Điện Biên: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu tại Điện Biên. Tỷ lệ che phủ rừng tăng, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý, chất thải đô thị và chất thải nguy hại được kiểm soát tốt hơn, nhiều yếu tố của tăng trưởng xanh và sản xuất phát thải thấp bắt đầu được đưa vào thực tiễn. Tuy nhiên, khoảng trống về nước thải, chất thải nông thôn, hạ tầng quan trắc, nguồn lực tài chính và những tổn thất ngày càng lớn do thiên tai cho thấy giai đoạn tiếp theo đòi hỏi một bước chuyển sâu hơn: từ hoàn thành các chỉ tiêu môi trường sang nâng cao sức chống chịu và chất lượng phát triển.
timeline-thuc-hien-nq24-1791445047.jpg

Một chặng đường chuyển biến từ nhận thức đến hành động

Trải qua hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Kết luận số 81-KL/TW của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy Điện Biên đã tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện những kết quả đạt được, đồng thời tham gia đóng góp luận cứ thực tiễn cho việc xây dựng khuôn khổ chính sách mới của Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Dấu ấn trên chặng đường 2013–2025, giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở các chỉ tiêu định lượng, mà chính là sự chuyển biến mang tính nền tảng trong tư duy quản trị và phương thức phát triển của một địa bàn miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn.

Sự chuyển biến trước hết thể hiện ở nhận thức và công tác quản trị môi trường. Việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết đã phủ rộng đến 100% tổ chức đảng và 95% cán bộ, đảng viên, giúp thống nhất quan điểm xem bảo vệ môi trường là mục tiêu và nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tỉnh đã lồng ghép 100% chỉ tiêu môi trường và thích ứng khí hậu vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm. Trách nhiệm quản lý nhà nước được cụ thể hóa rõ nét qua từng cấp, từng ngành; nổi bật là việc áp dụng cơ chế “Luồng xanh” cắt giảm từ 65% đến 70% thời gian giải quyết thủ tục hành chính về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp phép khai thác khoáng sản đối với các dự án trọng điểm, phản ánh tinh thần đổi mới hành chính phục vụ phát triển.

Chuyển biến thứ hai ghi nhận sự thay đổi phương thức bảo vệ môi trường từ thụ động xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát nguồn thải. Công tác đánh giá tác động môi trường được siết chặt ngay từ khâu sàng lọc đầu tư, kiên quyết không chấp thuận các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu hay tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm. Tính đến hết năm 2025, Điện Biên đã hoàn thành xử lý triệt để 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (4/4 cơ sở) theo danh mục của Trung ương và không để phát sinh cơ sở mới.

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 96,5% với khoảng 96% được xử lý hoặc chôn lấp hợp vệ sinh; 100% chất thải y tế nguy hại được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn; đồng thời lắp đặt 812 bể thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường nông thôn.

Chuyển biến thứ ba mang tính căn cơ là việc từng bước đưa các yếu tố “xanh” trở thành cấu phần hữu cơ của mô hình phát triển kinh tế. Điện Biên đã phát huy thế mạnh lâm nghiệp khi nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 40,94% năm 2013 lên 45,5% năm 2025 (và đạt 45,85% vào năm 2026), gắn liền với cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tạo nguồn thu lũy kế 266,46 tỷ đồng hỗ trợ sinh kế cho các chủ rừng.

Về năng lượng, tỉnh đã đưa vào vận hành 23 nhà máy thủy điện với tổng công suất 326,8 MW. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, cùng với việc mở rộng diện tích các cây trồng chủ lực như cà phê, mắc ca, Điện Biên là một trong những địa phương tiên phong thí điểm mô hình canh tác lúa thông minh giảm phát thải (NetZero Carbon) ứng dụng công nghệ Blockchain và hệ thống MRV kỹ thuật số trên quy mô 85,86 ha, tạo tiền đề tham gia thị trường tín chỉ carbon và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Những con số biết nói từ rừng và môi trường

Nhìn lại chặng đường triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 81-KL/TW, giá trị thực tiễn được thể hiện trước hết qua những số liệu có thể đo đếm trên hai lĩnh vực cốt lõi: quản lý tài nguyên rừng và kiểm soát ô nhiễm môi trường.

kq-thuc-hien-nq24-1-1791450754.png

Ở lát cắt thứ nhất, việc giữ gìn “lá chắn xanh” ghi nhận những bước tiến ấn tượng về diện tích và độ che phủ. Từ mức 40,94% năm 2013, tỷ lệ che phủ rừng của Điện Biên đã tăng lên 45,5% vào năm 2025 với diện tích đất có rừng đạt hơn 434.300 ha và tiếp tục duy trì ở mức 45,85% trong 9 tháng đầu năm 2026. Trong đó, diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn đạt 246.324,87 ha; hàng nghìn héc-ta được khoanh nuôi tái sinh và trồng mới. Đi kèm với công tác phát triển rừng là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo nguồn thu lũy kế 266,46 tỷ đồng trong giai đoạn 2013–2025 (hình thành nguồn tài chính hơn 1.125 tỷ đồng chi trả cho 7.473 chủ rừng) và tiếp tục giải ngân hơn 205,45 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2026, mang lại sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao. Dù vậy, ở góc độ quản trị hệ sinh thái, sự gia tăng về diện tích hay tỷ lệ che phủ thuần túy chưa thể đồng nhất với chất lượng rừng và khả năng hấp thụ carbon. Thực tế báo cáo cho thấy, áp lực từ tình trạng xâm hại rừng lấy đất canh tác nông nghiệp hay các sự cố cháy rừng trong mùa khô tuy chưa làm giảm tổng diện tích rừng nhưng đã làm suy giảm chất lượng rừng tự nhiên – một lời nhắc nhở quan trọng về yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học căn cơ.

Ở lát cắt thứ hai, công tác xử lý các “điểm nóng” ô nhiễm đã có sự chuyển dịch đáng chú ý từ giải quyết sự cố đơn lẻ sang kiểm soát mang tính hệ thống. Điện Biên đã hoàn thành xử lý triệt để 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (4/4 cơ sở) và không để phát sinh cơ sở mới. Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt đô thị đạt 96,5%; 100% chất thải y tế nguy hại được xử lý đạt quy chuẩn; 812 bể thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật được lắp đặt tại khu vực nông thôn. Việc kiểm soát ô nhiễm hệ thống còn được thể hiện qua công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ngay từ khâu sàng lọc dự án và duy trì 104 điểm quan trắc môi trường định kỳ. Tuy nhiên, khả năng kiểm soát hệ thống vẫn bộc lộ khoảng trống lớn khi tỷ lệ thu gom rác thải nông thôn mới đạt khoảng 45%–46% và tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý tập trung chỉ dừng lại ở mức 10,94%.

pho-ct-ubnd-dien-bien-1791445602.jpg
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên Lò Văn Cương và Giám đốc Sở NN&MT - Lê Xuân Cảnh tại buổi tổng kết mô hình canh tác lúa thông minh giảm phát thải khí nhà kính trên lúa vụ đông xuân năm 2024 - 2025

Ở lát cắt thứ ba, những mô hình kinh tế mới đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh đã bắt đầu nảy mầm. Tiêu biểu là việc tỉnh tiên phong triển khai mô hình canh tác lúa thông minh giảm phát thải (NetZero Carbon) kết hợp công nghệ Blockchain và hệ thống MRV kỹ thuật số trên quy mô 85,86 ha, bên cạnh việc nhân rộng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước trên hơn 9.200 ha lúa. Cùng với đó, việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung đã hình thành các vùng cây công nghiệp chủ lực quy mô lớn như cà phê đạt 20.843,78 ha và mắc ca đạt 19.474,71 ha, vừa tạo giá trị kinh tế vừa nâng cao khả năng phủ xanh đất trống đồi trọc. Trên phương diện năng lượng và giao thông, 23 nhà máy thủy điện với tổng công suất 326,8 MW đang vận hành song hành với việc bước đầu đưa 576 ô tô điện và 4.155 xe máy điện vào lưu thông.

Tuy nhiên, những kết quả tích cực ấy chưa đồng nghĩa với việc những điểm nghẽn căn bản trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh đã được giải quyết triệt để.

Điểm nghẽn lớn nhất không chỉ nằm ở môi trường

Khi phân tích thấu đáo thực trạng tại Điện Biên, có thể nhận diện những hạn chế trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường không đơn thuần xuất phát từ năng lực điều hành nội tại, mà phản ánh một xung đột mang tính cấu trúc giữa yêu cầu quản trị hiện đại và điều kiện đặc thù của một địa bàn miền núi khó khăn. Trong đó, điểm nghẽn hạ tầng, bài toán cân đối nguồn lực và tác động gia tăng của biến đổi khí hậu đang tạo nên áp lực đa chiều lên toàn bộ hệ thống phát triển của tỉnh.

4-linh-vuc-can-quan-tam-1791450849.jpg

Trước hết, “khoảng trống” về hạ tầng môi trường đang là rào cản lớn nhất trong việc nâng cao chất lượng quản trị sinh thái. Báo cáo tổng kết cho thấy, mặc dù tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt đô thị đạt 96,5%, nhưng ở khu vực nông thôn, tỷ lệ này chỉ dừng lại ở mức 45%–46%. Nhức nhối hơn cả là hạ tầng xử lý nước thải sinh hoạt đô thị mới chỉ thu gom và xử lý đạt 10,94% lượng phát sinh (độ bao phủ dịch vụ đạt 54,5%); các cụm công nghiệp trên địa bàn hoàn toàn chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung; đồng thời tỉnh vẫn chưa xây dựng được trạm quan trắc môi trường tự động, liên tục nào để kiểm kê dữ liệu thời gian thực. Cần nhấn mạnh rằng, với địa hình bị chia cắt phức tạp, diện tích rộng lớn và dân cư phân bố thưa thớt, chi phí đầu tư và vận hành cho một đơn vị dịch vụ môi trường tại Điện Biên cao hơn gấp nhiều lần so với các tỉnh vùng đồng bằng. Do đó, việc đánh giá hiệu quả đầu tư môi trường tại một tỉnh miền núi bằng cùng một bộ tiêu chí cào bằng như các khu vực đô thị hóa cao là thiếu tính hợp lý, vô hình trung đẩy địa phương vào thế bất lợi trong phân bổ nguồn lực.

Đi liền với hạ tầng yếu kém là bài toán nguồn lực tài chính luôn trong tình trạng thiếu hụt. Mặc dù Trung ương quy định mức chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường tối thiểu là 1% tổng chi, nhưng thực tế phân bổ tại Điện Biên trong giai đoạn qua mới chỉ đạt 0,78% (tương ứng 109,63 tỷ đồng), do nguồn thu nội địa của tỉnh quá hạn hẹp và phải ưu tiên cho nhiều nhiệm vụ an sinh xã hội cấp bách khác. Việc thu hút nguồn lực xã hội hóa cho các công trình môi trường gặp muôn vàn khó khăn vì biên lợi nhuận thấp và rủi ro địa lý cao. Mặt khác, dù Điện Biên đã chủ động tiếp cận các công cụ tài chính hiện đại thông qua mô hình thí điểm lúa NetZero Carbon ứng dụng hệ thống MRV trên quy mô 85,86 ha, nhưng thị trường tín chỉ carbon vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu, chưa thể tạo ra dòng tiền bổ sung ngay lập tức cho ngân sách. Câu hỏi lớn đặt ra là: Nếu nhiệm vụ bảo vệ môi trường và giảm phát thải ngày càng mở rộng theo các cam kết quốc tế, nhưng nguồn thu địa phương vẫn chưa thể tự cân đối, cơ chế tài chính nào sẽ bảo đảm tính bền vững để duy trì các mục tiêu chiến lược?

Đáng lo ngại hơn, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan đang trực tiếp làm thay đổi “đường cơ sở” phát triển của toàn tỉnh. Thiên tai không còn là những sự kiện bất thường diễn ra đơn lẻ, mà đã trở thành chuỗi rủi ro thường trực. Giai đoạn 2021–2025, các đợt mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất và hạn hán đã làm 45 người chết và mất tích, gây tổn thất tài sản ước tính lên tới 2.356 tỷ đồng (riêng năm 2025 thiệt hại đạt 1.372 tỷ đồng); bước sang 9 tháng đầu năm 2026, thiên tai tiếp tục làm 5 người chết và gây thiệt hại khoảng 83,7 tỷ đồng. Áp lực này buộc địa phương phải tiêu tốn nguồn lực khổng lồ để ứng phó: di dời khẩn cấp 251 hộ dân khỏi vùng nguy hiểm, đầu tư 14,69 km kè bảo vệ lưu vực sông Nậm Rốm và kiên cố hóa 163 km kênh mương thủy lợi. Rõ ràng, biến đổi khí hậu đã trở thành một biến số phát triển cốt lõi, bắt buộc mọi quy hoạch từ giao thông, phân bố dân cư, nông nghiệp cho đến đầu tư công đều phải tính toán lại bài toán rủi ro khí hậu ngay từ khâu thiết kế ban đầu.

Từ thực tiễn đến những kiến nghị cho nghị quyết mới

Từ thực tiễn hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 81-KL/TW, Tỉnh ủy Điện Biên đã rút ra những bài học kinh nghiệm đắt giá, đồng thời đề xuất với Trung ương nhiều định hướng quan trọng cho việc ban hành một Nghị quyết mới về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu trong giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2050. Những kiến nghị này không dừng lại ở việc xin hỗ trợ ngân sách đơn thuần, mà tập trung gỡ bỏ các rào cản thể chế, mở ra không gian chính sách phù hợp với đặc thù của một địa bàn miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn. Các đề xuất của tỉnh có thể được hệ thống hóa thành bốn nhóm chính sách đột phá nhằm tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

Thứ nhất, tập trung vào việc hoàn thiện thể chế quản lý theo đặc thù vùng: Báo cáo của tỉnh phản ánh rõ thực trạng Điện Biên là địa phương có địa hình bị chia cắt phức tạp, tỷ lệ diện tích rừng lớn với độ che phủ đạt 45,5% (và duy trì 45,85% năm 2026), nguồn lực ngân sách địa phương hạn hẹp và là nơi hứng chịu nhiều tác động nghiêm trọng của thiên tai. Việc áp dụng đồng nhất một bộ quy chuẩn hay cơ chế quản lý môi trường và đất đai cho mọi vùng miền đã vô hình trung tạo ra sự gượng ép đối với các tỉnh miền núi. Do đó, Điện Biên kiến nghị Trung ương khi ban hành thể chế mới cần quy định rõ cơ chế phân vùng sinh thái và chính sách đặc thù cho khu vực biên giới, Tây Bắc. Việc phân cấp, phân quyền cần đi đôi với phân bổ nguồn lực, cho phép địa phương linh hoạt trong quy hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ kém hiệu quả sang phát triển cây công nghiệp chủ lực như cà phê, mắc ca hay các mô hình sinh thái gắn với bảo vệ môi trường.

Thứ hai, hướng tới tạo đột phá về tài chính môi trường và khí hậu: Thực tế cho thấy nguồn chi sự nghiệp môi trường của Điện Biên mới chỉ đạt 0,78% tổng chi ngân sách, chưa đáp ứng mục tiêu 1% của Trung ương do nguồn thu nội địa hạn chế. Để giải bài toán này, tỉnh đề nghị Trung ương ưu tiên nguồn vốn đầu tư công, các nguồn vốn ODA và hỗ trợ có mục tiêu cho hạ tầng xử lý chất thải sinh hoạt, nước thải đô thị và các khu, cụm công nghiệp. Đặc biệt, luận điểm cốt lõi mà Điện Biên hướng tới là việc hỗ trợ tài chính không nên chỉ dừng lại ở tăng mức cấp phát ngân sách thụ động, mà cần xây dựng cơ chế để địa phương tự hình thành nguồn thu bền vững từ chính tài sản sinh thái của mình. Điều này cần được cụ thể hóa thông qua việc mở rộng khung giá và đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng (vốn đã mang lại 266,46 tỷ đồng giai đoạn qua), hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon, tạo điều kiện cho các mô hình lúa NetZero Carbon hay rừng trồng dễ dàng thương mại hóa hạn ngạch phát thải để thu hút nguồn vốn xanh từ các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp.

Thứ ba, đặt trọng tâm vào sự chuyển đổi tư duy từ ứng phó thiên tai thụ động sang quản trị rủi ro khí hậu chủ động: Những con số tổn thất nặng nề với 45 người chết và thiệt hại 2.356 tỷ đồng do thiên tai giai đoạn 2021–2025 cho thấy việc xử lý hậu quả luôn tốn kém và kém hiệu quả hơn phòng ngừa. Điện Biên kiến nghị Trung ương hỗ trợ đầu tư đồng bộ hệ thống dữ liệu khí tượng thủy văn, xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt lở đất, lũ quét đến tận cấp xã và nâng cao năng lực dự báo sớm. Đồng thời, Trung ương cần ưu tiên nguồn lực cho các công trình hạ tầng đa mục tiêu như Dự án Quản lý đa thiên tai lưu vực sông Nậm Rốm hay chương trình bố trí, di dời khẩn cấp các hộ dân ra khỏi vùng nguy cơ thiên tai cao theo Nghị quyết 24-NQ/TU của Tỉnh ủy, qua đó đưa quản trị rủi ro khí hậu trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, hướng tới việc biến lợi thế sinh thái thành lợi thế phát triển kinh tế trực tiếp: Đối với một tỉnh biên giới như Điện Biên, bảo vệ môi trường và giữ rừng không thể nhìn nhận đơn thuần như một “khoản chi phí tuân thủ” hay rào cản đối với tăng trưởng. Nếu thiết kế chính sách đúng đắn, tài nguyên rừng và hệ sinh thái đa dạng sẽ trở thành động lực phát triển mới. Tỉnh kiến nghị Trung ương có cơ chế khuyến khích phát triển kinh tế dưới tán rừng, nông nghiệp sinh thái, du lịch trải nghiệm gắn với bảo tồn văn hóa bản địa, và kinh tế tuần hoàn phụ phẩm nông nghiệp. Việc kết hợp hài hòa giữa duy trì độ che phủ rừng phấn đấu đạt trên 48% vào năm 2035 với việc thương mại hóa dịch vụ hệ sinh thái sẽ giúp Điện Biên vừa hoàn thành nghĩa vụ giữ vững “lá chắn xanh” cho vùng Tây Bắc, vừa đảm bảo sinh kế, nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây chính là chìa khóa cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, nhanh và bền vững, đóng góp tích cực vào cam kết Net Zero của quốc gia đến năm 2050.

Bức tranh phát triển của Điện Biên sau hơn một thập kỷ triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW là những chuyển biến sâu sắc, biến nhận thức về bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu thành hành động thiết thực trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận rằng bối cảnh hiện nay đã có nhiều thay đổi căn bản. Những tác động của biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, yêu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh và phát thải ròng bằng “0” ngày càng trở nên cấp bách, trong khi nguồn lực tài chính và hạ tầng của các tỉnh miền núi vẫn còn nhiều hạn chế. Hơn lúc nào hết, việc ban hành một Nghị quyết mới của Trung ương không chỉ là sự tiếp nối chính sách, mà còn là bước đột phá cần thiết nhằm giải quyết đồng bộ bài toán về thể chế đặc thù, cơ chế tài chính xanh, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực thích ứng cho địa phương. Đây chính là cơ sở quan trọng để Điện Biên vừa giữ vững “lá chắn xanh” nơi biên cương, vừa phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Minh Tuyết

Đặt mua Tạp chí Môi trường