Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới nhóm giáp xác ở vùng biển ven bờ Bạc Liêu
Tóm tắt
Dữ liệu tổng hợp từ nguồn vệ tinh, các trạm quan trắc và thực đo trong 10 năm (2010 - 2019) về các thông số môi trường như nhiệt độ tầng mặt nước biển (SST), độ muối tầng mặt (SSS), mực nước biển (SSH), nồng độ Chlorophyll-a (CHL), lượng mưa và các thành phần dòng chảy (uo, vo). Cùng với nguồn dữ liệu về nguồn lợi giáp xác (nhóm tôm, cua và ghẹ) từ 12 chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy cá và lưới kéo đáy tôm của Viện Nghiên cứu Hải sản. Nghiên cứu sử dụng phân tích thành phần chính (PCoA) và mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát (GAMs) để đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố này. Kết quả phân tích PCoA cho thấy, cấu trúc quần xã giáp xác biến động theo các gradient môi trường. Nhóm loài ở vùng biển ven bờ gắn liền với nhiệt độ cao, lượng mưa nhiều, độ muối giảm và nồng độ Chlorophyll-a tăng, trong khi nhóm loài ngoài khơi lại đặc trưng bởi chế độ nhiệt và muối ổn định. Trong đó, SST là yếu tố chi phối chính. Các yếu tố khác như SSS, lượng mưa, CHL, dòng chảy và SSH cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cấu trúc quần xã và sự phân bố của nguồn lợi. Nghiên cứu kết luận rằng nguồn lợi giáp xác ở vùng biển ven bờ Bạc Liêu chịu ảnh hưởng rõ rệt của ENSO với độ trễ khoảng 6 tháng, đồng thời chịu tác động kép của cả khí hậu và hoạt động khai thác.
Từ khóa
Biến đổi khí hậu
nhóm giáp xác
vùng biển Bạc Liêu
Tài liệu tham khảo
- Marissa D. McMahan, Diane F. Cowan, Yong Chen, Graham D. Sherwood & Jonathan H. Grabowski (2016), “Growth of juvenile American lobster Homarus americanus in a changing environment”, Marine Ecology Progress Series, Vol. 557: 177-187.
- Nguyễn Viết Nghĩa (2021), “Đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ và các rủi ro sinh thái của một số nghề khai thác chủ yếu ở biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Hải sản.
- Nguyễn Toàn Thắng, Đỗ Quang Hưng, Trần Thị Thu Trang & Phạm Thúy Hạnh (2021), “Đánh giá nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu đến một số khu vực của Việt Nam và triển khai các hoạt động thích ứng”, Tạp chí Môi trường, Số 8/2021.
- Van M.V., Tuan N.A., Dinh T.D. & Hung H.P. (2010), “Species composition and characteristics of fish and shrimp fauna distributed in the coastal area of Soc Trang - Bac Lieu”, Can Tho University Scientific Journal, 15a: 232-240.
- Wood S. N. (2017), Generalized additive models: An introduction with R (2nd ed.).
- Wood S. N. (2011), “Fast stable restricted maximum likelihood and marginal likelihood estimation of semiparametric generalized linear models”, Journal of the Royal Statistical Society, Series B (Statistical Methodology), 73(1), 3-36.
- Zuur A. F., Ieno E. N., Walker N. J., Saveliev A. A. & Smith G. M. (2009), Mixed effects models and extensions in ecology, R. Springer.
- Salazar J. O., Arreguín-Sánchez F. & Zetina-Rejón M. J. (2021), “Standardization of catch-per-unit-effort (CPUE) data in small-scale fisheries using generalized additive models”, Latin American Journal of Aquatic Research, 49(4), 623-635.
- Burnham K. P. & Anderson D. R. (2002), Model selection and multimodel inference: A practical information-theoretic approach (2nd ed.), Springer.
- Perry A. L., Low P. J., Ellis J. R. & Reynolds J. D. (2005), “Climate change and distribution shifts in marine fishes”, Science, 308(5730), 1912-1915.
- Dulvy N. K., Rogers S. I., Jennings S., Stelzenmüller V., Dye S. R. & Skjoldal H. R. (2008), “Climate change and deepening of the North Sea fish assemblage: A biotic indicator of warming seas”, Journal of Applied Ecology, 45(4), 1029-1039.
- Cheung W. W. L., Watson R. & Pauly D. (2013), “Signature of ocean warming in global fisheries catch”, Nature, 497(7449), 365-368.
- Pörtner H. O. & Peck M. A. (2010), “Climate change effects on fishes and fisheries: Towards a cause-and-effect understanding”, Journal of Fish Biology, 77(8), 1745-1779.
- Longhurst A. & Pauly D. (1987), Ecology of tropical oceans, Academic Press.
- Tran V. H., Nguyen M. T. & Le Q. T. (2024), “Salinity intrusion and its impacts on coastal ecosystems in the Mekong Delta”, Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 24(2), 55-70.
Các bài viết khác trong số này
- Ứng dụng GIS và thuật toán tối ưu trong xây dựng mạng lưới quan trắc không khí tỉnh Cà Mau Trang 013-019
- Đánh giá rủi ro hạn hán tổng hợp cho lưu vực sông Ba, Việt Nam Trang 020-028
- Mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại khu vực Tây Bắc bộ: Thực tiễn và giải pháp nhân rộng Trang 029-037
- Xây dựng bản đồ cảnh báo sạt lở đất theo thời gian thực cho tỉnh Lào Cai sử dụng các nguồn dữ liệu mở và công nghệ học máy Trang 038-047
- Tiếp cận tính GDP xanh loại 2 cho Việt Nam dự trên hệ thống hạch toán hệ sinh thái (SEEA EA) thông qua tích hợp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) Trang 048-056
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước hồ Tiên Nga (Thành phố Hải Phòng) bằng cây bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius L.) Trang 057-063
- Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt quy mô cụm dân cư đáp ứng cá tiêu chí bảo vệ môi trường nông thôn mới tại xã Mai Châu, Phú Thọ Trang 064-070
- Đề xuất nghiên cứu sử dụng vỏ hàu trong xử lý nước thải chế biến thủy sản Trang 071-077