Banner trang chủ

Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: 5 năm nhìn lại

21/01/2026

    Suy ngẫm của TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông thôn (nay là Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường), khi nhìn lại một nhiệm kỳ đặc biệt của ngành Nông nghiệp và Môi trường.

    1.

    “Năm năm mới bấy nhiêu ngày

    Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều”.

    Hai câu thơ của Tố Hữu cứ ngân nga trong tôi khi nhìn lại 5 năm nỗ lực phấn đấu của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Là một điểm sáng nhất trong thành tựu của 40 năm đổi mới, có lẽ khỏi phải kể về tốc độ tăng trưởng GDP, về kỷ lục xuất khẩu, về tỷ lệ địa phương đạt nông thôn mới, hay mức độ giảm đói nghèo… như những bản báo cáo tổng kết định kỳ. Hãy cùng nhau chiêm nghiệm những dấu ấn đặc biệt và nét đặc thù của 5 năm đầy những biến động chưa từng có đối với nhà nông, doanh nhân và cán bộ của ngành thân thương.

    Tiễn biệt năm cũ trôi đi, chia tay với một nhiệm kỳ 5 năm 2021-2025, trong những điểm đáng tự hào nổi bật, phải kể đến sức vươn mạnh mẽ vào thị trường, sự kiên cường chống chịu khó khăn, khả năng uyển chuyển thích ứng trước biến động và năng lực thay đổi tư duy nhanh nhạy của toàn ngành. Chúng ta cũng không thể không nhắc tới những vấn đề phải tiếp tục vượt qua, ví dụ như những yếu kém cũ quá chậm sửa chữa, các thách thức mới xuất hiện nhanh, bối cảnh đang thay đổi hẳn... Còn câu chuyện thú vị nhất là những đề xuất ra giải pháp để cùng tiến bước vào tương lai, có lẽ xin khất sẽ bàn sang dịp xuân mới, cùng niềm vui nghênh đón một kỷ nguyên mới đang đến với dân tộc ta.

    5 năm qua nối tiếp nhau những cú sốc liên tục thử thách đất nước. Khởi đầu là đại dịch COVID-19, tiếp đó là hàng loạt dịch bệnh, thiên tai ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Chỉ riêng dịch tả lợn châu Phi bùng phát năm 2019 đã làm chết 20% tổng đàn lợn cả nước và cho đến hôm nay vẫn chưa thể kiểm soát triệt để, gây thiệt hại cho hàng triệu hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

    Những năm qua, thiên tai và khí hậu cực đoan đã gây thiệt hại nặng nề cho nông dân. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tính đến ngày 24/12/2025, thiên tai đã làm 468 người chết và mất tích, 741 người bị thương; hơn 4.100 ngôi nhà bị sập, cuốn trôi, gần 349.000 ngôi nhà khác bị hư hỏng, tốc mái; tổng thiệt hại kinh tế ước tính vượt 98.677 tỷ đồng. Bão lớn tàn phá nuôi trồng thủy sản, mưa lũ phá hủy nông thôn miền núi, xâm nhập mặn gây hại cây ăn quả và lúa màu Đồng bằng sông Cửu Long…

Vượt gian khó, lập kỳ tích (Ảnh: Lê Hoàng Vũ)

    Thế nhưng, tất cả những tàn phá của tự nhiên không đánh gục được người nông dân và doanh nhân Việt Nam. Trong những lúc giá vật tư đầu vào tăng vọt, những thời kỳ xe nông sản dồn ứ ở cửa khẩu biên giới, container "mắc nghẹn" trên bến cảng, lồng bè nuôi trồng thủy sản bị phá tan hoang, các làng bản ven sông suối bị cuốn phăng theo dòng nước lũ…, nông nghiệp vẫn kiên cường bám trụ sản xuất, đảm bảo đủ lương thực thực phẩm trong nước và xuất ra thế giới, kịp thời bù đắp cho thị trường nông sản đang rơi vào thiếu thốn.

    Nông thôn bình yên trở thành nơi cứu trợ cho hàng triệu người mất việc làm từ công nghiệp và đô thị về trú tránh qua thời kỳ khó khăn của đại dịch. Ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khẳng định khả năng đặc biệt kiên cường chống chịu khó khăn từ mọi phía.

    Bên cạnh tự nhiên, con người cũng tạo ra những thách thức to lớn. Hoa Kỳ và Trung Quốc vốn là hai thị trường nông lâm thủy sản lớn nhất và tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam, với thị phần lần lượt là 21,7% và 21,6% năm 2024. Tuy nhiên, đây cũng là 2 thị trường đầy thách thức.

    Trên cửa khẩu Lạng Sơn cuối năm 2021, tới 4.000-5.000 xe container ùn ứ, chủ yếu là trái cây tươi, phải đổ bỏ hoặc quay trở lại. Sầu riêng năm 2024 vừa tăng hơn 1 tỷ USD xuất khẩu so với năm 2023 thì vướng thông tin về “chất Vàng O”, dẫn đến hàng nghìn container ùn ứ ở kho và cửa khẩu vì không kịp có kết quả xét nghiệm.

    Tháng 4/2025, Việt Nam nhận được tin Mỹ sẽ áp dụng mức thuế 46%, thuộc top cao trên thế giới, sau đó là những điều chỉnh khó đoán định. Tiếp theo, Mỹ từ chối cấp công nhận tương đương cho 12 phương pháp đánh bắt cá Việt Nam, mở ra rủi ro cấm một số loại thủy sản. Trong khi đó, “thẻ vàng” IUU từ cuối 2017 vẫn chưa được thu hồi, kim ngạch xuất khẩu hải sản sang EU giảm tới 24%…

Nông nghiệp thịnh vượng, môi trường an lành (Ảnh: Lê Hoàng Vũ)

    Những khó khăn trên không phải là thử thách mới. Từ lâu, các nhà quản lý, người sản xuất và doanh nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế cũng như những hạn chế nội tại của chính mình để theo kịp các thay đổi chính sách toàn cầu.

    Sự phát triển của sầu riêng là một ví dụ điển hình cho năng lực thích ứng của Việt Nam. Sau khi vấp phải cảnh báo chất cấm tồn dư, cuối 2024 Việt Nam điều chỉnh quy trình canh tác tại vùng trồng và thiết lập quy trình kiểm soát sản phẩm tại các cơ sở đóng gói. Song song với đó, đến tháng 8/2025, cả nước đã cấp 9.207 mã số vùng trồng và 1.735 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu trái cây tươi, trao những "tấm hộ chiếu" cho nông sản Việt Nam đi vào các thị trường quốc tế chính ngạch.

    Sau 1 tuần tháo gỡ, các phòng xét nghiệm đã điều chỉnh hoạt động và đẩy nhanh tiến độ kiểm nghiệm, có trung tâm tăng công suất từ 70 lên 100 container/ngày. Tại các cửa khẩu biên giới, mỗi ngày có tới 300-400 xe sầu riêng được thông quan liên tục. Rõ ràng, nếu có chính sách và cơ chế đúng đắn, nông nghiệp Việt Nam có đủ khả năng để thích ứng nhanh với mọi biến đổi trong và ngoài nước.

    Thành công 5 năm qua nổi bật lên sức vươn vào thị trường mạnh mẽ của nông sản Việt. Ở trong nước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu số lượng và chất lượng với tốc độ tăng thu nhập 6,5% (2022-2024) của 100 triệu người, với tỷ lệ đô thị hóa 44% (2025). Ở ngoài nước, kim ngạch xuất khẩu đạt mốc 70 tỷ USD năm 2025, mở ra mục tiêu phấn đấu của ngành xuất khẩu 100 tỷ USD mà cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ước mơ năm xưa.

    Nhiều ví dụ rõ rệt về sức đi lên của Việt Nam trước yêu cầu thị trường như quả vải thiều. Trong dăm năm đồng bộ từ cải tiến hệ thống canh tác, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đến áp dụng công nghệ bảo quản và chế biến mới, cải thiện công tác quản lý vùng trồng, theo dõi xuất xứ hàng hóa, song song với xúc tiến thương mại, đàm phán quốc tế, món quà quê đã thành hàng quốc tế. Xuất khẩu năm 2025 gần gấp đôi 2024, tăng gấp 3,6 lần trên thị trường Trung Quốc, từ 2 đến 5 lần ở những thị trường mới cao cấp như Pháp, Mỹ, Australia, Canada và Anh.

    Nông nghiệp Việt Nam 5 năm qua đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quyết liệt về chất; từ bán hàng thô, từ tiêu dùng theo số lượng sang xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng có giá trị gia tăng cao. Nhờ rang xay và hòa tan, kim ngạch xuất khẩu cà phê vượt ngưỡng 8 tỷ USD, nhờ sầu riêng cấp đông và dừa chế biến, rau quả lập kỷ lục xuất khẩu hơn 8,5 tỷ USD.

    Có thể nói không ngoa, đối với ngành nông nghiệp Việt Nam, chỉ cần chỉ cho người nông dân một vật nuôi cây trồng có lời thì họ sẽ sản xuất thành hàng hóa, cứ chỉ cho doanh nhân một thị trường có nhu cầu thì họ sẽ đưa hàng hóa vào chiếm lĩnh.

    Hiện tại, thị trường xuất khẩu đang mở rộng. Chúng ta đã có 17 hiệp định thương mại tự do ký kết với hơn 60 nền kinh tế. Trong nước, khi mức sống quốc gia đã bước vào ngưỡng thu nhập trung bình cao, mỗi năm có khoảng 4 triệu người gia nhập tầng lớp trung lưu, tăng mạnh so với mức chỉ hơn 1 triệu người/năm của giai đoạn trước. Chúng ta đã chuyển mình thành công để chiếm lĩnh và phát triển thị trường mạnh mẽ đáng khích lệ.

    Trong 5 năm đầy biến động và thách thức vừa qua, thẳng thắn mà nói, nguồn vốn của Nhà nước và toàn xã hội dành cho ngành nông nghiệp không tăng trong khi các dòng tài nguyên cơ bản tiếp tục được rút ra khỏi địa bàn nông thôn để phục vụ công nghiệp hóa và đô thị hóa.

    Việc đổi mới luật lệ và chính sách trong thời gian đầu diễn ra chậm, trong thời gian gần đây cuộc cách mạng về tổ chức đã mở ra thời cơ mới nhưng vẫn đang trong thời gian khởi động, chuyển đổi đầy thách thức. Tất cả những nỗ lực nêu trên, chủ yếu đạt được là nhờ năng lực thay đổi tư duy nhanh nhạy của toàn ngành và cả nước. Trong đó, có vai trò quan trọng của "chính ủy ngành" Lê Minh Hoan và tiếp nối là các Bộ trưởng sau khi sáp nhập bộ (Đỗ Đức Duy và Trần Đức Thắng) cùng đội ngũ cán bộ quản lý trong toàn ngành và các bộ ngành trong Chính phủ, các cơ quan Đảng và Nhà nước.

TS Đặng Kim Sơn, chuyên gia chính sách Viện Nghiên cứu Thị trường và Thể chế nông nghiệp (Ảnh: Tùng Đinh)

    2.

    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đã xác định, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là trụ đỡ của nền kinh tế. Cùng với nhiều quyết sách lớn, nỗ lực của ngành và những dấu ấn truyền tải cảm hứng tư duy mới bền bỉ của ông Lê Minh Hoan đã góp phần đưa những khái niệm mới như nền kinh tế nông nghiệp, giá trị đa dạng, phát triển cộng đồng, hệ sinh thái thể chế… từng bước đi vào thực tế. Thay đổi tư duy, tạo nội lực chủ động của các chủ thể trong ngành đã trở thành sức mạnh mới cả ngành thời gian qua.

Ông Lê Minh Hoan thăm mô hình trồng lúa giảm phát thải ở đồng bằng sông Cửu Long (Ảnh: Lê Hoàng Vũ)

    Cuối năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 219 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 19, xác định rõ bên cạnh những thành tựu to lớn, nông nghiệp vẫn thiếu bền vững, năng lực cạnh tranh chưa cao, thu nhập nông dân còn thấp và chịu nhiều rủi ro… Điều đáng nói là nhiều nội dung của Nghị quyết 19 vẫn còn nguyên giá trị cần được đưa vào cuộc sống. Thậm chí, còn có nhiều vấn đề đã được chỉ ra từ Nghị quyết Trung ương 26 năm 2008 vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

    Muốn đưa Nông nghiệp và Môi trường bứt lên một giai đoạn phát triển mới, sánh vai được với kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc, trước hết phải kiên quyết rũ bỏ những yếu kém cũ, mà trọng tâm là: sản xuất quy mô nhỏ, tổ chức chậm đổi mới, đầu tư yếu, chính sách thiếu đột phá...

    Thời gian qua, hệ thống quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý thị trường thể hiện rõ sự tụt hậu so với thể chế thị trường hiện đại. Những bất cập và chồng chéo trong quản lý chuỗi giá trị, liên ngành và liên vùng đã bộc lộ rõ, làm suy giảm hiệu lực kiểm soát và ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín sản phẩm nông nghiệp.

    So với tốc độ tăng trưởng vũ bão của quy mô nền kinh tế, của chiều sâu công nghệ thì thể chế kinh tế ở cơ sở và tổ chức quản lý ở thượng tầng thay đổi quá chậm. Sự lệch pha này trước hết có thể kìm hãm khả năng đạt mức tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Về lâu dài, nó còn làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng xã hội và suy giảm tính tự chủ trong phân bổ phúc lợi, từ đó đẩy đất nước vào nguy cơ tụt hậu trong bối cảnh cạnh tranh và bảo vệ lợi ích quốc gia ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu.

    Cuộc cách mạng về tổ chức diễn ra gần đây ở đất nước ta là bước bứt phá đầu tiên theo hướng tái lập cân bằng giữa sức lớn của kinh tế và sức mạnh của thể chế. Trong ngành nông nghiệp, đổi mới thể chế cần được tiến hành từ cấp quản lý đến hệ thống sản xuất, sinh thái kinh doanh và cả ở cộng đồng nông thôn.

Ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp (Ảnh: Lê Hoàng Vũ)

    Trong khi tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc cũ đã cản trở sức lớn của kinh tế xã hội đất nước trong thời gian qua, chúng ta phải kịp thời thích ứng với các thách thức và cơ hội mới đang xuất hiện rất nhanh trong bối cảnh mới. Thực sự, ngành kinh tế nông nghiệp, xã hội nông thôn và môi trường tự nhiên đất nước đã hoàn toàn khác, không chỉ so với thế kỷ trước mà thậm chí vài thập kỷ trước.

    Bão lũ không còn đợi theo mùa, cùng với đường đi khó dự báo. Siêu bão có thể gặp hằng năm, mưa lũ có khi tàn phá còn hơn bão lớn. Châu thổ Nam Bộ sụt lún hằng năm, miền Trung liên tục chịu lũ quét… Dịch bệnh diễn ra thường xuyên, gây hại cả vật nuôi, động vật tự nhiên và con người…

    Các mối quan hệ quốc tế phải chiếu theo lợi ích cân bằng dân tộc, các thể chế điều chỉnh toàn cầu phải tính đến sự đóng góp đồng đều các quốc gia, sự an toàn và phúc lợi của từng đất nước hoàn toàn tùy thuộc vào vị thế giàu mạnh của chính họ. Biến đổi gen và lai tạo thông thường đang nhường chỗ cho công nghệ chỉnh sửa gen. Tự động hóa đã thay cơ giới hóa trên đồng ruộng, cùng với số hóa đang mở rộng quy mô trang trại lên hàng vạn ha. Trí tuệ nhân tạo và khả năng chi phối thị trường đang gom người sản xuất gắn bó hoàn toàn vào các tập đoàn chế biến và bán lẻ toàn cầu…

    Việt Nam đã giảm bớt 4 Bộ, giảm 46% số tỉnh, 100% huyện, 66% số xã. Hệ thống quản lý hôm nay đã làm việc hoàn toàn khác với các năm trước. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang phải nhanh chóng thích nghi vì sống trong môi trường phát triển hoàn toàn khác.

    3.

    “Tam nông” thời gian qua đã khẳng định vai trò trụ đỡ đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai. Đến nay, vai trò của “tam nông” đã được xác định rõ như một lợi thế quốc gia trong xuất khẩu nông sản, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và bổ sung nguồn lao động cho khu vực dịch vụ. Nhờ đó, trong cả giai đoạn khó khăn lẫn khi nền kinh tế tăng trưởng, đất nước đều có thể dựa vào khu vực này như một điểm tựa quan trọng.

    Đây là điều kiện đặc biệt mà ít nước trên thế giới có được, nhất là trong bối cảnh dân số thế giới tăng mạnh và già đi nhanh chóng, tài nguyên đi đến giới hạn và biến đổi khí hậu tăng tốc. Lợi thế về nông nghiệp sẽ đem lại sức mạnh kinh tế, trực tiếp thúc đẩy phát triển đất nước và ổn định xã hội quốc gia, đồng thời tạo ra sức mạnh mềm cho dân tộc.

Đầu tư cho nông nghiệp và môi trường là đầu tư cho nền tảng vững chắc trong mục tiêu tăng trưởng hai con số (Ảnh: Hoàng Anh)

    Trong làn sóng công nghiệp hóa của hơn 30 quốc gia đầu tiên từ thế kỷ 19, “tam nông” là đối tượng đầu tiên bị hi sinh. Trong làn sóng thứ hai của 5-7 quốc gia thành công trong thế kỷ 20, phát triển bao trùm không bỏ ai là nguyên tắc. Ở thế kỷ 21, những đất nước có thể trở thành giàu mạnh phải phát huy được lợi thế của mình.

    Xưa nay, ai cũng nghĩ rằng muốn tăng trưởng hai con số thì chỉ có thể dựa vào công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, những quốc gia có lợi thế trên thế giới như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan, Israel,… đã ưu tiên phát triển để biến nông nghiệp thành ngành thúc đẩy công nghiệp hóa. Hàn Quốc tạo ra kỳ tích nâng thu nhập nông dân lên bằng cư dân đô thị và Trung Quốc hiện nay đang ưu tiên đầu tư để nông nghiệp nông thôn phát triển song hành với toàn nền kinh tế.

    Trong nhiều thập kỷ qua, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp liên tục suy giảm, khiến ngành chỉ duy trì được mức tăng trưởng khoảng 3,5%/năm một cách rất khó khăn. Nếu được ưu tiên đúng mức và có những đột phá về tổ chức, công nghệ và chính sách, nông nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đạt tốc độ 4-5%/năm, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng cao của toàn nền kinh tế.

TS. Đặng Kim Sơn (Theo nongnghiepmoitruong)

Ý kiến của bạn