Không chỉ là vựa lúa, vựa thủy sản, vựa trái cây của cả nước, ĐBSCL còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và là “trái tim xanh” bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Tuy nhiên, vùng đất trù phú này đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng như biến đổi khí hậu (BĐKH), xâm nhập mặn, sụt lún đất và áp lực đô thị hóa. Những vấn đề này không chỉ đe dọa đến phát triển bền vững mà còn ảnh hưởng đến an ninh lương thực và sinh kế của hàng triệu người dân nơi đây. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các giải pháp xanh và bền vững để phát triển là yêu cầu cấp bách.
Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, và cơ quan quản lý chia sẻ những sáng kiến, và kinh nghiệm thực tiễn nhằm thúc đẩy xây dựng bền vững gắn với bảo vệ môi trường cho ĐBSCL. Các giải pháp trình bày tại hội thảo tập trung vào việc thực hiện kinh tế tuần hoàn, cụ thể là tận dụng tro, xỉ nhiệt điện vào việc chế tạo vật liệu xây dựng (VLXD) xanh; từ đó chuyển đổi sang các giải pháp giảm thiểu dấu chân các-bon trong ngành xây dựng, phát triển hạ tầng và cảnh quan theo nguyên lý xanh, sạch; đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Tại công trình “Nghiên cứu ứng dụng tro xỉ nhiệt điện trong chế tạo vật liệu xây dựng giảm phát thải khí hiệu ứng nhà kính”, PGS.TS.Huỳnh Trọng Phước cho biết: Tro bay là các hạt tro mịn bay lên được thu lại tại lọc bụi (chiếm khoảng 80-90%) và tro đáy, hay còn gọi là xỉ đáy lò (chiếm khoảng 10-20%), là các hạt thô, to, thu được ở đáy lò đốt nhà máy nhiệt điện than. Năm 2025, Việt Nam có khoảng 31 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành thương mại (tính theo nhà máy/dự án, không tách từng tổ máy), với tổng công suất xấp xỉ 27-28 GW. Cả nước ước tính tiêu thụ khoảng 70-75 triệu tấn than/năm cho các nhà máy nhiệt điện than. Lượng tro bay và xỉ đáy phát sinh khoảng 18-22 triệu tấn/năm.
Việt Nam đã ban hành các tiêu chuẩn sử dụng tro, xỉ nhiệt điện làm vật liệu xây dựng và vật liệu san lấp và đang dùng trong các lĩnh vực: Xi măng, bê-tông, gạch, san lấp và đắp đường. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mức độ sử dụng tro, xỉ của Việt Nam mới đạt 9% trên tổng lượng phát thải, thấp hơn nhiều so với nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc (28%), EU (14%), Ấn Độ (20%)… Một số ứng dụng tiềm năng khác trong sử dụng tro, xỉ trên thế giới nhưng chưa áp dụng tại Việt Nam như: Vật liệu hoàn nguyên mỏ; Vật liệu gia cố; Đắp đê; Nông nghiệp; Thu hồi thành phần quí… Hậu quả là một số bãi chứa tro xỉ đã đầy, không còn trữ lượng, có nguy cơ tràn tro xỉ ra môi trường nếu tiếp tục thải. Việc thu gom và xử lý nước chảy tràn qua các bãi chứa chưa được thu gom xử lý triệt để. Hầu hết các bãi chứa có thiết kế lót đáy, sườn bãi bằng lớp chống thấm tuy nhiên, do tác động của thời gian và các yếu tố bất lợi của thời tiết, nhiều khu vực lót bị rách. Việc này có thể dẫn đến ngấm nước rỉ ra môi trường xung quanh. Đặc biệt, cơ chế, chính sách khuyến khích hay hạn chế trong việc sử dụng tro xỉ tại các tỉnh rất khác nhau khiến việc tiêu thụ tro xỉ gặp khó khăn…
Theo nghiên cứu của Thi et al. (2019), việc tồn lưu khối lượng lớn tro và xỉ trong thời gian dài tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí do trong tro, xỉ có thể chứa các chất gây hại. Việc tiếp xúc thường xuyên với tro và xỉ có tác động tiêu cực đến sức khỏe và làm tăng nguy cơ ung thư. Vì thế, việc tìm ra giải pháp tận dụng các loại sản phẩm phụ công nghiệp này rất quan trọng để bảo vệ môi trường.
Trong bối cảnh đó, Đề tài nghiên cứu “Vật liệu xanh cho công trình hạ tầng nông thôn ĐBSCL” với sản phẩm là các mẫu gạch lát bê-tông (gạch terrazzo) và sản phẩm bê-tông của nghiên cứu sinh Lê Thành Phiêu – Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Bách Khoa, Đại học Cần Thơ, đã mang ý nghĩa sâu sắc, không chỉ giải quyết bài toán xử lý, tận dụng tro, xỉ mà còn góp phần bảo vệ hạ tầng môi trường nông thôn trước tác động của BĐKH, giải quyết bài toán thiếu hụt vật liệu xây dựng; giúp đi vào quỹ đạo định hướng phát triển hạ tầng nông thôn bền vững.
Theo đó, đề tài đã nghiên cứu làm ra sản phẩm gạch lát bê-tông (gạch terrazzo) với các nguyên liệu gồm: Xi măng, tro bay, cát nghiền, xỉ đáy. Còn sản phẩm bê-tông được đúc trong phòng thí nghiệm gồm các nguyên liệu: Xi măng, tro bay, vôi bột, cát sông, cát nghiền, đá, chất phụ gia, cho ra hỗn hợp bê-tông tươi.
Qua thực hiện nhiều thí nghiệm, cuối cùng Công trình nghiên cứu đã thành công khi sản xuất gạch terrazzo và beton tươi với tỷ lệ các nguyên liệu thích hợp. Sau đó sản phẩm được ứng dụng thử nghiệm thực tế tại 2 địa điểm gồm: Sản phẩm gạch terrazzo sử dụng để lát sân của Trường Tiểu học Phú Tân (Khu B), với diện tích 275,0 m2 , tại địa chỉ ấp Phú Tân, xã Phú Tân, huyện Châu Thành (tỉnh Hậu Giang cũ), nay là xã Phú Hữu, TP. Cần Thơ. Ngày hoàn thành và đưa vào sử dụng: 27/01/2024.

Sản phẩm bê-tông dùng để xây dựng công trình lộ giao thông nông thôn tại ấp Nhất A, xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (cũ), nay là xã Thạnh Hòa, TP. Cần Thơ. Công trình có chiều dài 140,0 m, chiều rộng 2,0 m, chiều dày bê tông 0,12 m. Hoàn thiện và đưa vào sử dụng: 14/01/2024. Qua hơn 1 năm sử dụng, các sản phẩm đã đạt hiệu quả cao ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, kỹ thuật.

Về kinh tế, tổng chi phí vật liệu của hỗn hợp gạch lát kết hợp tro, xỉ là 641.498 VNĐ/m3, thấp hơn khoảng 34% so với gạch thương mại thông thường trên thị trường. NCS Lê Thành Phiêu phân tích: “Giá của cát nghiền tự nhiên đắt hơn nhiều so với xỉ đáy. Do đó, việc thay thế cát nghiền bằng xỉ đáy làm giảm đáng kể tổng chi phí sản xuất gạch lát bê-tông, đồng thời tận dụng được lượng lớn các sản phẩm phụ công nghiệp. Hiệu quả kinh tế còn tăng hơn khi tính đến chi phí xử lý chất thải. Hơn nữa, việc sử dụng các sản phẩm phụ công nghiệp giúp tránh cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên có hạn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững”.
Về kỹ thuật và môi trường: Các mẫu gạch terrazzo đã chứng minh được chất lượng và đáp ứng khả năng chống thấm bề mặt cần thiết. Hàm lượng kim loại nặng trong tất cả các mẫu gạch đều thấp đáng kể so với giới hạn quy định trong các tiêu chuẩn quốc gia… Đối với bê tông: Hỗn hợp HVFC có giá trị độ sụt tương ứng đạt 18cm và 20cm, đáp ứng yêu cầu thi công và phù hợp với phương pháp bơm ngang trong thực tiễn. Cường độ nén 28 ngày và chỉ số mài mòn bề mặt của tất cả các mẫu bê-tông đều đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn kỹ thuật, với cường độ nén vượt 41,3 MPa và giá trị mài mòn dưới 0,6 g/cm². Hàm lượng kim loại nặng rò rỉ từ hỗn hợp HVFC ở mức rất thấp và nằm dưới đáng kể so với các giới hạn quy định trong QCVN 07:2009/BTNMT.
Về mặt xã hội, qua khảo sát, 2 sản phẩm đều được người dân đánh giá ở mức tốt và rất tốt, đặc biệt là không có người dân được khảo sát đánh giá ở mức thấp về sản phẩm. Điều này cho thấy sản phẩm gạch lát bê-tông và bê-tông không bộc lộ hạn chế nào so với các sản phẩm tương tự tại địa phương. Người dân cũng nhận thức được hiệu quả kinh tế khi sử dụng sản phẩm với chi phí thấp hơn khoảng 34% đối với gạch terrazzo và 25% đối với bê tông, điều này rất ý nghĩa khi nhân rộng sử dụng sản phẩm trong thời gian tới, đặc biệt trong việc xây dựng các công trình phục vụ phát triển nông thôn mới.
Kết quả thu được trong nghiên cứu chỉ ra rằng: Các sản phẩm này sử dụng trong các công trình xây dựng sẽ đạt độ bền và tính ổn định lâu dài; không gây ô nhiễm môi trường, có tiềm năng ứng dụng rộng rãi., đồng thời, đóng góp vào định hướng sử dụng vật liệu xanh trong phát triển hạ tầng nông thôn và cảnh quan đô thị sinh thái vùng ĐBSCL cũng như cả nước.
|
a. Ông Phạm Trường Giang - Phó Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ đóng góp ý kiến |
b. Doanh nghiệp mong sản phẩm sớm tiếp cận thị trường |
Tại hội thảo, các đại biểu đánh giá cao 2 sản phẩm và mong sớm đưa ra thị trường. Ông Phạm Trường Giang - Phó Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ TP.Cần Thơ cho biết: Sẽ giới thiệu 02 sản phẩm tham gia Chương trình Khởi nghiệp - Đổi mới sáng tạo của TP.Cần Thơ. Ông Trần Văn Vui, xã Phú Hữu, TP.Cần Thơ, chân thành bày tỏ: “Công trình đường lộ beton do thầy Phiêu và các đồng sự làm rất chắc, đẹp, bà con rất yêu thích. Trước đây đường khó đi, đặc biệt là trơn trượt, sình lầy vào mùa mưa; bây giờ sạch, đẹp, dù nắng, mưa bà con đi lại, buôn bán đều thuận tiện; con cháu đi học dễ dàng. Chúng tôi rất mang ơn thầy Phiêu và khoa Xây dựng, Đại học Cần Thơ. Mong Khoa tiếp tục hỗ trợ, với sự đóng góp của chúng tôi, tiếp tục làm những con lộ nông thôn còn lại trong ấp”.
Cùng với việc trao đổi các giải pháp vật liệu và kiến trúc xanh thích ứng BĐKH, Hội thảo còn kết nối Sở ngành, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp để chung tay thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển hạ tầng xanh, bền vững, cho khu vực.