TÓM TẮT: Công nghệ viễn thám và GIS là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý cơ sở dữ liệu, lưu trữ, mô hình hóa, đặc biệt là khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian để lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Công nghệ này là một công cụ hữu ích nhằm theo dõi những biến động, thay đổi trạng thái của rừng theo thời gian. Nghiên cứu nhằm ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để đánh giá biến động tài nguyên rừng ở lưu vực sông Son giai đoạn 2020-2024. Kết quả cho thấy, biến động diện tích có rừng trong giai đoạn 2020 - 2024 của các xã ở thượng lưu đến hạ lưu (đến xã Liên Trạch) có xu hướng giảm. Trong đó, giảm lớn nhất là xã Thượng Trạch (giảm 561,66 ha) còn các xã còn lại diện tích giảm không lớn. Tài nguyên rừng chịu tác động của các yếu tố cả chủ quan và khách quan, nhưng các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội là nguyên nhân chính. Do đó, cần có giải pháp quản lý thích hợp nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng.
Từ khóa: Công nghệ viễn thám và GIS, Lưu vực sông Son, biến động rừng.
Application of Remote Sensing and GIS Technologies for Assessing Changes in Forest Resources in the Son River Basin, Quang Tri Province.
ABSTRACT: Remote sensing and Geographic Information System (GIS) technologies provide effective support for database management, data storage, and modeling, particularly through their capability to analyze and integrate attribute data with spatial data for the identification and selection of sustainable and efficient natural resource management and utilization solutions. Remote sensing and Geographic Information System (GIS) technologies provide effective tools for monitoring temporal changes in forest resources. This study applies remote sensing and GIS to assess forest resource dynamics in the Son River Basin, Quang Tri Province, during the period 2020–2024. Spatial analysis results indicate a declining trend in forested area from upstream to downstream communes (up to Lien Trach Commune). The most significant reduction occurred in Thuong Trach Commune, with a decrease of 561.66 ha, while other communes experienced relatively minor losses. Forest resource changes are driven by both subjective and objective factors; however, socio-economic development activities represent the primary cause. The findings highlight the need for appropriate management strategies to ensure the sustainable protection and use of natural resources, particularly forest resources in the study area.
Keywords: Remote Sensing and GIS Technologies, the Son River Basin, forest change.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng ở nước ta đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ và các cơ quan ban ngành. Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đi kèm nguy cơ suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt ở các lưu vực sông (LVS) [1]. Vấn đề đặt ra cần xây dựng quy hoạch quản lý, sử dụng tài nguyên ở các LVS phù hợp với chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH), các yêu cầu bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Ngày 9/10/2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố Quyết định phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây được xem là văn bản rất quan trọng, mục tiêu tổng quát của quy hoạch này hướng đến sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; phát huy tối đa các tiềm năng, vai trò và giá trị của rừng để phát triển bền vững, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quảng Trị là một tỉnh nằm ở dải đất miền Trung Việt Nam, nơi chuyển tiếp giữa hai miền địa lý Bắc - Nam. Tỉnh có mạng lưới sông ngòi khá phong phú, với nhiều lưu vực sông lớn. Trong các phụ lưu của các con sông lớn phải kể đến sông Son, đây là phụ lưu lớn nhất ở phía hữu của sông Gianh (là một trong 5 LVS lớn của tỉnh Quảng Bình cũ), bắt nguồn từ vùng núi Phong Nha - Kẻ Bàng, đón nước từ các sông suối có nước chảy tràn lên mặt và các sông ngầm trong vùng chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và đổ vào sông Gianh ở Vạn Phú thuộc địa phận xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn [3,4]. Theo kết quả “Báo cáo điều tra, khảo sát, nghiên cứu giải pháp thoát lũ, giảm ngập khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng” của Lê Văn Nghị và nhóm nghiên cứu chiều dài dòng chính của sông Son khoảng 84 km, hệ số uốn khúc 1,79, trong đó diện tích LVS khoảng 1.556 km2 nằm trên địa phận của 12 xã, thị trấn của huyện Bố Trạch và thị xã Ba Đồn của tỉnh Quảng Bình cũ (xã Thượng Trạch, xã Tân Trạch, Thị trấn Phong Nha, xã Phúc Trạch, xã Xuân Trạch, xã Lâm Trạch, xã Hưng Trạch, xã Cự Nẫm, xã Liên Trạch, xã Mỹ Trạch, xã Quảng Minh và xã Quảng Văn) [3].
LVS Son không chỉ là nơi cung cấp nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp trên địa bàn tỉnh mà còn là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng. Các xã vùng đệm nằm trên LVS Son có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh quốc gia, phòng hộ cho vùng đầu nguồn, văn hóa bản địa và công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - Di sản Thiên nhiên thế giới. Những năm qua, hoạt động phát triển KT - XH đã và đang tạo ra nhiều áp lực lớn lên môi trường, các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng ở LVS Son [5,6].
Do đó, việc nghiên cứu biến động tài nguyên rừng để làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, bảo vệ cảnh quan và môi trường bền vững khu vực LVS Son là rất cấp thiết và mang lại ý nghĩa khoa học, thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy phát triển KT - XH và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá bản địa.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện ở LV sông Son, đoạn chảy qua các xã và thị trấn của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ (Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Hưng Trạch, Cự Nẫm, Liên Trạch, Mỹ Trạch, Thượng Trạch, Tân Trạch, Lâm Trạch và thị trấn Phong Nha), và các xã của thị xã Ba Đồn (Quảng Minh và Quảng Văn).

2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
Tiến hành tập hợp và hệ thống hóa tài liệu bao gồm: niên giám thống kê huyện Bố Trạch, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình cũ; báo cáo kiểm kê rừng của huyện Bố Trạch và thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình cũ. Do các tài liệu được thu thập nhiều nguồn khác nhau nên đã được chuẩn hóa để đảm bảo tính đồng bộ về thời gian, số liệu (đối với các dạng tài liệu văn bản, số liệu thống kê) và nội dung, tỉ lệ bản đồ.
2.2.2. Phương pháp xây dựng bản đồ biến động rừng dựa vào công nghệ GIS và viễn thám
Trong nghiên cứu về quản lý tài nguyên thiên nhiên trong đó có tài nguyên rừng, công nghệ viễn thám và GIS là công cụ hỗ trợ đắc lực. Công nghệ GIS và viễn thám được sử dụng để quản lý cơ sở dữ liệu, lưu trữ, mô hình hóa, đặc biệt công nghệ này có khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian để lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu này sử dụng công nghệ GIS và viễn thám để theo dõi những biến động tài nguyên rừng ở LVS Son trong giai đoạn 2020-2024.
Phương pháp bản đồ: được thực hiện trong quá trình đồng bộ, biên chỉnh, xây dựng các bản đồ chuyên đề, bản đồ sản phẩm nhằm đưa ra cái nhìn trực quan và sinh động và rõ nét các vấn đề tài nguyên rừng trên lưu vực sông.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Hiện trạng tài nguyên rừng LVS Son năm 2024
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, tài nguyên rừng ở LVS Son có các dạng sau: rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đá vôi; rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đất; rừng thường xanh bị tác động trên núi đá vôi; cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đất; rừng tre nứa.
3.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng phân theo nguồn gốc
Theo kết quả điều tra, tổng hợp các tài liệu thứ cấp, diện tích rừng của các xã, thị trấn trên LVS Son theo nguồn gốc trình bày ở Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Hiện trạng tài nguyên rừng năm 2024 theo nguồn gốc
|
TT |
Phân loại rừng |
Đặc dụng |
Phòng hộ |
||||
|
Cộng |
Vườn quốc gia |
Cộng |
Đầu nguồn |
Chắn gió, cát |
Chắn sóng |
||
|
1 |
Rừng tự nhiên |
85.560,51 |
85.560,51 |
18.238,03 |
18.238,03 |
0,00 |
0,00 |
|
1,1 |
Rừng nguyên sinh |
48.049,31 |
48.049,31 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
1,2 |
Rừng thứ sinh |
37.511,20 |
37.511,20 |
18.238,03 |
18.238,03 |
0,00 |
0,00 |
|
2 |
Rừng trồng |
57,45 |
57,45 |
89,87 |
31,83 |
58,04 |
0,00 |
|
2,1 |
Rừng trồng mới trên đất chưa từng có rừng |
39,12 |
39,12 |
77,66 |
20,23 |
57,43 |
0,00 |
|
2,2 |
Trồng lại trên đất đã từng có rừng |
18,33 |
18,33 |
12,21 |
11,60 |
0,61 |
0,00 |
|
2,3 |
Tái sinh chồi từ rừng trồng |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,4 |
Trong đó: Rừng trồng cao su, đặc sản |
16,00 |
16,00 |
0,61 |
0,00 |
0,61 |
0,00 |
|
- |
Rừng trồng cao su |
13,50 |
13,50 |
0,61 |
0,00 |
0,61 |
0,00 |
|
- |
Rừng trồng cây đặc sản |
2,50 |
2,50 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
Tổng |
85.617,96 |
85.617,96 |
18.327,90 |
18.269,86 |
58,04 |
0,00 |
|
Qua Bảng 3.1 ta thấy rằng, nếu theo phân loại cây thì rừng gỗ lá rộng thường xanh hoặc nửa rụng lá là loài chiếm ưu thế. Ngoài ra, còn có một phần diện tích rừng hỗn giao gỗ và tre nứa, nhưng không đáng kể.
3.1.2. Hiện trạng tài nguyên rừng phân theo điều kiện lập địa
Theo kết quả điều tra, tổng hợp các tài liệu thứ cấp, diện tích rừng của các xã, thị trấn trên LVS Son theo điều kiện lập địa trình bày ở Bảng 3.2.
Bảng 3.2. Hiện trạng tài nguyên rừng năm 2024 theo điều kiện lập địa
|
TT |
Phân loại rừng |
Đặc dụng |
Phòng hộ |
||||
|
Cộng |
Vườn quốc gia |
Cộng |
Đầu nguồn |
Chắn gió, cát |
Chắn sóng |
||
|
1 |
Rừng trên núi đất |
11.032,88 |
11.032,88 |
16.025,76 |
16.025,15 |
0,61 |
0,00 |
|
2 |
Rừng trên núi đá |
74.585,08 |
74.585,08 |
2.244,71 |
2.244,71 |
0,00 |
0,00 |
|
3 |
Rừng trên đất ngập nước |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
3,1 |
Rừng ngập mặn |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
3,2 |
Rừng trên đất phèn |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
3,3 |
Rừng ngập nước ngọt |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
3,4 |
Rừng trên cát |
0,00 |
0,00 |
57,43 |
0,00 |
57,43 |
0,00 |
|
Tổng |
85.617,96 |
85.617,96 |
18.327,90 |
18.269,86 |
58,04 |
0,00 |
|
Qua Bảng 3.2 ta thấy rằng, nếu phân theo điều kiện lập địa: đặc trưng thảm thực vật rừng ở LVS Son chủ yếu thuộc rừng trên núi đất và rừng trên núi đá. Trong lưu vực, không có kiểu rừng trên đất ngập nước, rừng ngập mặn, rừng trên đất phèn, rừng ngập nước ngọt.
3.1.3. Hiện trạng tài nguyên rừng phân theo loài cây
Theo kết quả điều tra, tổng hợp các tài liệu thứ cấp, diện tích rừng của các xã, thị trấn trên LVS Son theo loài cây trình bày ở Bảng 3.3.
Bảng 3.3. Hiện trạng tài nguyên rừng năm 2024 theo loài cây
|
TTT |
Phân loại rừng |
Đặc dụng |
Phòng hộ |
||||
|
Cộng |
Vườn quốc gia |
Cộng |
Đầu nguồn |
Chắn gió, cát |
Chắn sóng |
||
|
1 |
Rừng gỗ |
85.444,13 |
85.444,13 |
18.234,02 |
18.234,02 |
0,00 |
0,00 |
|
1,1 |
Rừng gỗ lá rộng TX hoặc nửa rụng lá |
85.444,13 |
85.444,13 |
18.234,02 |
18.234,02 |
0,00 |
0,00 |
|
1,2 |
Rừng gỗ lá rộng rụng lá |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
1,3 |
Rừng gỗ lá kim |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
1,4 |
Rừng gỗ hỗn giao lá rộng và lá kim |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2 |
Rừng tre nứa |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,1 |
Nứa |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,2 |
Vầu |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,3 |
Tre/luồng |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,4 |
Lồ ô |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
2,5 |
Các loài khác |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
|
3 |
Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa |
116,38 |
116,38 |
4,01 |
4,01 |
0,00 |
0,00 |
|
3,1 |
Gỗ là chính |
116,38 |
116,38 |
4,01 |
4,01 |
0,00 |
0,00 |
|
Tổng |
85.560,51 |
85.560,51 |
18.238,03 |
18.238,03 |
0,00 |
0,00 |
|
Qua Bảng 3.3 ta thấy rằng, nếu theo phân loại cây thì Rừng gỗ lá rộng thường xanh hoặc nửa rụng lá là loài chiếm ưu thế. Ngoài ra còn có một phần diện tích rừng hỗn giao gỗ và tre nứa, nhưng không đáng kể.

Theo Báo cáo Đánh giá sơ bộ tác động lên hệ thuỷ văn phụ lục sông Son của Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thì thảm thực vật đặc trưng của khu vực phụ lưu sông Son là rừng trên núi đá vôi, rừng cây thường xanh trên núi đất chiếm tỉ lệ nhỏ ở các thung lũng nằm giữa vùng núi đá vôi thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Gần 25 % diện tích đất còn lại thuộc khu vực rừng phòng hộ, rừng sản xuất nằm ngoài Vườn Quốc gia.
3.2. Diễn biến tài nguyên rừng LVS Son
3.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng phân theo nguồn gốc
Theo báo cáo thống kê năm 2020 và năm 2024, biến động tổng diện tích có rừng tại các xã, thị trấn từ thượng lưu xuống hạ lưu của LVS Son cụ thể được thể hiện ở Bảng 3.4.
Bảng 3.4. Biến động diện tích rừng của các xã, thị trấn thuộc LVS Son từ 2020-2024
|
TT |
Đơn vị |
Tổng diện tích có rừng |
||
|
Năm 2020 |
2024 |
Biến động +/- |
||
|
1 |
Xã Lâm Trạch |
1.897,89 |
1.822,18 |
-75,71 |
|
2 |
Xã Xuân Trạch |
14.384,55 |
14.303,14 |
-81,41 |
|
3 |
Xã Phúc Trạch |
3.293,87 |
3.165,99 |
-127,88 |
|
4 |
Xã Tân Trạch |
34.625,13 |
34.485,11 |
-140,02 |
|
5 |
Xã Thượng Trạch |
65.625,21 |
63.563,55 |
-2.061,66 |
|
6 |
Thị Trấn Phong Nha |
6.616,41 |
6.449,03 |
-167,38 |
|
7 |
Xã Hưng Trạch |
6.726,15 |
6.692,50 |
-33,65 |
|
8 |
Xã Cự Nẫm |
1.261,01 |
1.206,73 |
-54,28 |
|
9 |
Xã Liên Trạch |
1.757,79 |
1.714,42 |
-43,37 |
|
10 |
Xã Mỹ Trạch |
116,15 |
117,31 |
1,16 |
|
11 |
Xã Quảng Minh |
739,46 |
839,36 |
99,90 |
|
12 |
Xã Quảng Văn |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
Qua Bảng 3.4 ta thấy rằng, biến động diện tích có rừng trong giai đoạn 2020 - 2024 của các xã ở thượng lưu đến hạ lưu (đến xã Liên Trạch) có xu hướng giảm. Trong đó, giảm lớn nhất là xã Thượng Trạch (giảm 2.061,66 ha) còn các xã còn lại diện tích giảm không lớn. Điều này là do ở xã Thượng Trạch có diện tích tự nhiên cũng như diện tích đất lâm nghiệp lớn (chiếm hơn 99% tổng diện tích tự nhiên) và dân cư ở xã Thượng Trạch chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nên có đời sống kinh tế khó khăn, nhận thức hạn chế nên có hiện tượng khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy và thực hiện các hành vi xâm hại rừng trái phép.
Theo số liệu từ trang Global Forest Watch, năm 2000 khu vực có độ che phủ là 93%. Tính đến năm 2010, độ che phủ giảm xuống còn 92%. Từ năm 2001 đến 2019, khu vực lưu vực phụ lưu sông Son đã mất 9.03ha cây che phủ, tương đương với giảm 6,1% diện tích khu vực.
Ở hai xã hạ lưu LVS Son là xã Mỹ Trạch, huyện Bố Trạch và xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, diện tích có rừng có xu hướng tăng. Điều này là do, ở 2 xã hạ lưu diện tích rừng ít nên chính quyền và người dân địa phương chú trọng công tác trồng và bảo vệ rừng, nhằm đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng. Ngoài ra, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn không có rừng.
Theo báo cáo thống kê năm 2020 và năm 2024, biến động diện tích có rừng phân loại theo nguồn gốc tại các xã, thị trấn từ thượng lưu xuống hạ lưu của LVS Son cụ thể được thể hiện ở Bảng 3.5.
Bảng 3.5. Biến động diện tích rừng phân loại theo nguồn gốc của các xã, thị trấn
thuộc LVS Son giai đoạn 2020-2024
|
Đơn vị |
Diện tích rừng tự nhiên (ha) |
Diện tích rừng trồng (ha) |
||||
|
Năm 2020 |
2024 |
Biến động +/- |
Năm 2020 |
2024 |
Biến động +/- |
|
|
Xã Lâm Trạch |
42,13 |
12,81 |
-29,32 |
1.855,76 |
1.809,37 |
-46,39 |
|
Xã Xuân Trạch |
12.891,08 |
12.723,23 |
-167,85 |
1.493,47 |
1.579,91 |
+86,44 |
|
Xã Phúc Trạch |
1.149,81 |
1.106,09 |
-43,72 |
2.144,06 |
2.059,90 |
-84,16 |
|
Xã Tân Trạch |
34.618,45 |
34.478,43 |
-140,02 |
6,68 |
6,68 |
0,00 |
|
Xã Thượng Trạch |
65.583,40 |
63.452,29 |
-2.131,11 |
41,81 |
111,26 |
+69,45 |
|
TT Phong Nha |
5.923,78 |
5.709,37 |
-214,41 |
692,63 |
739,66 |
+47,03 |
|
Xã Hưng Trạch |
4.665,56 |
4.511,37 |
-154,19 |
2.060,59 |
2.181,13 |
+120,54 |
|
Xã Cự Nẫm |
10,28 |
5,42 |
-4,86 |
1.250,73 |
1.201,31 |
-49,42 |
|
Xã Liên Trạch |
17,46 |
14,54 |
-2,92 |
1.740,33 |
1.699,88 |
-40,45 |
|
Xã Mỹ Trạch |
6,40 |
6,41 |
0,01 |
109,75 |
110,90 |
+1,15 |
|
Xã Quảng Minh |
24,51 |
22,28 |
-2,23 |
714,95 |
817,08 |
+102,13 |
|
Xã Quảng Văn |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
0,00 |
Qua Bảng 3.5 ta thấy, xu thế giảm diện tích có rừng của các xã, thị trấn từ thượng lưu đến hạ lưu (đến xã Liên Trạch). Ngược lại, diện tích rừng trồng ở khu vực này, đa phần có xu hướng tăng tuy nhiên diện tích tăng không lớn.
Giảm diện tích rừng tự nhiên do nhầm lẫn trạng thái rừng trong quá trình kiểm kê rừng năm 2020. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, diện tích này chủ yếu là đất sản xuất nương rẫy theo hình thức du canh tại xã Thượng Trạch, sau 3-5 năm luân canh sẽ có rừng tre nứa, cây tái sinh mọc lên đảm bảo tiêu chí thành rừng. Nếu như để diện tích này vào diện tích rừng tự nhiên thì khi người dân đến chu kỳ tái sử dụng làm nương rẫy sẽ dẫn đến mất rừng, vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng. Nếu quản lý hoàn toàn diện tích này, không để người dân phát rẫy sẽ dẫn đến người dân không có đất sản xuất, gây khó khăn cho vấn đề sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số và đảm bảo an ninh biên giới. Năm 2022, nhiều khu vực người dân xã Thượng Trạch đã tái sử dụng để sản xuất nương rẫy, do đó Hạt Kiểm lâm Bố Trạch chủ động rà soát, bóc tách diện tích này về trạng thái đất trống.
Ở hai xã hạ lưu LVS Son là xã Mỹ Trạch, huyện Bố Trạch và xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, diện tích có rừng có xu hướng tăng chủ yếu là do tăng diện tích rừng trồng. Điều này là do, ở LVS Son công tác trồng và bảo vệ rừng luôn được chính quyền và người dân địa phương chú trọng.
Theo Báo cáo Đánh giá sơ bộ tác động lên hệ thuỷ văn phụ lục sông Son của Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, hiện tượng mất rừng ở vùng đệm VQG trong khu vực phụ lưu sông Son nhìn chung có xu hướng tăng trong giai đoạn 2020 – 2024. Điều này cùng trùng hợp với thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại trong khu vực phụ lưu sông Son, cụ thể: tại khu vực xã Tân Trạch và Thượng Trạch tình trạng phát rừng làm nương rẫy gia tăng trong thời gian gần đây.

3.3. Nguyên nhân
Tài nguyên rừng tại lưu vực sông Son chịu tác động tổng hợp của cả các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó con người và các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội được xác định là những nguyên nhân chính và có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
(1) Tác động của các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch có liên quan
Ngày 29/12/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình đến năm 2030 theo Quyết định số 2128/QĐ-TTg. Định hướng đẩy mạnh phát triển du lịch tại khu vực vùng đệm của Phong Nha – Kẻ Bàng đã làm gia tăng nhu cầu đầu tư xây dựng các dự án dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và phát triển đô thị, đặc biệt tại thị trấn Phong Nha, khu vực Tróoc, hai bên sông Chày, dọc tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây và nhánh Đông. Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phục vụ phát triển du lịch và đô thị đã ảnh hưởng trực tiếp đến diện tích thảm phủ thực vật, bao gồm cả thảm thực vật rừng và nông nghiệp, trong phạm vi lưu vực sông Son.
(2) Tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thiên tai như bão và lũ lụt. Tại các khu vực miền núi, sự thay đổi về chu kỳ nhiệt và nhiệt độ được xem là những tác nhân chính ảnh hưởng đến cấu trúc và phân bố của thảm phủ thực vật. Thảm thực vật rừng nhiệt đới có nguy cơ suy giảm diện tích do tình trạng thiếu nước kéo dài kết hợp với xu thế gia tăng nhiệt độ. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn tác động đến các thủy vực nội địa như sông, hồ và đầm lầy thông qua sự thay đổi về nhiệt độ nước, mực nước và lưu lượng dòng chảy. Đặc biệt, sự gia tăng tần suất và thời gian của các đợt lũ lớn và hạn hán kéo dài đã góp phần làm suy giảm diện tích thảm thực vật, bao gồm cả cây trồng nông nghiệp và lâm nghiệp trong lưu vực.
(3) Tác động của cháy rừng
Cháy rừng không chỉ gây tổn thất trực tiếp về diện tích rừng mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường sinh thái và đời sống kinh tế – xã hội. Đặc biệt, khi các đám cháy lớn xảy ra tại những khu rừng nguyên sinh, chỉ trong thời gian ngắn có thể làm mất đi hàng trăm héc-ta rừng có tuổi đời hàng chục đến hàng trăm năm, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng tài nguyên sinh học. Trong khi đó, quá trình tái sinh và phục hồi các hệ sinh thái rừng này đòi hỏi nguồn lực lớn và thời gian dài, tương ứng với chu kỳ sinh trưởng tự nhiên của rừng. Trong khu vực nghiên cứu, giai đoạn gần đây chỉ ghi nhận một vụ cháy rừng với diện tích 0,7 ha tại xã Lâm Trạch và hai vụ cháy nhỏ với diện tích không đáng kể tại xã Liên Trạch vào năm 2020. Tuy nhiên, nguy cơ cháy rừng vẫn ở mức cao do thảm thực vật chủ yếu là rừng trồng keo và thông – các loài cây dễ bắt lửa – kết hợp với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mùa khô kéo dài và các đợt gió Tây Nam khô nóng.
(4) Tác động của sự nghèo đói và gia tăng dân số
Gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân quan trọng gây áp lực lên tài nguyên thảm thực vật, đặc biệt là tài nguyên rừng. Dân số tăng kéo theo nhu cầu về lương thực, thực phẩm, đất ở và các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu khác, trong khi nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, ngày càng hạn hẹp. Điều này dẫn đến việc khai thác tài nguyên với cường độ cao hơn, đồng thời làm gia tăng lượng chất thải, gây ô nhiễm môi trường đất và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thảm thực vật. Bên cạnh đó, tình trạng nghèo đói của các cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng, đặc biệt tại các khu vực vùng đệm, đã thúc đẩy các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý như khai thác gỗ và các loài thực vật, qua đó góp phần làm gia tăng tình trạng mất rừng và suy giảm chất lượng rừng trong khu vực nghiên cứu.
4. KẾT LUẬN
Tài nguyên rừng tại lưu vực sông Son chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó, các hoạt động của con người và quá trình phát triển kinh tế – xã hội được xác định là nguyên nhân chính và có tác động nghiêm trọng nhất. Việc triển khai các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển, đặc biệt là Quy hoạch phát triển Khu du lịch quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đến năm 2030, đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ du lịch, đô thị và hạ tầng, qua đó làm suy giảm diện tích thảm phủ thực vật trong lưu vực.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thiên tai cực đoan như bão, lũ và hạn hán đã làm gia tăng áp lực lên hệ sinh thái rừng thông qua sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và chế độ dòng chảy. Mặc dù số vụ cháy rừng trong giai đoạn nghiên cứu không nhiều và diện tích thiệt hại không lớn, nguy cơ cháy rừng vẫn ở mức cao do đặc điểm thảm thực vật dễ cháy và điều kiện khí hậu khắc nghiệt.
Ngoài ra, gia tăng dân số và tình trạng nghèo đói của các cộng đồng dân cư sống gần rừng tiếp tục tạo áp lực khai thác tài nguyên, góp phần làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng. Các kết quả này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tổng hợp lưu vực và áp dụng các giải pháp bảo vệ, sử dụng bền vững tài nguyên rừng trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội và biến đổi khí hậu hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban chấp hành TW (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW về Chủ động ứng phó với Biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT đã thể hiện quan điểm, chủ trương nhất quán của Ban chấp hành Trung ương Đảng trong công tác BVMT, số 24-NQ/TW, ngày 03 tháng 6 năm 2013.
- Ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (2024), Báo cáo Đánh giá sơ bộ tác động lên hệ thuỷ văn phụ lục sông Son.
- Lê Văn Nghị (2017), Điều tra, khảo sát, nghiên cứu giải pháp thoát lũ, giảm ngập khu vực Phong Nha- Kẻ Bàng, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển - Viện khoa học thủy lợi Việt Nam.
- Phòng TNTĐ Quốc gia về động lực học sông biển (2017), Dự án điều tra, khảo sát, nghiên cứu giải pháp thoát lũ, giảm ngập khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng.
- UBND tỉnh Quảng Bình (2014), Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết thủy lợi LVS Roòn và vùng phụ cận đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định 277/QĐ-UBND ngày 27 tháng 1 năm 2014.
- UBND tỉnh Quảng Bình (2016), Quyết định Phê duyệt Kế hoạch chi tiết quản lý lũ lụt tổng hợp LVS Gianh và sông Nhật Lệ tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2016 - 2030, định hướng đến năm 2030, Quyết định 2961/QĐ-UBND ngày 28 tháng 9 năm 2016.
- UBND tỉnh Quảng Bình (2017), Báo cáo Quản lý các nguồn nước thải chính trên LVS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Báo cáo số 275/BC-UBND, ngày 29 tháng 11 năm 2017.
- UBND tỉnh Quảng Bình (2018), Quy hoạch chi tiết thủy lợi vùng nam sông Gianh và vùng phụ cận đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Quyết định 961/QĐ-UBND ngày 18 tháng 11 năm 2018.
- UBND tỉnh Quảng Bình (2021), Quyết định Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021 của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Quyết định 1282/QĐ-UBND ngày 10/5/2021.