Banner trang chủ
Chủ Nhật, ngày 14/08/2022

Tỉnh Phú Yên phấn đấu đến năm 2025 hoàn thành các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường

09/06/2022

    Trong những năm qua, lãnh đạo Tỉnh ủy, chính quyền và đoàn thể tỉnh Phú Yên đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường (BVMT) và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tạo diện mạo mới cho cảnh quan môi trường đô thị và nông thôn, tài nguyên đa dạng sinh học được bảo vệ, chăm sóc và phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức lớn trong nhiệm vụ BVMT cần tiếp tục giải quyết trong thời gian đến. Để khắc phục những tồn tại, chủ động phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên giai đoạn đến năm 2025, Tỉnh ủy Phú Yên đã ban hành Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 18/8/2021 về tăng cường công tác BVMT, phấn đấu xây dựng tỉnh Phú Yên trở thành điểm đến xanh, sạch, đẹp, thân thiện với môi trường, với mục tiêu cụ thể và 7 nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai. Để phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và Hội đoàn thể, đồng thời phân công rõ trách nhiệm của các Sở, ban ngành, UBND cấp huyện trong việc tổ chức triển khai cho từng nhiệm vụ, hoạt động nhằm hoàn thành tốt mục tiêu được giao tại Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 4/4/2022.

Chương trình phối hợp giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và Sở TN&MT năm 2021 về tuyên truyền pháp luật BVMT

Các mục tiêu phấn đấu đến năm 2025

    Tỉnh ủy Phú Yên giao nhiệm vụ cho UBND tỉnh phấn đấu đến năm 2025 thực hiện hoàn thành, vượt các chỉ tiêu về BVMT theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra, cụ thể:

    Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 95%; Tỷ lệ dân số nông thôn được tiếp cận nước sạch theo Quy chuẩn quốc gia trên 60%.

    100% khu công nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cụm công nghiệp có đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống xử lý nước thải tập trung và hệ thống quan trắc nước thải tự động có đường truyền dữ liệu về cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường để kiểm tra, giám sát theo quy định.

    100% chất thải rắn (CTR) y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. CTR được thu gom, xử lý đúng quy định, cụ thể: 98% CTR đô thị được thu gom, xử lý đúng quy định, trong đó ít nhất 40% được xử lý bằng công nghệ hiện đại;  Ít nhất 40% CTR nông thôn được thu gom, xử lý đúng quy định.

     Trồng 12 triệu cây xanh phân tán, 3 triệu cây rừng; nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 48%. Phục hồi, trồng mới rừng ngập mặn tại các khu vực ven đầm, vịnh (đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài), trong đó ở đầm Ô Loan khoảng 50 ha.

    100% hộ gia đình hiểu biết, có kiến thức BVMT sống và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Bảy nhiệm vụ và các nhóm giải pháp tập trung triển khai trong thời gian tới

    Để đạt các mục tiêu trên, Chương trình hành động số 08-CTr của Tỉnh ủy đã chỉ rõ 7 nhiệm vụ và các nhóm giải pháp cần tập trung triển khai cơ bản như sau:

    Nhiệm vụ thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng và nhân dân trong công tác BVMT. Năm nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ đó là: (1) Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về công tác BVMT; (2) Thường xuyên quán triệt, tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên, sinh viên, học sinh và nhân dân về công tác BVMT, ứng phó với BĐKH, đưa nội dung BVMT trong giáo dục nhà trường, sinh hoạt cơ quan, hương ước/quy ước khu dân cư; (3) Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Sở, ban ngành và chính quyền địa phương với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVMT, duy trì và phát triển các phong trào BVMT, “Ngày thứ Bảy xanh, sạch, đẹp”, “Ngày Chủ nhật nông thôn mới, đô thị văn minh”…; (4) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; (5) Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các mô hình hay, việc tốt, đồng thời phê phán những hành vi gây hại đến môi trường

    Nhiệm vụ thứ hai, xây dựng và thực hiện Đề án “Phú Yên xanh”, tập trung giải quyết triệt để rác thải sinh hoạt, giảm thiểu rác thải nhựa và tăng không gian xanh. Bốn nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ: (1) Tăng cường truyền thông về hình ảnh Phú Yên xanh, phát huy vai trò của người dân và du khách trong BVMT du lịch; (2) Đến 2023, hình thành mô hình điểm về phân loại rác thải tại các địa phương, đến năm 2025, đảm bảo 20% chất thải sinh hoạt tại các đô thị được phân loại tại nguồn; (3) Thực hiện hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia của Thủ tướng Chính phủ về quản lý CTR, rác thải nhựa, rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, phấn đấu đưa TP. Tuy Hòa trở thành một trong mười đô thị có tỷ lệ giảm nhựa cao của cả nước; (4) Tăng cường BVMT đầm, vịnh, quản lý chặt chẽ hoạt động nuôi trồng thủy sản, triển khai  thu gom chất thải từ nuôi trồng thủy sản; triển khai thực hiện Đề án trồng 15 triệu cây xanh tỉnh Phú Yên giai đoạn 2021-2025

    Nhiệm vụ thứ ba, tập trung đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng BVMT. Bốn nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ: (1) Công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng các khu đô thị, khu dân cư mới phải tính đến việc thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt, hoàn thành hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại TP. Tuy Hòa, khu vực trung tâm TX. Sông Cầu, TX. Đông Hòa và huyện Tuy An trước năm 2025; (2) Quan tâm đầu tư các dự án cung cấp nước sạch tập trung tại các đô thị, khu dân cư tập trung, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; Đẩy nhanh tiến độ đầu tư và đưa vào hoạt động nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt cho TP. Tuy Hòa và khu vực lân cận vào đầu năm 2023, cơ sở hỏa táng trên địa bàn thành phố trước năm 2025, xử lý dứt điểm ô nhiễm tại Bãi rác Thọ Vức và khu xử lý tạm thời chất thải hầm cầu của TP. Tuy Hòa đến cuối năm 2023, đầu tư hệ thống nhà vệ sinh công cộng tại các điểm du lịch, trung tâm đô thị lớn và lò đốt chất thải y tế nguy hại tập trung; (4) Đảm bảo hạ tầng kỹ thuật phục vụ phân loại rác thải tại nguồn theo lộ trình xác định tại Luật BVMT năm 2020.

    Nhiệm vụ thứ tư, chú trọng công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường. Chín nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ gồm: (1) Nâng cao chất lượng, thực hiện chặc chẽ quy trình công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường đối với tất cả dự án theo quy định; (2) Việc thu hút dự án đầu tư cần thực hiện tốt khâu khảo sát, lựa chọn địa điểm và công nghệ thực hiện dự án, kiên quyết không thu hút đầu tư đối với các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; (3) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin công tác quan trắc chất lượng môi trường nhằm chủ động phòng ngừa ô nhiễm môi trường, kịp thời cảnh báo sớm để có các giải pháp giải quyết kịp thời, đầu tư cơ bản mạng lưới trạm quan trắc môi trường tự động ở các lưu vực sông lớn, đầm vịnh, khu vực có nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường đến năm 2025; (4) Nâng cao hiệu lực công tác quản lý, kiểm soát tác động môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, chấp hành các quy định pháp luật ở các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất - kinh doanh - dịch...; (5) Thực hiện nghiêm quy định phân vùng nguồn tiếp nhận nước thải thuộc lưu vực sông Ba và sông Kỳ Lộ; (6) Triển khai đầu tư, xây dựng các khu xử lý chất thải rắn xây dựng, khu xử lý bùn từ bể tự hoại theo quy hoạch được duyệt; (7) Đổi mới cách thức sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng với BĐKH, tiết kiệm nước, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, mở rộng mạng lưới hu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng; (8) Quản lý chặt chẽ việc nuôi chim yến theo quy hoạch; giải quyết tốt các vấn đề về môi trường trong việc nuôi chim yến, nhất là tiếng ồn khu dân cư; (9) Thực hiện công khai danh sách các cơ sở chấp hành tốt, các cơ sở vi phạm pháp luật về BVMT trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Nhiệm vụ thứ năm, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học; phòng chống thiên tai, ứng phó BĐKH. Sáu nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ: (1) Thực hiện Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh Phú Yên, tăng cường hỗ trợ phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm sau quá trình tái chế; (2) Nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hiện đại hóa lĩnh vực quản lý đất đai; (3) Hoàn thành “Lập Phương án Bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái san hô Hòn Yến tỉnh Phú Yên” trong năm 2022, thực hiện điều tra, đánh giá mức độ đa dạng sinh học khu vực Đèo Cả, các khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao (khu đất ngập nước hồ thủy điện Sông Hinh, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông,...), thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh mới cho các loài rùa cạn và rùa nước ngọt quý hiếm tại khu vực suối Lạnh (huyện Tây Hòa), khu Biển Hồ (thị xã Đông Hòa), tăng cường bảo tồn hệ sinh thái và các loài động, thực vật quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai; (4) Xây dựng và triển khai Đề án trồng rừng ngập mặn tại các khu vực ven đầm, vịnh, ưu tiên triển khai thực hiện dự án Trồng rừng ngập mặn khu vực đầm Ô Loan, huyện Tuy An theo Nghị quyết số 235/NQ-HĐND ngày 27/3/2020 của HĐND tỉnh; (5) Nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng và khả năng kiểm soát cháy rừng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng; (6) Đầu tư đầu phát triển mạng lưới trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng, kiểm soát và xử lý các vấn đề có nguy cơ gây mất an toàn đê đập, hồ chứa nước, bảo vệ không gian thoát lũ trên các lưu vực sông góp phần thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai.

    Nhiệm vụ thứ sáu, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT ở các cấp đảm bảo đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Sáu nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ đó là: (1) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), việc xây dựng quy hoạch phát triển KT-XH phải gắn liền với đánh giá môi trường chiến lược, lồng ghép các vấn đề BVMT, thích ứng với BĐKH, bảo tồn đa dạng sinh học; (2) Rà soát, có kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường, các nghĩa trang… ra khỏi các trung tâm đô thị, khu dân cư tập trung, tạo mỹ quan đô thị, khu dân cư và tăng hiệu quả sử dụng đất; (3) Tăng cường phối hợp chặc chẽ, đồng bộ, tránh chồng chéo giữa UBND các huyện, thị xã/TP và các Sở, ngành liên quan trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra lĩnh vực môi trường; (4) Rà soát, củng cố, kiện toàn đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, đội ngũ công chức, viên chức thực thi công vụ trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh; (5) Rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền đã ban hành với văn bản mới của Trung ương để điều chỉnh, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với quy định hiện hành, nhất là các quy định về xã hội hóa hoạt động BVMT, xử lý các hành vi vi phạm về BVMT; (6) Tăng cường công tác phối hợp với các địa phương, đơn vị trong cả nước, nhất là các tỉnh giáp ranh (Khánh Hòa, Bình Định, Gia Lai, Đắk Lắk) trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Nhiệm vụ thứ bảy, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, huy động các nguồn lực trong quản lý chất thải. Năm nhóm giải pháp để thực hiện nhiệm vụ đó là: (1) Tăng chi ngân sách nhà nước cho công tác BVMT phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH địa phương, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; (2) Đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT, nhất là hoạt động đầu tư xử lý CTR (sinh hoạt, y tế, công nghiệp nguy hại…), nước thải sinh hoạt, bảo tồn đa dạng sinh học…; (3) Rà soát, đánh giá thực hiện các khoản thu dịch vụ đối với nước thải, CTR, đề xuất điều chỉnh phù hợp với quy định pháp luật và tình hình thực tế của tỉnh, trong đó có lộ trình giảm dần nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; (4) Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong xử lý chất thải, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý dữ liệu thông tin môi trường, nguồn thải; (5) Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác BVMT, triển khai thực hiện hiệu quả các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học về môi trường do các tổ chức quốc tế tài trợ.

    Với tinh thần BVMT và tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ cần tập trung, ưu tiên trong chỉ đạo, điều hành phát triển KT-XH đến năm 2025, và bám sát 7 nhiệm vụ và các nhóm giải pháp trên, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 4/4/2022 nhằm cụ thể hóa các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp để triển khai có hiệu quả nội dung Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 18/8/2021 của Tỉnh ủy. Theo đó, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cũng như lộ trình thực hiện cho từng Sở, ban ngành và UBND cấp huyện, đồng thời thực hiện các giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và Hội đoàn thể để phấn hoàn thành, vượt các chỉ tiêu về BVMT theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2020-2025.

ThS. Đào Thị Kim Chi, ThS. Huỳnh Huy Việt

Chi cục Bảo vệ môi trường Phú Yên

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 5/2022)

Ý kiến của bạn