Phân tích kinh tế và tài chính của thực hành sản xuất lúa phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long

Sáng ngày 24/4/2026, tại Hà Nội, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội thảo “Phân tích kinh tế và tài chính của thực hành sản xuất lúa phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long”. Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường Trần Công Thắng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo còn có các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các cơ quan Trung ương, địa phương và các tổ chức quốc tế.

Trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực trồng trọt nói riêng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng xanh, bền vững và phát thải thấp. Đây không chỉ là trách nhiệm thực hiện các cam kết quốc tế mà còn là cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Đặc biệt, ngành lúa gạo - một trong những ngành hàng chủ lực của Việt Nam - đang chịu áp lực ngày càng lớn từ xu hướng tiêu dùng và thương mại quốc tế, trong đó các tiêu chí về phát thải các-bon thấp, sản xuất bền vững và khả năng truy xuất nguồn gốc ngày càng trở nên quan trọng. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có những thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất, tổ chức chuỗi giá trị và cơ chế chính sách hỗ trợ

sth-1777030671.jpg
Viện trưởng Trần Công Thắng phát biểu khai mạc Hội thảo

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Viện trưởng Trần Công Thắng cho biết, trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai nhiều chương trình, đề án trọng điểm nhằm thúc đẩy chuyển đổi sản xuất lúa theo hướng bền vững và phát thải thấp. Tiêu biểu là Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, được phê duyệt theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, trong hai năm vừa qua, các tổ chức trong nước và quốc tế, trong đó có Ngân hàng Thế giới (WB) đã có những đóng góp, hỗ trợ kỹ thuật quan trọng cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc thiết kế và xây dựng các nền tảng then chốt cho chương trình chuyển đổi ngành lúa gạo. Những hỗ trợ này bao gồm việc cung cấp tư vấn kỹ thuật, xây dựng các công cụ phân tích kinh tế - tài chính, cũng như đề xuất các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất lúa phát thải thấp theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Đây là những tiền đề quan trọng giúp Việt Nam từng bước triển khai thành công các mục tiêu của Đề án.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa các mục tiêu này, cần có những bằng chứng khoa học và thực tiễn rõ ràng hơn về hiệu quả kinh tế - tài chính của các thực hành canh tác lúa phát thải thấp, cũng như những điều kiện cần thiết để nhân rộng các mô hình này trên thực tế. Dưới sự hỗ trợ của WB, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường đã tiến hành khảo sát về Hiệu quả tài chính và kinh tế của sản xuất lúa gạo theo quy trình bền vững trong Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT), Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Chia sẻ về vấn đề này, chuyên gia kinh tế nông nghiệp cao cấp của WB Li Guo nhấn mạnh, hiện nay, WB đang hỗ trợ Chính phủ cũng như Bộ Nông nghiệp và Môi trường tư vấn chính sách, kỹ thuật, nhu cầu thị trường, phân tích tài chính, kinh tế nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh tại Việt Nam. Cụ thể, tại đồng bằng sông Cửu Long, WB đang hỗ trợ Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Trong thời gian tới, WB sẽ tăng cường các hoạt động để giúp cơ quan quản lý nhà nước đưa ra nhiều chính sách hiệu quả thúc đẩy sản xuất lúa phát thải thấp...

z7758893753444-8d1ac3638b6cb31da4f9e0283568fdb4-1777023823.jpg
Toàn cảnh Hội thảo

Tại Hội thảo, các đại biểu đã chia sẻ, thảo luận về những kết quả khảo sát hộ nông dân và phân tích kinh tế - tài chính đối với các thực hành sản xuất lúa phát thải thấp; Kinh nghiệm quốc tế trong sản xuất lúa phát thải thấp; Những thuận lợi, khó khăn của một số địa phương khi tham gia Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”; Qua đó đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang sản xuất lúa phát thải thấp tại vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.
TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện và tăng cường các cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của hợp tác xã trong chuỗi giá trị lúa gạo. Mặc dù các hợp tác xã đã có những bước tiến đáng kể nhờ sự hỗ trợ từ dự án VnSAT, song cần tiếp tục nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của hợp tác xã, đặc biệt trong cung cấp dịch vụ kỹ thuật, đầu vào sản xuất và tăng cường liên kết thị trường. Để tạo động lực chuyển đổi bền vững sang sản xuất lúa phát thải thấp, cần làm rõ và thúc đẩy vai trò của khu vực doanh nghiệp, đồng thời phát huy hiệu quả sự tham gia của các hiệp hội ngành hàng lúa gạo. Các chủ thể này có vai trò then chốt trong công tác truyền thông, vận động, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm lúa gạo phát thải thấp, qua đó góp phần gia tăng giá trị sản phẩm, nâng cao giá xuất khẩu và quảng bá hình ảnh vùng sản xuất lúa gạo phát thải thấp của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo PGS. TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO), vấn đề bảo vệ thương hiệu gạo phát thải thấp và đề xuất định hướng mở rộng nghiên cứu để hạch toán đầy đủ các chi phí cho sản xuất lúa gạo, đặc biệt là chi phí liên quan đến tài nguyên, môi trường. Bên cạnh đó, các chuyên gia, đại biểu tham dự cũng thảo luận về các khó khăn trong thu gom và xử lý rơm rạ, năng lực quản trị hợp tác xã, cơ sở hạ tầng, tín dụng cho hộ dân cũng như chứng nhận “gạo phát thải thấp” còn vướng mắc. Các chuyên gia nhấn mạnh cần tăng cường ứng dụng công nghệ, phát triển chuỗi giá trị và thị trường (bao gồm tín chỉ carbon), đồng thời nâng cao vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và hợp tác xã để đảm bảo hiệu quả của đề án trong dài hạn.

Vũ Nhung

Đặt mua Tạp chí Môi trường