Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: Hoàn thiện thể chế cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững

Tóm tắt

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020 trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và cải cách thể chế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở tổng kết quá trình thực thi Luật BVMT năm 2020, Dự thảo Luật tập trung vào bốn nhóm chính sách lớn gồm: Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; hoàn thiện hành lang pháp lý cho quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn (KTTH); tăng cường các công cụ quản lý chất lượng môi trường, nhất là môi trường không khí và môi trường nước; đồng thời tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Bài viết cũng làm rõ xu hướng chuyển từ tư duy “kiểm soát ô nhiễm” sang “quản trị rủi ro và kiến tạo phát triển”, coi BVMT là một trụ cột của phát triển bền vững (PTBV) và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Hoàn thiện thể chế môi trường; Luật Bảo vệ môi trường; chuyển đổi xanh; phát triển bền vững; kinh tế tuần hoàn; chuyển đổi số; quản trị môi trường.

Amending the 2020 Law on Environmental Protection: Perfecting the institutional framework for green transition and sustainable development

Abstract

The article analyzes the key contents of the Draft Law amending, supplementing a number of articles of the 2020 Law on Environmental Protection (EP) in the context of Vietnam accelerating green transition, digital transformation and institutional reform to meet the requirements of rapid, sustainable development and international integration. Based on the review of the implementation of the 2020 Law on EP, the Draft Law focuses on four major policy groups including: Reducing, simplifying administrative procedures (AP) and promoting decentralization, devolution of power; perfecting the legal framework for waste management towards a circular economy (CE); strengthening environmental quality management tools, especially the air and water environments; and simultaneously removing institutional "bottlenecks" to support socio-economic (SE) development. The article also clarifies the trend of shifting from the mindset of "pollution control" to "risk governance and development creation", considering EP as a pillar of sustainable development (SD) and enhancing national competitiveness in the new context.

Keywords: Environmental governance reform; Law on Environmental Protection; green transition; sustainable development; circular economy; digital transformation; environmental governance.

JEL Classifications: P18, P48, Q56.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật BVMT năm 2020

Luật BVMT năm 2020 là bước đột phá quan trọng trong hoàn thiện thể chế môi trường của Việt Nam, lần đầu tiên tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp, xuyên suốt vòng đời dự án, thúc đẩy KTTH, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và các công cụ kinh tế trong BVMT. Sau hơn 5 năm triển khai, Luật đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, từng bước kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và thúc đẩy PTBV. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển đất nước hiện nay đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong thời gian dài, cùng với sức ép từ các cam kết quốc tế về khí hậu, môi trường, phát thải các-bon và các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) đang đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về BVMT theo hướng hiện đại, linh hoạt và kiến tạo phát triển.

Trong tiến trình phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng về BVMT không ngừng được hoàn thiện. Nếu như trước đây BVMT chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên thì hiện nay môi trường đã được xác định là một trong những trụ cột của PTBV, là nguồn lực phát triển và là yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT; thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển KTTH, kinh tế các-bon thấp; lồng ghép các mục tiêu môi trường trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển. Cùng với đó, nhiều nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở chính trị mới cho việc hoàn thiện pháp luật về môi trường. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá cho phát triển đất nước; Nghị quyết số 59-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu gắn hội nhập quốc tế với thực hiện các cam kết về PTBV; Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định vai trò của các dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong phát triển kinh tế tư nhân. Đặc biệt, Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị đã xác định yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng chuyển từ tư duy “tiền kiểm”, yêu cầu “an toàn tuyệt đối” sang “chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát”. Đây là định hướng có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hoàn thiện pháp luật về BVMT trong giai đoạn mới.

Thực tiễn thi hành Luật BVMT năm 2020 cũng cho thấy một số quy định chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Trên cơ sở kết quả giám sát của Quốc hội, Nghị quyết số 247/2025/QH15 đã yêu cầu tổng kết toàn diện việc thực hiện Luật để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT năm 2020 là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm hoàn thiện thể chế môi trường theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch; thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; huy động nguồn lực xã hội cho BVMT; đồng thời tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững.

trang-10-1782899956.jpg
Việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT năm 2020 nhằm hoàn thiện thể chế môi trường theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch và thúc đẩy chuyển đổi xanh

2. Quan điểm và định hướng xây dựng Luật

Việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BVMT nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các quan điểm, chủ trương, đường lối mới của Đảng liên quan đến công tác BVMT, đặc biệt là tinh thần của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đồng thời, Luật hướng tới tiếp tục cải cách mạnh mẽ TTHC, nhất là trong lĩnh vực đánh giá tác động môi trường và cấp GPMT, bảo đảm kiểm soát hiệu quả các dự án, cơ sở có nguy cơ cao gây ô nhiễm nhưng vẫn đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy phát triển KT-XH.

Bên cạnh đó, việc sửa đổi Luật còn nhằm hoàn thiện nền tảng pháp lý cho chuyển đổi số trong quản lý môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, KTTH, với trọng tâm là xây dựng nền tảng số quản lý môi trường quốc gia, tích hợp dữ liệu quan trắc và kiểm kê phát thải; đồng thời hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải theo hướng coi chất thải là tài nguyên, tăng cường tái chế, tái sử dụng, giảm phát sinh chất thải và phát triển ngành công nghiệp môi trường. Cùng với đó, các quy định về quản lý chất lượng môi trường cũng được tiếp tục hoàn thiện theo hướng phòng ngừa sớm các nguồn gây ô nhiễm, tăng cường công tác dự báo, cảnh báo và công khai thông tin về chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường nước và môi trường không khí. Ngoài ra, việc sửa đổi Luật còn tiếp tục rà soát, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế để huy động và khơi thông các nguồn lực cho phát triển, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BVMT được thực hiện trên cơ sở tổng kết, đánh giá toàn diện quá trình triển khai thi hành Luật BVMT năm 2020, đồng thời kế thừa đầy đủ kết quả giám sát tối cao của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về BVMT trong năm 2025. Trên cơ sở đó, Luật tiếp tục kế thừa và phát huy các chính sách tiến bộ đã được khẳng định trong thực tiễn như phân loại dự án đầu tư theo tiêu chí môi trường; quản lý chất thải theo hướng thúc đẩy tái chế, tái sử dụng, phát triển kinh tế xanh và KTTH; bảo vệ chất lượng môi trường nước mặt và môi trường không khí thông qua phương thức quản lý tổng hợp trên cơ sở xây dựng kế hoạch quản lý ở cấp quốc gia và cấp tỉnh.

Đồng thời, việc sửa đổi Luật được thực hiện theo hướng tăng tính linh hoạt và khả thi của hệ thống pháp luật, trong đó Luật tập trung quy định các nguyên tắc, khung chính sách và những nội dung mang tính nền tảng, còn các vấn đề cụ thể, kỹ thuật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, ngành và địa phương sẽ được giao quy định chi tiết. Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật quán triệt quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển KT-XH với BVMT; thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, cải cách TTHC và tăng cường phân cấp, phân quyền, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát chặt chẽ môi trường, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế trước mắt.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị về “chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát”, Dự thảo Luật được thiết kế theo hướng quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tập trung kiểm soát chặt các dự án, cơ sở có nguy cơ tác động môi trường cao, đồng thời đơn giản hóa thủ tục đối với các hoạt động có nguy cơ thấp. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yêu cầu BVMT, vừa tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo, đầu tư và phát triển, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

3. Nội dung cơ bản của Dự thảo Luật

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 82/171 điều; bổ sung mới 02 điều (Điều 72a và Điều 139a) với 04 nhóm nội dung: (i) Cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương; (ii) Hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong quản lý chất thải và thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải, phát triển KTTH; (iii) Tăng cường các công cụ trong quản lý chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước; (iv) Tháo gỡ các điểm nghẽn để góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH, thực hiện mục tiêu tăng trưởng 02 con số. Cụ thể như sau:

3.1. Đơn giản hóa TTHC, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

a) Về thẩm định báo cáo ĐTM

Dự thảo Luật đã tập trung sửa đổi, cải cách mạnh mẽ công cụ về ĐTM để bảo đảm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhưng vẫn kiểm soát có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề môi trường ngay trong giai đoạn lập dự án đầu tư, cụ thể:

- Cắt giảm đối tượng phải ĐTM, chuyển sang thực hiện Đăng ký môi trường: Đơn giản hóa việc phân loại dự án (phân loại theo 03 nhóm: nhóm I (phải ĐTM chi tiết), nhóm II (thực hiện ĐTM đơn giản) và nhóm III (chỉ thực hiện đăng ký môi trường hoặc cấp GPMT trước khi triển khai) thay vì 04 nhóm như pháp luật hiện hành) và tiếp tục lược bỏ một số tiêu chí về yếu tố nhạy cảm môi trường trong phân loại dự án đầu tư như: khu dân cư tập trung; nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; yêu cầu di dân, tái định cư (ngoài tiêu chí có yêu cầu chuyển đổi đất trồng lúa 02 vụ đã được lược bỏ tại Luật số 146/2025/QH15); không thực hiện ĐTM đối với dự án trong khu, cụm công nghiệp, các dự án không thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, dự án có quy mô, công suất nhỏ và không có yếu tố nhạy cảm về môi trường. Đối tượng ĐTM sẽ tập trung vào các đối tượng có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao như làm giàu, chế biến khoáng sản độc hại; sản xuất giấy, hóa chất vô cơ, cơ bản; thuộc da; dệt nhuộm; khai thác dầu thô, khí đốt tự nhiên, lọc hóa dầu; nhiệt điện than; chế biến mủ cao su; sản xuất tinh bột sắn, bột ngọt...; dự án có sử dụng đất tại các khu bảo tồn thiên nhiên, dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên… Các đối tượng còn lại sẽ chỉ thực hiện thủ tục Đăng ký môi trường khoảng trên 90% tổng số dự án đầu tư.

- Đơn giản hóa quy trình thẩm định: Dự thảo Luật quy định 02 hình thức lập báo cáo và thẩm định, phê duyệt ĐTM theo mức nguy cơ tác động xấu đến môi trường của dự án, trong đó: dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao (nhóm I) do Bộ NN&MT thẩm định báo cáo ĐTM hoặc cấp GPMT theo quy trình đầy đủ; dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (nhóm II) do Chủ tịch UBND cấp tỉnh thẩm định báo cáo ĐTM hoặc cấp GPMT trong đó quy trình thẩm định báo cáo ĐTM chỉ dừng ở việc ban hành thông báo, không thực hiện thủ tục phê duyệt kết quả thẩm định; dự án không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (nhóm III) chỉ đăng ký môi trường trước khi triển khai thực hiện.

- Đẩy mạnh phân quyền cho địa phương: Dự thảo Luật tiếp tục đề xuất đẩy mạnh hơn nữa việc phân quyền cho địa phương thực hiện TTHC về môi trường, cụ thể: Bộ chỉ tập trung giải quyết cho các dự án lớn, có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều đối tượng (dự án hạ tầng KCN); dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; dự án có liên quan đến điều ước, công ước quốc tế mà Bộ được giao là cơ quan đầu mối thực hiện (thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại; nhập khẩu phế liệu) và một số dự án thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trong một số lĩnh vực khác để tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên thông giải quyết TTHC (lĩnh vực: khoáng sản, biển và hải đảo). Ước tính số lượng ĐTM được phân quyền cho địa phương lên đến 96% so với trước năm 2025.

b) Về thẩm định, cấp GPMT

- Cắt giảm đối tượng phải cấp GPMT: Dự thảo Luật bổ sung thêm đối tượng không phải có GPMT là các trụ sở làm việc của cơ quan thực hiện dịch vụ hành chính công; cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

- Đơn giản hóa quy trình cấp phép: Dự thảo Luật sửa đổi quy định về thẩm định cấp GPMT gồm 02 hình thức là theo trình tự, thủ tục rút gọn (đối với các dự án có tính chất và lưu lượng nước thải, khí thải xả ra môi trường ít có tác động xấu) và đầy đủ (đối với các dự án có tính chất và lưu lượng nước thải, khí thải xả ra môi trường có tác động xấu mức độ cao). Theo đó, các dự án có tính chất và lưu lượng nước thải, khí thải xả ra môi trường ít có tác động xấu, được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn (với hồ sơ, biểu mẫu đơn giản; thực hiện toàn bộ trên dịch vụ công không thành lập Hội đồng thẩm định, không tổ chức kiểm tra thực tế; thời gian thẩm định ngắn). Dự thảo phân quyền gần như toàn diện cho địa phương trong việc cấp GPMT, trong đó Bộ NN&MT chỉ thực hiện cấp phép đối với hai nhóm đối tượng gồm dự án xử lý chất thải nguy hại liên tỉnh và dự án nhập khẩu phế liệu, còn lại sẽ do địa phương thực hiện cấp phép và quản lý.

- Dự thảo Luật đã bãi bỏ quy định về vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải sau khi được cấp GPMT để giảm chi phí và thời gian tuân thủ cho doanh nghiệp trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 02 con số, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường kiểm tra, giám sát và áp dụng chế tài xử lý vi phạm. Đồng thời, doanh nghiệp được trao quyền chủ động nhưng phải chịu trách nhiệm toàn bộ về việc đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả thải và các yêu cầu về BVMT ngay từ khi bắt đầu vận hành, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý theo hướng thực chất.

c) Về một số nội dung khác

Dự thảo Luật tập trung cắt giảm và đơn giản hóa mạnh mẽ TTHC trong lĩnh vực môi trường. Theo đó, một số thủ tục được đề xuất bãi bỏ hoàn toàn như cấp lại GPMT, chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và thủ tục cấp đổi Nhãn sinh thái Việt Nam. Dự thảo Luật cũng đã cụ thể hóa các nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường để dễ thực hiện hơn, cụ thể hơn, qua đó cung cấp được thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, chấp thuận chủ trương đầu tư trong đó bao gồm thông tin về sự phù hợp của dự án đầu tư với yêu cầu về BVMT tại địa điểm đề xuất thực hiện dự án, tính khả thi và hiệu quả kinh tế của các biện pháp BVMT.

Bổ sung quy định khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội tham gia xây dựng, triển khai chương trình Nhãn sinh thái để xã hội hóa việc chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam; các sản phẩm, dịch vụ được chứng nhận nhãn sinh thái Việt Nam được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ theo quy định.

3.2. Về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong quản lý chất thải và thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải, phát triển KTTH

a) Về quản lý chất thải

- Về chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): Dự thảo Luật đưa ra 02 phương án xin ý kiến về nguyên tắc phân loại CTRSH. Cụ thể: Phương án 1 quy định nguyên tắc phân loại theo 3 nhóm như pháp luật hiện hành, bao gồm: chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng; chất thải thực phẩm; chất thải khác; Phương án 2 quy định nguyên tắc phân loại chỉ theo 2 nhóm theo mục đích tái chế, tái sử dụng, bao gồm: chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng và chất thải khác. Trên cơ sở nguyên tắc phân loại như nêu ở trên, dự thảo Luật giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định việc phân loại cụ thể CTRSH bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

- Về chất thải rắn công nghiệp: Dự thảo Luật bổ sung quy định cụ thể cho từng nhóm chất thải để quản lý phù hợp theo tính chất của chất thải để thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng. Theo đó, đã quy định rõ những loại chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho hoạt động sản xuất mà không phải tuân thủ theo các quy định về quản lý chất thải; những loại chất thải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; nhóm chất thải còn lại (khi sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho hoạt động sản xuất phải phù hợp với quy trình sản xuất và được nêu trong quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc GPMT hoặc đăng ký môi trường của dự án, cơ sở sử dụng). Điều này một mặt giúp thúc đẩy hoạt động sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thay thế, mặt khác đưa được ra những quy định rõ ràng để triển khai thực hiện đối với những nhóm chất thải mà nếu không quản lý tốt thì việc sử dụng này có khả năng gây ô nhiễm môi trường.

- Về nước thải: Dự thảo Luật quy định về xử lý, tái sử dụng nước thải xả vào lưu vực các sông nhằm bảo đảm đạt tỷ lệ 65-70% theo yêu cầu tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng theo hướng giao trách nhiệm cho các bộ, ngành ban hành quy chuẩn về tái sử dụng nước thải phục vụ cho hoạt động của ngành, lĩnh vực; quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật về thu gom, xử lý nước thải, bảo đảm mục tiêu tái sử dụng nước thải.

- Về khí thải: Dự thảo Luật lần này đã bổ sung quy định khuyến khích tuần hoàn hoặc tái sử dụng khí thải làm nguyên liệu, nhiên liệu cho quá trình sản xuất khác để phù hợp với thực hiện và thúc đẩy việc tuần hoàn, tái sử dụng khí thải.

- Về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu trong thu gom, xử lý chất thải, tái chế chất thải: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các quy định để thu thuế BVMT thay vì đóng góp tài chính vào quỹ BVMT đối với các sản phẩm, bao bì không có khả năng tái chế. Bổ sung các hình thức phù hợp để thực hiện trách nhiệm tái chế thay vì đóng góp tài chính nhằm thúc đẩy việc hình thành và phát triển hệ thống thu gom, tái chế sản phẩm bao bì thải bỏ tại Việt Nam.

b) Về chuyển đổi số trong quản lý chất thải

Dự thảo Luật bổ sung quy định về chuyển đổi số trong quản lý chất thải để kiểm soát và truy xuất việc sử dụng, tái chế, xử lý chất thải thông qua việc quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải và các tổ chức, cá nhân thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải có trách nhiệm cung cấp, cập nhật dữ liệu điện tử về chất thải vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường theo lộ trình do Chính phủ quy định để hướng tới việc quản lý, tái chế, xử lý chất thải theo hình thức trực tuyến (bao gồm cả chứng từ, biên bản giao nhận điện tử về chuyển giao chất thải). Sửa đổi, bổ sung các quy định về nền tảng số nhằm quản lý môi trường dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, liên thông giữa trung ương và địa phương; xây dựng hệ thống đăng ký phát thải và chuyển giao chất ô nhiễm môi trường. Cung cấp, cập nhật dữ liệu về chất thải.

c) Về thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, KTTH

Trong thời gian qua, Cục Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các nội dung có liên quan đến kinh tế xanh, KTTH trong Luật BVMT năm 2020 nhằm thể hiện rõ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trong Nghị quyết Đại hội XIV để thúc đẩy kinh tế xanh, KTTH. Theo đó, Dự thảo bổ sung quy định trách nhiệm hướng dẫn lồng ghép KTTH vào các chiến lược, quy hoạch phát triển; chính sách ưu đãi, hỗ trợ tổ chức, cá nhân có dự án đáp ứng “tiêu chí tuần hoàn”, có hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển hạ tầng tái chế. Bổ sung 01 Điều để định danh rõ các “Dự án xanh” (bao gồm các tiêu chí như giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu, tái chế chất thải...) nhằm tạo khung pháp lý nền tảng thống nhất.

3.3. Về quản lý chất lượng môi trường

Nội dung về quản lý chất lượng môi trường được rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định theo hướng đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan, khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành, tăng cường phân cấp, phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và nâng cao tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Cụ thể như sau:

a) Về trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh khi để xảy ra vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn

Bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc để xảy ra ô nhiễm trên địa bàn bảo đảm phù hợp với việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương theo chủ trương “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

b) Về BVMT nước mặt

Sửa đổi quy định về áp dụng kết quả đánh giá khả năng chịu tải của môi trường nước mặt trong việc áp dụng quy chuẩn xả nước thải theo hướng linh hoạt hơn, phân biệt trường hợp nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải đối với toàn bộ thông số với trường hợp chỉ không còn khả năng chịu tải đối với một số thông số nhất định. Nội dung này khắc phục bất cập của quy định hiện hành do chưa nêu rõ tiêu chí “hết khả năng chịu tải”, dẫn đến khó khăn trong thực thi vì thực tế việc đánh giá sức chịu tải được thực hiện theo từng thông số; từ đó tạo sự linh hoạt trong việc áp dụng quy chuẩn xả nước thải, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và BVMT.

c) Về BVMT không khí

Bổ sung quy định về dự báo ô nhiễm môi trường không khí bên cạnh quy định về cảnh báo đồng thời bổ sung, hoàn thiện trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong tổ chức biện pháp khẩn cấp và chịu trách nhiệm về chất lượng môi trường không khí trên địa bàn.

Bổ sung quy định nhằm tăng cường kiểm soát phát thải từ hoạt động giao thông, gồm quy định về biện pháp giám sát phát thải đối với một số loại phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu diesel có tải trọng lớn; bổ sung cơ sở pháp lý để địa phương, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu BVMT, xem xét áp dụng biện pháp điều tiết phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại một số khu vực, thời điểm.

d) Về BVMT đất

Sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý chất lượng môi trường đất theo hướng phân định rõ phạm vi điều tra, đánh giá chất lượng đất phục vụ quản lý nhà nước về đất đai với việc điều tra, đánh giá các điểm, khu vực có dấu hiệu ô nhiễm theo pháp luật về BVMT; đồng thời rà soát, điều chỉnh trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo hướng đẩy mạnh phân cấp cho địa phương, tăng cường công khai thông tin về các khu vực ô nhiễm và kết quả xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường đất.

đ) Về quan trắc môi trường

- Sửa đổi sẽ tập trung các điều khoản nguyên tắc trong hoạt động quan trắc môi trường như: yêu cầu phải áp dụng công nghệ quan trắc và truyền nhận dữ liệu tiên tiến, tối ưu nhất để ngăn chặn can thiệp; quy định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ cơ sở trong suốt vòng đời vận hành trạm quan trắc tự động, liên tục. Đổi mới phương thức quản lý từ trạng thái thụ động tiếp nhận sang chủ động kiểm soát, bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu môi trường quốc gia.

- Đối với các quy định tại Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT, các giải pháp kỹ thuật cụ thể sẽ được luật hóa, bao gồm: yêu cầu tăng tần suất kiểm tra thiết bị bằng chất chuẩn; giao quyền kiểm soát tài khoản tối cao của trạm cho Sở Nông nghiệp và Môi trường để giám sát cấu hình từ xa; bổ sung quy định theo hướng có sự hiện diện nhiều hơn nữa trong việc quản lý, vận hành trạm của doanh nghiệp và phải ứng dụng công nghệ để kiểm soát dữ liệu từ xa; bổ sung quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị kiểm định, hiệu chuẩn và quan trắc đối chứng trong việc phát hiện các dấu hiệu can thiệp dữ liệu thay vì chỉ kiểm tra tính năng thiết bị đơn thuần; đặc biệt, quy trình kiểm tra vận hành hệ thống quan trắc tự động sẽ được đưa vào nội dung bắt buộc trong mọi hoạt động thanh tra, kiểm tra môi trường định kỳ; bổ sung vào yêu cầu bắt buộc áp dụng các công nghệ truyền tin, quản lý dữ liệu tiên tiến, hiện đại nhằm tăng cường an ninh trong việc quản lý và truyền dữ liệu.

e) Về dự báo, cảnh báo ô nhiễm môi trường

Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn đang diễn biến phức tạp, Dự thảo Luật đã tập trung hoàn thiện các quy định nhằm chuyển dịch phương thức quản lý từ xử lý vấn đề khi đã xảy ra sang “dự báo để chủ động phòng ngừa”; bổ sung các cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số và công nghệ hiện đại. Hệ thống quản lý môi trường sẽ được vận hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, xây dựng nền tảng số quốc gia tích hợp dữ liệu quan trắc và kiểm kê phát thải liên thông từ Trung ương đến địa phương.

trang-14-1782900144.jpg
Luật BVMT năm 2020 phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương theo chủ trương "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" 3.4. Nhóm các nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội a) Về ứng phó với biến đổi khí hậu ↵

Sửa đổi, bổ sung quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) theo hướng tăng cường công tác quản lý phát thải và hiện đại hóa các công cụ điều hành. Phân cấp cho Bộ NN&MT ban hành tiêu chí đánh giá rủi ro và xác định dự án thích ứng. Chuyển dịch quản lý từ “giảm nhẹ” sang “quản lý phát thải khí nhà kính” để bao quát toàn diện chu kỳ từ kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải khí nhà kính đến thị trường các-bon. Quy trình kiểm kê được cải cách mạnh khi rút ngắn chu kỳ xuống thực hiện hằng năm (thay vì 02 năm/lần) và thực hiện trực tuyến, gắn liền với việc phân quyền cho UBND cấp tỉnh lập danh mục cơ sở phát thải trên địa bàn, đồng thời bổ sung trách nhiệm kiểm kê cấp tỉnh.

Về thực hiện mục tiêu theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), các Bộ quản lý ngành sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng định mức, trực tiếp phân bổ hạn ngạch và theo dõi mục tiêu đóng góp quốc gia. Về thị trường các-bon, để đảm bảo thị trường vận hành minh bạch, các cơ chế bình ổn giá, kết nối dữ liệu sàn giao dịch với hệ thống đăng ký quốc gia và quy định về trao đổi tín chỉ quốc tế đã được bổ sung chặt chẽ. Song song đó, công tác bảo vệ tầng ô-dôn được siết chặt bằng quy định cấm thải bỏ môi chất lạnh trực tiếp, buộc các nhà sản xuất thiết bị phải có trách nhiệm thu hồi và tái chế sản phẩm sau sử dụng. Để tạo động lực cho quá trình chuyển đổi xanh, các cơ chế ưu đãi về thuế, phí và hỗ trợ công nghệ làm mát bền vững được thiết lập, nhằm khuyến khích doanh nghiệp chủ động tham gia vào lộ trình đạt phát thải ròng bằng “0” của quốc gia.

b) Phát triển ngành công nghiệp môi trường

Bổ sung quy định loại hình “dịch vụ công nghiệp môi trường” trong dự thảo Luật nhằm bổ sung các chế định, khung pháp lý đặc thù cho ngành công nghiệp môi trường. Hoàn thiện chính sách thuế, ưu đãi đầu tư để khuyến khích sản xuất trong nước; hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp môi trường hoàn chỉnh; đảm bảo năng lực tự chủ về công nghệ, thiết bị, sản phẩm xử lý môi trường trong nước.

c) Về một số nội dung khác

 Điều chỉnh các quy định về quy chuẩn môi trường sát với loại hình công nghệ phù hợp (BAT) để có lộ trình áp dụng quy chuẩn cho phù hợp.

Sửa đổi thời điểm lập, trình và công bố báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia và cấp tỉnh. Việc sửa đổi là cần thiết do thực tiễn cho thấy thời điểm quy định hiện hành chưa phù hợp với tiến độ cập nhật chuỗi số liệu thống kê, số liệu quan trắc và báo cáo công tác BVMT của các bộ, ngành, địa phương; vì vậy cần điều chỉnh để bảo đảm báo cáo được xây dựng trên cơ sở thông tin đầy đủ hơn, nâng cao chất lượng phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành.

Hiện nay, Luật Chuyển giao công nghệ đã có quy định danh mục công nghệ cấm, hạn chế chuyển giao; Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có quy định về đánh giá, thẩm định và quản lý công nghệ, theo đó, dự thảo Luật đã bãi bỏ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành tiêu chí về công nghệ xử lý chất thải nguy hại. Việc bãi bỏ là phù hợp và cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh chồng chéo với quy định của pháp luật chuyên ngành nêu trên.

4. Kết luận

Việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT năm 2020 không chỉ nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi mà còn thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển và quản lý môi trường của Việt Nam. Dự thảo Luật đã cụ thể hóa nhiều chủ trương mới của Đảng về phát triển nhanh và bền vững, chuyển đổi xanh, KTTH, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân; đồng thời quán triệt yêu cầu chuyển từ quản lý theo hướng từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ “an toàn tuyệt đối” sang “chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát”, từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa và quản trị rủi ro.

Những nội dung sửa đổi này không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT mà còn tạo lập hành lang pháp lý thuận lợi cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và huy động các nguồn lực xã hội cho chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, khí hậu, phát thải các-bon và tiêu chuẩn ESG ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, việc hoàn thiện Luật BVMT được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng thể chế quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu PTBV trong giai đoạn mới.

Nguyễn Hưng Thịnh – Phó Cục trưởng

Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Đặt mua Tạp chí Môi trường