Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia: Nền tảng số cốt lõi cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, việc quản lý tài nguyên thiên nhiên không chỉ dựa trên những báo cáo hay các chuyến khảo sát thực địa. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học đang trở thành yêu cầu cấp thiết, đóng vai trò là hạ tầng kỹ thuật cốt yếu để hiện đại hóa công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tại Việt Nam. Đây chính là “bộ não” số giúp các nhà quản lý đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời và có cơ sở khoa học vững chắc.

Hành trình xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học
Một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất sẽ cung cấp cái nhìn toàn cảnh về các Di sản thiên nhiên, Khu bảo tồn thiên nhiên hiện có của Việt Nam (bao gồm các Di sản thiên nhiên được quốc tế công nhận), cho phép tích hợp toàn bộ thông tin về các loài động vật, thực vật, vi sinh vật cùng các hệ sinh thái đặc hữu trên phạm vi cả nước. Thay vì dữ liệu bị phân tán, rời rạc tại nhiều địa phương và đơn vị nghiên cứu khác nhau, việc số hóa giúp tạo ra một bức tranh tổng thể và sống động về thực trạng đa dạng sinh học và thể hiện một cách trực quan trên bản đồ số.

anh-1-1781151980.jpg
Hình 1. Hình ảnh giao diện Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia

Chìa khóa của quản lý hiện đại nằm ở khả năng phân tích và ứng dụng dữ liệu trong việc ra quyết định. Khi các thông tin về vùng phân bố của loài, sinh cảnh nhạy cảm được công khai và minh bạch hóa trên hệ thống, các nhà đầu tư và cơ quan phê duyệt dự án sẽ có cơ sở để tránh những tác động tiêu cực đến môi trường ngay từ khâu thiết kế, từ đó giảm thiểu xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên.
Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu còn thúc đẩy sự hợp tác liên ngành và hội nhập quốc tế. Đây là nền tảng để Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ báo cáo quốc tế theo Công ước Đa dạng sinh học và các cam kết về môi trường khác. Một hệ thống dữ liệu đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước dễ dàng chia sẻ tri thức, cùng nhau nghiên cứu các giải pháp bảo tồn nguồn gen quý hiếm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, đây cũng là công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, giúp người dân dễ dàng tiếp cận kiến thức về giá trị thiên nhiên của đất nước qua các ứng dụng số hay nền tảng web.
Tuy nhiên, hành trình xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học đòi hỏi sự đầu tư dài hạn về công nghệ và nguồn nhân lực chuyên môn cao. Cần có sự thống nhất về quy chuẩn dữ liệu giữa các bộ, ngành và sự phối hợp chặt chẽ trong việc cập nhật thông tin thường xuyên. Khi dữ liệu thực sự trở thành tài sản số được vận hành hiệu quả, công tác bảo tồn thiên nhiên sẽ bước sang một chương mới, thông minh hơn, minh bạch hơn và bền vững hơn. Đầu tư cho cơ sở dữ liệu hôm nay chính là xây dựng nền tảng cho một tương lai.
Hiện thực hóa hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia
Việt Nam nắm giữ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học đặc biệt quý giá nhưng công tác quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững các giá trị này vẫn chưa đạt được hiệu quả tối ưu, đặc biệt là nỗ lực hiện đại hóa công tác điều hành và lưu trữ dữ liệu giữa kỷ nguyên số. Một trong những nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự thiếu hụt một hệ thống dữ liệu tập trung. Trên thực tế, các nguồn dữ liệu hiện vẫn còn “đọng” tại nhiều đơn vị và tồn tại dưới nhiều định dạng khác nhau, gây cản trở trực tiếp đến khả năng tổng hợp và phân tích thông tin chuyên ngành. Do đó, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tập trung là cần thiết, không chỉ đáp ứng yêu cầu về mặt quản lý mà còn cụ thể hóa việc thực thi các quy định tại Luật Đa dạng sinh học và thực hiện mục tiêu trọng tâm của Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là giải pháp then chốt nhằm hiện đại hóa công tác quản lý, lưu trữ, chuẩn hóa và nâng cấp dữ liệu hiệu quả trong quá trình chuyển đổi số, áp dụng thành tựu công nghệ kỹ thuật vào công cuộc quản lý hỗ trợ ra quyết định.
Để hiện thực hóa mục tiêu quản lý tập trung và thống nhất dữ liệu chuyên ngành, sau 3 năm triển khai xây dựng (2024 - 2026), Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã nghiên cứu và thử nghiệm đến nay hoàn thành Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia tại địa chỉ: https://dadangsinhhoc.mae.vn, đây là kênh thông tin chính thống trên môi trường số của đơn vị. Việc ứng dụng các module này không chỉ đơn thuần là số hóa quy trình nghiệp vụ mà còn là bước đi chiến lược nhằm đưa toàn bộ thông tin từ thực địa lên không gian số, đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong công tác điều hành.
Việc xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia được triển khai trên cơ sở bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia, phát triển hạ tầng dữ liệu, hiện đại hóa công tác quản lý tài nguyên, môi trường. Đặc biệt, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học đã tích cực thực hiện các nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Kế hoạch số 2149 của Chính phủ về xây dựng, phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; đồng thời triển khai các chương trình, kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trên cơ sở đó, Cục đã tập trung nguồn lực xây dựng, hoàn thiện và chính thức đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu số tập trung, thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam.
Theo đó, hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia được thiết kế 08 Module, tuy nhiên đến nay đã 05 Module: (1) Khu bảo tồn thiên nhiên (Thông tin chung về các Khu bảo tồn thiên nhiên); (2) Di sản thiên nhiên và Khu bảo tồn khác (Cung cấp thông tin tổng thể các di sản thiên nhiên theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường bao gồm Khu bảo tồn thiên nhiên, Danh lam thắng cảnh, Di sản thiên nhiên quốc tế và Di sản thiên nhiên khác); (3) Loài sinh vật (Thông tin các loài sinh vật thuộc bốn nhóm chính: Loài nguy cấp, quý, hiếm; Loài đặc hữu; Loài hoang dã di cư và Loài ngoại lai xâm hại); (4) Nguồn gen và an toàn sinh học (Lưu trữ các thông tin về nguồn gen, thông tin về các tri thức truyền thống; sinh vật biến đổi gen và an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen); (5) Ban quản lý khu bảo tồn (Hỗ trợ các Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên cập nhật thông tin, dữ liệu liên quan vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia); 03 Module còn lại Cục tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.
Các Module này hỗ trợ trực tiếp tương tác và cập nhật dữ liệu vào CSDL ĐDSH quốc gia, giúp chuẩn hóa, liên kết và số hóa các thông tin về loài, gen và hệ sinh thái. Lợi ích cốt lõi bao gồm: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn, tối ưu hóa công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ phát triển kinh tế bền vững. Các lợi ích chi tiết được phân nhóm sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả quản lý và ra quyết định
• Số hóa dữ liệu: Giúp tự động hóa và hỗ trợ quản lý dữ liệu liên quan đến đa dạng sinh học một cách minh bạch. 
• Quản lý quy hoạch: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về phân bố tài nguyên sinh học, hỗ trợ các cấp chính quyền xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp mà không phá hủy môi trường sống tự nhiên.
• Đơn vị phối hợp đồng bộ: Tạo ra nền tảng chung để các bộ, ngành và địa phương dễ dàng trao đổi, kết nối thông tin, tránh chồng chéo trong việc thu thập dữ liệu. 
Thứ hai, tối ưu hóa công tác bảo tồn
• Bảo vệ loài nguy cấp: Xác định chính xác các khu vực trọng yếu, các loài và nguồn gen đang bị đe dọa để có biện pháp khoanh vùng và bảo vệ kịp thời. 
• Phục hồi hệ sinh thái: Dữ liệu lịch sử và hiện trạng là cơ sở nền tảng để thiết kế các dự án phục hồi môi trường tự nhiên, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. 
Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu và giáo dục
• Ứng dụng giáo dục: Trực quan hóa các dữ liệu để nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ hiệu quả cho công tác tuyên truyền và giáo dục bảo vệ môi trường. 
Thứ tư, phát triển kinh tế - xã hội bền vững
• Phát triển dược liệu & công nghiệp: Dữ liệu đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên vô giá để phát hiện các hợp chất mới phục vụ cho y học, công nghệ sinh học và thương mại. 

anh-2-1781152111.jpg
Hình 2. Các giai đoạn phát triển CSDL đa dạng sinh học quốc gia

Đặc biệt, các module đã được xây dựng không chỉ phục vụ công tác quản lý chuyên ngành mà còn cung cấp cho người khai thác một hệ thống thông tin tương đối đầy đủ về các giá trị đa dạng sinh học trên phạm vi cả nước. Thông qua hệ thống, người dùng có thể tiếp cận thông tin cơ bản về gần 200 khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam; các vùng đất ngập nước quan trọng; Di sản thiên nhiên thế giới; Khu dự trữ sinh quyển thế giới; Vườn Di sản ASEAN cùng nhiều khu vực có giá trị bảo tồn đặc biệt khác... Đây là lần đầu tiên các dữ liệu về hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam được rà soát, chuẩn hóa, hệ thống hóa và tích hợp trong một cơ sở dữ liệu thống nhất, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và căn cứ pháp lý phục vụ nhiều mục đích khai thác, sử dụng khác nhau.
Đối với nhóm dữ liệu về loài và nguồn gen sinh vật, hệ thống bước đầu cung cấp nhiều thông tin chuyên sâu về các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; loài đặc hữu; loài hoang dã di cư; loài ngoại lai xâm hại; đồng thời cập nhật dữ liệu về nguồn gen quý hiếm đang được lưu giữ, bảo tồn tại Việt Nam. Hệ thống tích hợp nhiều dạng dữ liệu khác nhau, từ văn bản pháp lý, quyết định thành lập, báo cáo chuyên môn đến bản đồ số, hình ảnh, video và các tài liệu tham khảo liên quan, giúp nâng cao hiệu quả tra cứu và khai thác thông tin.
Trong thời gian tới, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học sẽ tiếp tục hoàn thiện các module còn lại, đồng thời xây dựng thêm nhiều chuyên mục giới thiệu chi tiết về từng hợp phần của Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia. Các bài viết chuyên sâu sẽ cung cấp thông tin cụ thể về nội dung dữ liệu, phương thức quản lý, khai thác và sử dụng của từng module, qua đó giúp các cơ quan quản lý, nhà khoa học, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dễ dàng tiếp cận, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dữ liệu số phục vụ nghiên cứu, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học.
Kết luận
Một nền tảng số hiện đại đóng vai trò là chìa khóa trong công tác điều hành và bảo tồn bền vững các giá trị tài nguyên quý giá trong kỷ nguyên số. CSDL ĐDSH quốc gia không tồn tại độc lập mà được thiết kế theo hướng “mở”, tích hợp xuyên suốt với các nền tảng dùng chung và có khả năng liên thông đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia then chốt như đất đai, tài nguyên nước và môi trường. Sự kết nối này không chỉ đáp ứng trọn vẹn nhu cầu quản lý nhà nước mà còn góp phần hình thành một hệ thống dữ liệu lĩnh vực nông nghiệp và môi trường thống nhất, minh bạch và bền vững.
Để hiểu rõ hơn về các bước chuyển đổi số và phát triển nền tảng dữ liệu này, bạn có thể tham khảo thêm tại cổng thông tin chính thức của Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học. 
https://nbca.gov.vn/; www.dadangsinhhoc.mae.gov.vn

Thu Hằng

Đặt mua Tạp chí Môi trường