời một số cơ sở sản xuất, du lịch hoạt động trong phạm vi khu kinh tế đã thực hiện đấu nối đường ống nước thải về khu xử lý. Một số dự án du lịch biển, tâm linh, nuôi trồng và chế biến thủy sản... đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng, đồng thời tái sử dụng phục vụ tưới cây. Các dự án năng lượng tái tạo thực hiện thu gom nước thải vào bể gom tập trung và hợp đồng đơn vị xử lý. Tại khu vực cảng biển Bình Định, các cảng biển hợp đồng với Công ty TNHH Thương mại và Môi trường Hậu Sanh thực hiện thu gom, xử lý chất thải lỏng lẫn dầu từ tàu thuyền neo đậu tại khu vực cảng. Tại các cảng cá đều đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn các xã, phường ven biển hiện nay được thực hiện chủ yếu bởi Công ty CP Môi trường Bình Định, các hợp tác xã, hạt giao thông công chính, ban quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường, một số đơn vị tư nhân và hộ gia đình. Công nghệ xử lý chủ yếu là chôn lấp tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh tập trung và một số bãi tạm. Tại xã đảo Nhơn Châu, công tác thu gom được Công ty CP Môi trường Bình Định thực hiện và xử lý tại Lò đốt rác thải xã Nhơn Châu (công suất 330 kg/giờ). Tại khu vực cảng biển Bình Định, các cảng biển hợp đồng với Công ty CP Môi trường Bình Định thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt từ tàu thuyền neo đậu tại khu vực cảng. Tại các cảng cá, các ban quản lý cảng cá chỉ đạo cho tổ vệ sinh thu gom chất thải rắn sinh hoạt và vận chuyển đến nơi xử lý hoặc hợp đồng với Công ty CP Môi trường Bình Định và đơn vị có chức năng vận chuyển đến bãi chôn lấp. Ngoài ra, giai đoạn 2024-2025, tại cảng cá Quy Nhơn và Đề Gi đã triển khai phương tiện Tàu thu gom rác thải, chất thải mặt nước, đồng thời triển khai thí điểm mô hình “Thu gom rác thải nhựa từ tàu cá về bờ” cho 200 tàu cá trên toàn tỉnh cập cảng cá Quy Nhơn (thuộc phi dự án “Thí điểm các mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải ngành thủy sản nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại thành phố Quy Nhơn” do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tài trợ), từ đó đưa vào hoạt động nhà thu gom rác thải nhựa từ các tàu cá đi khai thác đem về bờ và sơ chế để chuyển cho công ty môi trường xử lý. Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình “Thu gom rác thải nhựa từ tàu cá về bờ” tại các địa phương ven biển trên địa bàn tỉnh, thông qua dự án Cộng đồng ven biển thông minh thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam (do UNDP tài trợ, 2025-2030) sẽ hỗ trợ thêm 3.000 túi lưới thu gom rác thải nhựa cho 3.000 tàu cá.
Đối với chất thải nguy hại, hiện nay có Công ty TNHH Thương mại và Môi trường Hậu Sanh được cấp phép hoạt động thu gom và xử lý tại Nhà máy tái chế và xử lý chất thải nguy hại Hậu Sanh (công suất 17 tấn/ngày).

2. Hiện trạng công tác quản lý nguồn thải trên địa bàn tỉnh
Để triển khai công tác quản lý nguồn thải, UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch, quy định như sau: Kế hoạch hành động về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh tại Quyết định số 470/QĐ-UBND ngày 18/2/2020; Kế hoạch số 168/KH-UBND ngày 19/9/2024 của UBND tỉnh về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và dự toán kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường 3 năm 2025-2027; Quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh tại Quyết định số 43/2025/QĐ-UBND ngày 6/6/2025; Kế hoạch số 106/KH-UBND ngày 28/10/2025 về quản lý chất thải rắn sinh hoạt giai đoạn 2026-2030; Quy định quản lý hoạt động thoát nước, xử lý nước thải trên địa bàn tỉnh tại Quyết định số 64/2025/QĐ-UBND ngày 30/11/2025; Giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh tại Quyết định số 1509/QĐ-UBND ngày 1/4/2026... Giai đoạn 2021-2022, tỉnh đã triển khai nhiệm vụ “Nghiên cứu, điều tra, kiểm soát nguồn thải trực tiếp gây suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường vùng biển ven bờ trên địa bàn tỉnh”.
Công tác quản lý nguồn thải trên địa bàn tỉnh được cụ thể hóa thông qua việc cấp, phê duyệt Giấy phép môi trường, Báo cáo đánh giá tác động môi trường kết hợp kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở, dự án. Bên cạnh đó, địa phương tiếp tục duy trì việc kiểm soát các nguồn thải có lưu lượng lớn thông qua hệ thống quản lý dữ liệu quan trắc tự động nguồn thải. Đến nay, Khu xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Nhơn Hội (hoạt động ven đầm Thị Nại thông với biển) đã lắp đặt hoàn thiện trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục, thực hiện kết nối và truyền dữ liệu quan trắc về Sở Nông nghiệp và Môi trường để quản lý.
Hàng năm, tỉnh Gia Lai duy trì hoạt động quan trắc nhằm đánh giá chất lượng môi trường để đưa ra các giải pháp xử lý, khắc phục ô nhiễm kịp thời, hiệu quả. Theo đó, địa phương triển khai điều tra, khảo sát, lấy mẫu (trong đó có yếu tố môi trường biển) để tiến hành phân tích phục vụ lập báo cáo hiện trạng môi trường hằng năm. Vị trí quan trắc được lựa chọn đa dạng (bao gồm: khu dân cư, khu du lịch, khu neo đậu tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản...) và phân bố khắp các xã, phường ven đầm, ven biển và xã đảo. Hiện nay có các hoạt động quan trắc liên quan, bao gồm: (1) Quan trắc nước biển ven bờ và trầm tích biển tại 18 vị trí; (2) Quan trắc nước mặt đầm Thị Nại tại 3 vị trí; (3) Quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản, trong đó có 9 vị trí quan trắc môi trường nước lợ và 1 vị trí quan trắc môi trường nước mặn; (4) Quan trắc chất lượng môi trường định kỳ trong Khu kinh tế Nhơn Hội, trong đó có quan trắc chất lượng trầm tích khu vực đầm Thị Nại tại 2 vị trí, quan trắc chất lượng môi trường nước mặt đầm Thị Nại tại 5 vị trí và quan trắc chất lượng nước biển ven bờ gần các dự án du lịch ven biển từ Nhơn Hải, phường Quy Nhơn Đông đến Cát Hải, xã Cát Tiến tại 8 vị trí.
Bên cạnh đó, trên địa bàn phường Quy Nhơn có 1 Trạm quan trắc tự động nước biển ven bờ lắp đặt tại Trạm hải văn môi trường Quy Nhơn, phường Quy Nhơn. Chỉ tiêu quan trắc bao gồm: TSS, pH, Nhiệt độ, Amoni, DO. Thông qua Hệ thống quản lý dữ liệu quan trắc tự động nguồn thải trên địa bàn tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ đánh giá chất lượng nguồn thải và kịp thời tham mưu triển khai các biện pháp xử lý, khắc phục ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất.
Trong công tác lập và điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, địa phương đã thực hiện cập nhật các điểm quan trắc môi trường nước biển và trầm tích biển. Theo đó, tổng số điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ giai đoạn 2025-2030 bao gồm 18 điểm quan trắc định kỳ và 1 điểm quan trắc tự động, liên tục, thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển QCVN 10:2023/BTNMT được ban hành kèm theo Thông tư số 01/2023/TT-BTNMT ngày 13/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Tần suất quan trắc là 6 đợt/năm (2 tháng/đợt) theo quy định tại Điều 10. Quan trắc chất lượng nước biển thuộc Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật quan trắc môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường.
Nhằm nâng cao nhận thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác quản lý chất thải nói riêng, hằng năm, địa phương triển khai các hoạt động tuyên truyền, hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (5/6), Ngày Đại dương thế giới (8/6), Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam (1-8/6), cụ thể hóa Kế hoạch hành động về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh và các hoạt động triển khai Kế hoạch truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh được ban hành tại Quyết định số 3229/QĐ-UBND ngày 4/10/2022 với đa dạng hình thức và nội dung như: in và treo băng rôn, phướn tuyên truyền; tổ chức lễ mít tinh và diễu hành; tập huấn, bồi dưỡng kiến thức bảo vệ môi trường; đổi rác lấy quà (bao gồm: chai nhựa; sách, báo, vở học cũ; pin đã qua sử dụng...); phát động dọn dẹp vệ sinh bãi biển; thi vẽ tranh, chụp ảnh, thi “Rung chuông vàng” chủ đề tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; tặng thùng đựng rác cho các xã, phường ven biển, tặng cờ Tổ quốc cho các hộ gia đình ngư dân ven biển...
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nguồn thải ven biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh Gia Lai vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:
(1) Công tác thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt còn gặp khó khăn do năng lực của các đơn vị thu gom còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, địa bàn rộng, dân cư phân tán. Bên cạnh đó, việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải còn hạn chế do khối lượng chất thải phát sinh chưa đủ lớn để thu hút đầu tư hiệu quả.
(2) Hệ thống thu gom nước thải tại các khu đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề chưa đồng bộ, một số khu vực chưa có hạ tầng thu gom, xử lý nước thải tập trung, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân cũng như hoạt động sản xuất.
3. Đề xuất, kiến nghị
Để công tác quản lý nguồn thải triển khai hiệu quả, góp phần tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai đề xuất, kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam và Cục Môi trường một số nội dung:
Thứ nhất, tham mưu Chính phủ ban hành các chính sách về: (1) khuyến khích sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần và bao bì ni-lông; (2) hỗ trợ thu gom, tái chế nhựa phế liệu, xử lý chất thải hữu cơ; (3) tăng cường xã hội hóa, thu hút các nhà đầu tư tham gia các lĩnh vực bảo vệ môi trường liên quan đến xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị.
Thứ hai, phối hợp Bộ Nội vụ nghiên cứu, xem xét điều chỉnh tăng định mức công chức làm công tác quản lý môi trường cấp xã, trong đó có môi trường biển và hải đảo phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay.
Thứ ba, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các quy định, tài liệu hỗ trợ địa phương (về kỹ thuật, kinh phí) trong thực hiện tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, như: tiêu chí phân loại rác tại nguồn, xử lý chất thải nguy hại trong hoạt động sinh hoạt của người dân; xử lý bao bì nhựa sử dụng một lần, hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt…
Thứ tư, sớm ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật về: (1) các nội dung thực hiện dịch vụ sự nghiệp công về môi trường để tạo thuận lợi cho việc xây dựng dự toán và triển khai thực hiện các nhiệm vụ về quản lý nguồn thải; (2) vận hành trạm quan trắc nước biển ven bờ để địa phương có cơ sở làm căn cứ thực hiện.
Nguyễn Văn Nhung1 - Phó Chi cục trưởng
Phan Thị Linh1, Phạm Thế Nhơn1
1Chi cục Thủy sản Gia Lai
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 5/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường tỉnh Gia Lai năm 2025, UBND tỉnh Gia Lai, 2026.
2. Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Gia Lai giai đoạn 2021-2025, UBND tỉnh Gia Lai, 2026.
3. Báo cáo tình hình quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo năm 2025, UBND tỉnh Gia Lai, 2026.
4. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, UBND tỉnh Gia Lai, 2025.